Tóm lược về Triết học Hiện sinh - Trần Thái Đỉnh
Đây là bản tóm lược cá nhân cuốn Triết học HIện sinh của Trần Thái Đỉnh
Đây là bản tóm lược cá nhân cuốn Triết học Hiện sinh của Trần Thái Đình.

- Triết học cổ điển: triết học về thiên nhiên.
- Triết học hiện sinh: triết học về con người.
- Đề tài:
+ Chủ thể tính ( Vì con người là chủ thể, cho nên mỗi tiếp xúc của ta với sự vật đều là những phản ứng, và trong phản ứng đó ta có phần chủ động. Tóm lại chủ thể tính làm cho ta tỉnh ngộ, tự nhận là một nhân vị tự do, có quyền và có nhiệm vụ nhận xét giá trị của mỗi sự vật và mỗi tha nhân mà ta tiếp xúc với. Triết học về thiên nhiên làm chúng ta quên con người và chỗ đứng của mỗi người trong xã hội, trái lại chủ đích của triết hiện sinh là làm cho mỗi người ý thức và ý thức một cách bi đát về địa vị làm người của mình, đồng thời triết hiện sinh nhắc cho ta biết nếu ta thụ động, ta sẽ bán rẻ thiên chức làm người của ta và như vậy chúng ta sẽ rơi xuống hàng sự vật.)
+ Tự do tính ( Người ngang tàng là người không chịu đựng trong hàng ngũ của quần chúng vô danh. Người hiện sinh là người ngang tàng, vì họ ý thức rằng mỗi người là một kỳ diệu của Thượng đế, mỗi con người là một cái gì độc đáo. Độc đáo là một trong những đề tài lớn của triết hiện sinh.Nói đến những khả năng của mỗi người là nói đến tự quyết nói đến trách nhiệm, và nói đến tự do. Tóm lại, trong khi sinh hoạt tự do, chúng ta vừa gặp hai loại người hèn kém. Loại thứ nhất là loại người vô trách nhiệm: Hoặc họ làm ẩu, cho nên cố tình chối bỏ hành động của mình như con mèo đối với hành động của nó trong đống tro, hoặc họ làm một cách vô ý thức, cho nên làm xong là quên tất cả hành động của mình. Đó là loại người vô nhân cách. Loại thứ hai, loại người có tâm hồn ỷ lại, luôn luôn sống như “người ta”: Họ có thể có lương tâm, làm việc chu đáo, nhưng họ hành động một cách máy móc: Họ làm vì phải làm như thế, vì người ta làm như thế cả; công việc của họ sẽ được trả bằng tiền, và đó là tất cả nguyện vọng của họ; không bao giờ họ nghĩ rằng hành động của con người phải thăng tiến con người, nhất là không bao giờ họ nghĩ rằng chúng ta phải để con dấu nhân cách trên mỗi hành động. )
KẾT LUẬN. Triết hiện sinh là triết dạy ta suy nghĩ về thân phận làm người. Văn của triết hiện sinh là văn mô tả - đôi khi tả chân quá - nhưng chủ ý của họ không phải gì khác cho bằng vạch cho ta thấy vẻ buồn nôn của con người tầm thường, hòng thức tỉnh con người chỗi dậy, bỏ cách sống của sự vật để khai mạc một đời sống nhân vị, nhân vị cao cả của con người tự do.
- Phạm trù:
+ Buồn nôn (Ý thức sâu xa về tính chất phi lý và vẻ buồn nôn của cuộc đời vô nhân vị: Đó là bước đầu trên con đường hối cải của triết gia hiện sinh. Buồn nôn làm cho chúng ta vùng dậy, bỏ trạng thái sự vật để vươn lên tới thiên chức làm những nhân vị tự do và tự trách nhiệm.)
+ Phóng thể (Đó là bộ mặt của phóng thể. Hai bộ mặt tổng quát: phóng thể duy tâm, phóng thể duy vật). Trong thực tế, phóng thể mặc nhiều hình thức khác nhau, nhưng chung quy đều có một hậu quả khốc hại cho con người: Phóng thể làm cho con người sống yên hàn trong tình trạng sự vật sự vật của gia đình, sự vật của nhóm, của đảng, của toàn thể, của tôn giáo an nhàn. Phóng thể là tội nguyên tố, là căn nguyên cuộc sống tầm thường và buồn nôn của đa số con người ta.)
+ Ưu tư (ưu tư là vẻ đặc sắc của một cuộc hiện sinh đã tự ý thức, muốn dứt mình ra khỏi cảnh sống thừa, sống an nhàn của sự vật và của những con người phóng thể. Cho nên ưu tư là sức chuyển động, là những cái cựa mình để vươn lên. Cho nên có thể coi yếu tính của ưu tư là: Xao xuyến, cựa mình để lượn lên và không bao giờ cam chịu nằm lỳ ở trạng thái an cư của một sự vật.)
+ Tự quyết (Tất nhiên mỗi tự quyết đều là tự tuyển, cho nên tính chất liều đây chỉ là chỗ vượt quá luận lý mà thôi, không thể là thiếu suy nghĩ. Con người hiện sinh ưu tư về định mệnh của mình và ưu tư tìm cách phát triển nhân cách của mình tới mức toàn hảo, cho nên tự quyết luôn luôn mang nặng những suy nghĩ và ưu tư.)
+ Vươn lên (sinh hoạt của hiện sinh trung thực là một sinh hoạt căng thẳng, luôn luôn buộc mình tiến lên, vươn lên.)
+ Độc đáo (Một khi đã ý thức sâu xa về tính chất độc đáo hiện sinh của mình, con người tự cảm thấy cô đơn: Chính tôi sẽ chết cái chết của tôi, không ai chết giúp tôi được; vậy thì cũng chính tôi phải sống cuộc sống độc đáo của tôi, đừng để người ta sống mất cuộc sống đó, nghĩa là tôi đừng sống theo đuôi “người ta”. Khi nào tôi đảm nhiệm lấy cô đơn, đó chính là lúc tôi dám làm người có nhân vị độc đáo: Khi đó tôi sẽ dám phát huy tất cả những khả năng riêng biệt của tôi theo những đường lối chỉ tôi có, nên chỉ mình tôi biết phải khai thác thế nào để có thể đạt tới mức toàn thiện.)
TỔNG KẾT. Nhìn qua ba loại phạm trù của ba giai đoạn triết học (cổ truyền, cổ điển và hiện đại), chúng ta thấy nổi bật lên ý nghĩa bi đát mà triết hiện sinh đã mặc cho triết học: Triết cổ truyền và cổ điển, vì trừu tượng, cho nên rất thanh bình, không tỏ ra một ưu tư nào về ý nghĩa cuộc nhân sinh và về định mệnh con người hết; trái lại triết hiện sinh đã hoàn toàn bỏ rơi vũ trụ để chỉ suy nghĩ về con người thôi: Trong quan điểm đó, Berdieaff đã thay mặt nhóm hiện sinh để định nghĩa triết học hiện sinh là triết học nhân vị: “Triết học hiện sinh là triết học nhân vị: Chủ thể tri thức là chính nhân vị con người”. Chủ đích của triết hiện sinh là thức tỉnh con người, lôi con người ra khỏi tình trạng phóng thể và giúp con người vươn lên mức sống của những nhân vị tự do và tự nhiệm. Cho nên chữ hiện sinh luôn luôn có nghĩa là: Hiện sinh trung thực (existence authentique). Mà hiện sinh trung thực là bỏ tình trạng sống như cây cỏ và sinh vật, để sống cuộc đời trách nhiệm của những nhân vị tự do.
- Phân ngành triết hiện sinh:
Chúng ta đã thấy hai ngành hiện sinh hiện ra rõ rệt:
+ Ngành hữu với Kierkegaard sẽ có tính cách xây dựng, và sẽ giữ vững niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa, với những rễ Pascal, Saint Bernard và Thánh Augustin, Socrate. Những đại diện đáng kể nhất hiện nay của ngành hữu là Jaspers (Triết học về hiện sinh - philosophie de l’existence hoặc triết học hiện sinh - philosophie existentielle) và Marcel (“Tân phái Socrate” - Néo-Socratisme).
+ Ngành tả là Nietzsche tỏ ra bạo tàn trong việc đả phá những truyền thống cố cựu, cả về tôn giáo, cả về tư tưởng, với những rễ Luther và Schopenhauer. Đại diện ngành tả là Sartre (hiện sinh chủ nghĩa - existentialisme) và Heidegger (“triết học hiện hữu” - philosophie existentiale).
Sự đối lập này hiện ra rõ lắm nơi hai ông tổ của mỗi ngành, Kierkegaard và Nietzsche. Kierkegaard suốt đời chỉ theo đuổi một việc là đạt tới mức cao nhất trong sinh hoạt tôn giáo, đến nỗi đối với ông, hiện sinh bao giờ cũng có nghĩa là hiện sinh trước nhan Thiên chúa: “Tôi chỉ thực sự là tôi khi tôi ở trước nhan Thiên chúa; tôi càng cảm thấy mình ở trước nhan Thiên chúa thì tôi càng “là tôi hơn”. Trái lại Nietzsche không những là con người tuyên bố: “Thiên chúa chết rồi”, ông còn hô hào con người phải giết chết Thiên chúa hòng tiến tới giai đoạn mà ông gọi là “thời kỳ của con người siêu nhân” (suthomme). - Tuy nhiên, thái độ đối lập này ngày nay càng hiện ra rõ hơn nơi những triết gia của mỗi ngành: Jaspers và Marcel đại diện cho ngành hữu. Heidegger và Sartre đại diện cho ngành tả. Thí dụ khi ta muốn đặt Jaspers lại gần Heidegger, chúng ta hầu như chỉ nhận thấy những điểm khác nhau. Và nếu ta sánh Marcel với Sartre, thì chúng ta lại càng thấy hai triết gia khác nhau quá, đến nỗi ta khó tưởng họ có thể giống nhau cái gì.
Họ đối lập nhau ở những điểm căn bản của triết hiện sinh: Con người và Thượng đế. Nói cách khác, họ chia rẽ nhau về hai chiều hướng của con người hiện sinh, chiều ngang và chiều dọc.
+ Chiều ngang: Họ có công nhận sự thông cảm với tha nhân chăng.
LIÊN CHỦ TÍNH. Liên chủ tính (intersubjectivité) là sự tôi công nhận tha nhân là chủ thể như tôi, và trong khi đó tha nhân cũng công nhận tôi là một chủ thể. Nói cách khác, chủ thể tính làm cho anh và tôi, chúng ta không coi nhau như những đối tượng hoàn toàn thụ động như khi chúng ta nhìn quyển sách hay cái nhà; khi tôi nhìn anh, thì tôi biết anh nhìn tôi, và như vậy chúng ta đồng thời là chủ thể cả hai.
+ Chiều dọc: Họ có công nhận và thông cảm với Thượng đế không. Siêu việt tính, mỗi ngành hiện sinh đã có một quan niệm khác hẳn nhau. Giáo sư Wahl đã đưa ra hai danh từ điển hình để diễn tả hai thứ siêu việt tính đó. Ông gọi siêu việt tính của Heidegger và của Sartre là viễn việt tính (proscendance; trans-proscendance) và dành chữ siêu việt tính (transcendancé, transascendance) cho triết học của Jaspers và Marcel.
++ Viễn việt tính là gì? Để dễ nhớ, chúng ta nên coi viễn việt tính là tính chất người siêu nhân của Nietzsche. Chữ siêu việt tính của ngành tả chỉ có nghĩa là con người luôn luôn phải tiến lên. Con người phải tự thắng, tự vượt mình. Vì thế Sartre luôn luôn nói đến dự phóng (pro-jet) và ông còn định nghĩa con người là: “con người là cái nó chưa là, và không phải cái mà nó đang là”. Các sách nhắc đi nhắc lại câu tuyên ngôn của Sartre về con người: “Con người phải hành động, và chính nhờ hành động mà tự tác thành lấy mình” (L’homme doit faire, et, en faisant, se faire). Như vậy siêu việt của Sartre chẳng qua chỉ là một viễn việt: Không và lên cao, nhưng chỉ đi xa hơn và xa hơn trên cùng một bình diện.
++ Siêu việt tính theo Jaspers thu gọn lại trong chữ “vượt lên” (transcender). Và đây là vượt lên thực, chớ không chỉ vượt xa ra. Có ba giai đoạn phải vượt lên như ba giai đoạn hiện sinh của Kierkegaard : Hiếu mỹ (esthétique), đạo đức (éthique) và tôn giáo (religieux). Thì cũng gần như thế, Jaspers chủ trương con người hiện sinh trung thực phải biết có ba cách thế hiện hữu: Làm sự vật, làm người hiện sinh, làm Thiên chúa. Con người phải mau mau bỏ cách sống lì lì của sự vật để thực hành cái nhảy thứ nhất, là nhảy tự chỗ làm sự vật lên tới chỗ làm người tự do. Nhưng như thế chưa đủ: Con người tự do còn phải vươn lên tới Thiên chúa, coi Ngài là chuẩn đích, là lý tưởng cho ta vươn tới.
Ngành hữu công nhận và đề cao sự thông hiệp với tha nhân, coi liên chủ tính (intersubjectivité) là một cách thể hiện sinh toàn hảo và thăng tiến con người; trái lại, ngành tả đề cao sự tranh đấu chống lại tha nhân để khỏi bị tha nhân biến ta thành sở hữu của họ, vì thế đại khái chủ trương của ngành tả đối với tha nhân là: “Tha nhân là địa ngục cho tôi”.
Về thái độ đối với siêu việt, hai ngành cũng chia rẽ nhau. Ngành hữu coi Thượng đế là lời mời gọi con người tiến lên, tiến mãi; hơn nữa, nếu không có Thiên chúa, thì con người sẽ như bị đặt áp mặt vào bức tường thành, không sao tiến thêm lên được nữa. Trái lại, ngành tả chủ trương phải gạt bỏ Thượng đế ra ngoài cuộc sống của con người, vì tôi tin vào Thượng đế là còn bị hạn chế, bị một Vị khác thưởng phạt mình; tóm lại, ngành tả cho rằng: Hễ còn tin vào Thượng đế, con người chưa hoàn toàn tự do, nên ngành này nhất thiết phủ nhận Thượng đế.
Sự đối lập không nguyên ở chỗ một bên vô thần và một bên hữu thần, những còn khác nhau rất nhiều ở quan niệm nhân bản: Ngành hữu mở rộng lòng ta đón nhận và thông cảm với tha nhân, còn ngành tả khép kín lại và không đặt một mối tương giao nhân đạo nào giữa con người và con người. Cho nên thay vì lấy chữ hữu thần và vô thần để phân biệt hai ngành hữu và tả, Mounier đã thẳng thắn gọi ngành hữu là hiện sinh chủ nghĩa (existentialisme) và gọi ngành tả là vô hiện sinh chủ nghĩa (inexistentialisme), Vô vì ngành tả không nhận liên chủ tính, không nhận siêu việt tính là hai chiều hướng hiện sinh có khả năng phát huy đời sống tinh thần của con người.
- Kierkegaard
Những đặc tính của đời sống tôn giáo gồm lại trong hai chữ độc đáo và tin yêu. Con người tôn giáo là con người đã vãn hồi được nhân vị của mình, không còn bị trói buộc bởi những luật lệ phổ thông của luân lý nữa. Nhưng xin hỏi: Từ đâu con người có thể biết mình là một nhân vị độc đáo? Kierkegaard thưa: Từ ý thức về tội lỗi.