Siêu hình học - Alquié Ferdinand (phần 2)
Rõ ràng, thuyết Duy nhiên (Naturalisme) của thế kỷ XVIII đưa tới một số hoài nghi. Tại sao cũng những sự kiện như nhau lại luôn kế tiếp nhau ? Tại sao việc chúng ta chờ đợi nguyên nhân lại được thỏa mãn ? Những câu hỏi đại loại như thế, Hume đã không đặt ra, hay cho rằng không thể trả lời được. Giữa con người và tự nhiên (nature), có một sự hòa điệu nào đó, mà người ta dường như bằng lòng với hòa điệu đó.
(tiếp theo phần 1: https://kristo.network/news/article/sieu-hinh-hoc-alquie-ferdinand-1714660753 )
4. Kant và vấn đề của Siêu hình học
Hoạt động của chủ thể và khoa học
Rõ ràng, thuyết Duy nhiên (Naturalisme) của thế kỷ XVIII đưa tới một số hoài nghi. Tại sao cũng những sự kiện như nhau lại luôn kế tiếp nhau ? Tại sao việc chúng ta chờ đợi nguyên nhân lại được thỏa mãn ? Những câu hỏi đại loại như thế, Hume đã không đặt ra, hay cho rằng không thể trả lời được. Giữa con người và tự nhiên (nature), có một sự hòa điệu nào đó, mà người ta dường như bằng lòng với hòa điệu đó.
Kant không bằng lòng như thế. Theo ông, lý thuyết của Hume hòan tòan không giải thích được tính phổ quát và tính tất yếu của những qui luật mà khoa học khám phá ra. Bởi chưng khoa học đang tồn tại, và vai trò của triết lý là khám phá làm thế nào khoa học có thể tồn tại. Như thế, triết lý của Kant thiết lập nên khoa học. Và trong mức độ này, nó làm nên một Siêu hình học mới, mà người ta có thể gọi là Siêu hình học phê bình. Chủ thể của Siêu hình học này không phải là Thiên Chúa của Descartes, cũng không phải là chủ thể tâm lý và tự nhiên, như Hume chủ trương. Họat động của nó là siêu việt, và chính như thế mà nó đem lại khả thể cho những ‘phán đoán tổng hợp tiên thiên’ tức là những phán đoán làm nên tri thức của chúng ta. Mỹ học siêu việt khám phá ra, trong đời sống cảm giác của chúng ta, những dạng thức tiên thiên (formes a priori) tức là không gian và thời gian, những dạng thức mà mọi sự, để có thể được nhận thức, phải lệ thuộc vào đó. Việc phân tích siêu việt đó nghiên cứu sự hình thành đối tượng của tri thức bằng khả năng nối kết của lý trí : lý trí áp dụng những phạm trù vào những nhận thức khác nhau do cảm giác (sensibilité) cung cấp, và nếu không có tổng hợp này, không đối tượng nào có thể xuất hiện cho chúng ta như thực tại. Nhưng cũng phải lưu ý : cái hiện hữu mà cơ cấu (constitution) của nó được Kant trình bày ở đây không phải là hiện hữu tại thân (en soi), cái hiện hữu mà các nhà Siêu hình học cổ thời tưởng đã nắm bắt được. Nó không phải là một hữu thể. Đó chính là hiện hữu của đối tượng khoa học (objet scientifique), và hoàn toàn có tính cách hiện tượng. Vả lại, Kant đối lập cái hiện tượng (phénomène) với cái bản thể (noumène), và sự vật tại thân (chose en soi).
Vì thế đừng lạm dụng nhìn nhận, như ngày nay người ta thường làm, phê bình của Kant như một Siêu hình học thực nghiệm (métaphysique positive); một siêu hình học cho thấy làm thế nào cái chủ thể siêu việt làm nên cái ‘hữu thể’ đối tượng. Ngược lại cần nhớ rằng, theo Kant, không bao giờ một hữu thể thực sự lại được thiết lập do hành động của chủ thể, cho dù hành động đó có tính siêu việt, và không bao giờ Kant khẳng định chính chủ thể siêu việt (sujet transcendantal) như là một hữu thể. Vì thế, Kant đặt cái biện chứng siêu việt của ông nằm sau mỹ học và phân tích siêu việt, cái biện chứng này được hoàn toàn dành cho việc phê bình Siêu hình học, và đặc biệt, cho việc bác bỏ ý kiến cho rằng chúng ta có thể đạt tới hữu thể của chủ thể.
Kant phê bình Siêu hình học
Nhưng cũng đừng cho rằng, như người ta thường gặp phải hồi cuối thế kỷ 19, ý định của Kant là hủy bỏ Siêu hình học để dành hoàn toàn vị trí cho khoa học. Nói cho đúng, vào thời điểm ông viết, Kant khẳng định rằng Siêu hình học cổ điển đã bị mọi người từ bỏ : ông chẳng cần phải phá hủy nó nữa, bởi vì chẳng còn ai tin vào nó nữa. Điều ông muốn, đó là hiểu được các lý do của sự đổ vỡ này, cũng giống như ông đã khám phá ra những lý do thành công của khoa học. Và, trong cả hai trường hợp, ông nỗ lực nghiên cứu những phán đoán tổng hợp tiên thiên. Bởi vì người ta tìm thấy những phán đóan như thế trong Siêu hình học cũng như trong ngành toán học và trong vật lý. Nhưng trong khi đối với các ngành khoa học, hoạt động của lý trí (activité de l’entendement) diễn ra trên một dữ kiện khả giác mà nó nối kết, thì họat động lý tính (activité rationnelle) mà người ta có thể khám phá ra ở cội nguồn Siêu hình học chẳng dựa trên trực giác nào cả : nó hành động trên sự trống rỗng. Siêu hình học không có khả năng hiện hữu. Nó chỉ hiện hữu theo kiểu là ‘một sự chuẩn bị tự nhiên’. Và sự chuẩn bị tự nhiên này chỉ đẻ ra các ảo tưởng.
Cách đặt vấn đề như thế hoàn toàn mới mẻ. Bởi quan niệm Siêu hình học như thế nên thái độ của các triết gia thế kỷ 18 hoàn toàn tiêu cực, khi cho rằng Siêu hình học gắn liền với nhu cầu tin, và vào một thứ cuồng loạn cảm tính. Ngược lại, Kant nhìn thấy trong Siêu hình học hoa trái của một đòi hỏi hoàn toàn có tính cách lý tính (rationnelle). Chính cội nguồn lý tính của Siêu hình học giải thích được rằng cái ảo tưởng làm nên Siêu hình học đó không thể bị giản lược hoàn toàn. Nó vẫn tồn tại sau khi bị bác bỏ. Nó không phải chỉ là một ảo tưởng.
Cái kiến-thức-giả (pseudo-connaissances) được đúc kết nên do lý trí con người về những gì liên quan đến linh hồn, thế giới và Thiên Chúa, làm nên cái mà Kant gọi là cái bên ngoài siêu việt. Cái bên ngoài đó rút ra từ một sự mở rộng bất hợp pháp, nằm ngoài mọi trực giác, ngoài quan niệm của chúng ta. Và chính sự mở rộng đó được làm nên do ảnh hưởng của những nguyên tắc mà, theo Kant, “đẩy lui những biên giới của kinh nghiệm” và “còn muốn bắt buộc phải vượt qua những biên giới đó nữa”. Những nguyên tắc này, được gọi là cái siêu việt, cũng là những nguyên tắc của lý trí : chúng đưa chúng ta tới những ý tưởng có đối tượng không thể do bất kỳ kinh nghiệm nào. Chính theo ý nghĩa này mà ta có thể nói tới những ý niệm của lý trí, hay những ý tưởng siêu việt. Kant tiên thiên rút chúng ra từ chính những liên lạc của tam đoạn luận. Và cái ông tìm lại được, cùng với cái tôi, là thế giới và Thiên Chúa, những cách phân chia cổ điển của Siêu hình học truyền thống, chẳng hạn tâm lý thuần lý, vũ trụ học thuần lý, thần học siêu việt.
Nghiên cứu những ngộ biện (paralogismes) của lý trí thuần túy, Kant đưa ra một phê bình về tâm lý thuần lý. Theo ông, do một kiểu ngụy biện cho nên người ta đã đi từ cái “tôi suy tư” đến cái “tôi hiện hữu”, và do đó đến sự hiện hữu của linh hồn. Việc phê bình các ngành vũ trụ học (cosmologie) nào cho rằng mình có tính cách hữu thể học, đã được xây dựng trên việc phân tích những mệnh đề tương phản : nếu các ngành đó coi thế giới như một sự vật tự thân, thì một cách tất yếu, lý trí phải đi tới, trong những gì liên can, những hợp đề và những phản đề thiết yếu, tuy chúng mâu thuẫn nhau. Cuối cùng, trong phân tích của ông về cái lý tưởng của lý trí thuần túy, Kant xác định mọi luận chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa là vô giá trị.
Kant không có ý phủ nhận tính bất tử của linh hồn hay sự hiện hữu của Thiên Chúa, ông sẽ tìm được những chân lý này bằng một con đường khác, con đường của luân lý. Ong coi chúng như những định đề (postulats) của lý trí thực hành. Nhưng theo ông, những chân lý đó không phải là đối tượng của một tri thức chắc chắn. Theo hướng đó, Kant đã có thể viết rằng mình muốn loại bỏ hết mọi tri thức để nhường chỗ cho đức tin. Bởi mang tham vọng đạt tới một tri thức thuần lý về thế giới bên kia đối tượng của khoa học, nên Siêu hình học đã bị kết án.
5. Siêu hình học phục hưng và bị phủ nhận
Từ những triết gia hậu-Kant đến Bergson
Chính khi phê bình Siêu hình học, Kant đã cho thấy khả năng kiến tạo của lý trí. Hegel sẽ lấy lại chính ý tưởng này để khẳng định, theo công thức nổi tiếng của ông, rằng tất cả những gì hợp lý (rationel) thì có thực (réel) và tất cả những gì có thực đều hợp lý. Ơ đây chúng ta bắt gặp cái tương đương với Siêu hình học của Spinoza : trật tự của tư tưởng cũng là trật tự của sự vật, và đi theo tiến trình riêng biệt của mình như thế, lý trí xây dựng nên thế giới. Cái sai lầm duy nhất của Spinoza, dưới con mắt Hegel, là đã coi lý trí như một quan niệm toán học. Thế mà suy luận toán học lại nằm ngoài đối tượng của nó. Nhưng cho dù người ta thấy rằng tiến trình của lý trí là có tính biện chứng, thì cái trở thành của lịch sử không là gì khác ngoài cái trở thành của tinh thần (le devenir de l’histoire n’est autre que celui de l’esprit). Nhờ suy tư trong chính mình, và suy tư về lịch sử, tinh thần sẽ đạt tới một tri thức tuyệt đối. Bởi vì, theo Hegel, cái tuyệt đối chỉ xuất hiện sau cùng. Nó cốt yếu là kết quả.
Cho dù Hegel không muốn sử dụng từ “Siêu hình học”, thậm chí coi thường nó, nhưng triết học Hegel, một khi đạt tới cái tri thức tuyệt đối, cho rằng đã khám phá ý nghĩa sau cùng của tất cả những gì đang hiện hữu, thì đã thực sự là một Siêu hình học rồi. Chúng ta cũng có thể nói như thế về triết học của Fichte, Schelling, Schopenhauer khi các tác giả này đồng hóa với ý chí cái sự vật tại thân mà Kant cho rằng không thể tri thức được. Tiền bán thế kỷ 19 được gọi là thời đại của những hệ thống, và cần ghi nhận là sau những phê bình của Kant về Siêu hình học hệ thống, lại xuất hiện một cách mãnh liệt những hệ thống siêu hình khác.
Nhưng ở một quan điểm khác, chúng ta cũng có thể phản đối chủ trương của Kant, và cố gắng thiết lập một Siêu hình học thoát ra khỏi sự phê bình của ông, bằng cách khám phá ra kinh nghiệm của siêu hình học mà Kant tuyên bố rằng nó không thể có. Đó chính là điều mà Bergson sẽ làm sau này. Theo Bergson, hữu thể được khám phá trong chính cái trở thành của ý thức. Nếu chúng ta loại bỏ cách phân chia theo không gian của kỹ thuật, cách phân chia có tính ý niệm và biểu tượng của khoa học và ngôn ngữ, thì chúng ta sẽ tìm thấy cái kinh nghiệm siêu hình, qua cảm tình nhờ đó người ta có thể đi vào “trong đối tượng để trồng khít lên cái mà họ có duy nhất và do đó, không thể diễn tả được”. Bởi vì Siêu hình học, theo Bergson, là “khoa học chủ trương không cần tới biểu tượng”. Siêu hình học là một sự trùng khớp thuần túy, và nó loại bỏ mọi khoảng cách giữa chủ thể với đối tượng. Trong nó, người ta khám phá ra cái đà sáng tạo kéo dài, một chủ thể vượt lên trên cái tôi và gặp được tác động của thượng đế, tức là một sự tuôn trào liên tục và là nguồn mạch mới lạ không ngờ.
Thuyết Duy nghiệm và thuyết Mácxit
Phê bình của Kant là sau cùng trong những phê bình, mang tính hòan toàn triết lý, về siêu hình học. Sang thế kỷ 19, Siêu hình học không còn thực sự bị phê bình nữa, nhưng thường bị phản đối và phủ nhận. Vì thế, để kết án Siêu hình học, Marx cũng như A. Comte tự đặt mình bên ngoài Siêu hình học và không nhìn nhận những vấn đề của nó.
Thuyết Mácxit loại bỏ Siêu hình học vì nhiều lý do. Có khi do họ thấy trong việc xây dựng môn này có những ý thức hệ, mà họ cho rằng đó là nguồn gốc của những lợi ích giai cấp. Có khi họ lại cho rằng ưu tư Siêu hình học đưa chúng ta ra khỏi những trách nhiệm khẩn thiết hơn trong việc cải tạo xã hội và làm cách mạng. Cuối cùng, họ cho rằng những vấn đề của Siêu hình học chỉ có thể được đặt ra một cách đúng đắn trong một xã hội trong đó con người đã được giải thoát khỏi mọi vong thân.
Thuyết Duy nghiệm của Comte lại nhân danh khoa học để loại bỏ Siêu hình học. Theo Comte, tinh thần con người trong mỗi trật tự tri thức, trải qua ba tình trạng. Thứ nhất là tình trạng hướng thần : thời đó, con người tìm kiếm nguyên nhân của các hiện tượng qua sự can thiệp của các thần linh, đó là những ý muốn giống như ý muốn của con người. Tình trạng thứ hai, gọi là tình trạng siêu hình, các tác nhân siêu nhiên được thay thế bằng những thực thể trừu tượng, được coi như có khả năng tự mình sản xuất ra mọi hiện tượng quan sát được. Sau cùng, với tình trạng thực nghiệm, tinh thần đạt tới một quan niệm khoa học, và theo Comte, quan niệm này có tính quyết định và đủ để giải thích cho cái có thực. Con người từ chối khả năng đạt tới sự vật tại thân, chỉ chấp nhận dừng lại ở việc quan sát những hiện tượng, tức là những gì họ nhận thấy được. Phủ nhận khả năng tìm được các nguyên nhân, con nguời chỉ thiết lập những qui luật cho phép hoạt động trong thế giới này. Do đó, dưới mắt Comte, giai đoạn Siêu hình học đã hoàn toàn chấm dứt. Cuối cùng, trong những quốc gia nói tiếng Anh, “triết học phân tích”, - là thứ triết học kế tục “thuyết Duy nghiệm luận lý” -, coi tất cả những khẳng định Siêu hình học như vô nghĩa.
6. Siêu hình học hiện nay
Hamelin, Husserl và Heidegger
Nhưng, như đã từng chống trả những phê bình của Kant, Siêu hình học vẫn tồn tại cho dù có những phủ nhận của thuyết Mácxit hay thuyết Duy nghiệm. Thực sự triết học hiện nay hoàn toàn có tính Siêu hình học, hay đầy chất Siêu hình học. Thuyết Duy tâm (Idéalisme) của Octave Hamelin thực sự là một Siêu hình học. Thuyết này đã đẻ ra cái mà ở Pháp người ta gọi là “triết lý của tinh thần” (“la philosophie de l’esprit”). René Le Senne viết như sau : “Hamelin dạy một cách rõ ràng rằng không có gì có thể đưa từ ngoài vào trong lý trí, lý trí là tất cả và hơn cả tất cả”. Louis Lavelle suy nghĩ về cái kinh nghiệm hữu thể mà người ta có thể tìm thấy ở nguồn gốc của mọi tư tưởng. Gabriel Marcel cố gắng xác định cái mà ông gọi là “mầu nhiệm hữu thể” và ông đã viết một tập Nhật ký Siêu hình học.
Các nghiên cứu của Husserl về “nhận thức nguyên thủy trong chức năng ban bố” (conscience donatrice originaire) và về “ý hướng tính” (intentionnalité) đều có tính cách Siêu hình học. Và người ta thấy Hiện tượng học của Husserl đã ảnh hưởng như thế nào trên thuyết Hiện sinh của Đức cũng như của Pháp : cuốn Hữu thể và Hư vô của Sartre, Hiện tượng học về nhận thức của Merleau Ponty rõ ràng là những tác phẩm về Siêu hình học.
Heidegger thực sự đã có những nỗ lực thực hiện một cuộc trở lui về những nền tảng của Siêu hình học, tuy ông cho rằng những nền tảng đó không phải Siêu hình học. Nhưng tìm kiếm những nền tảng của siêu hình học, khám phá ra miền đất trong đó ăn sâu cội rễ của siêu hình học, hay chính xác hơn, cái cội rễ của tri thức tòan thể tức là siêu hình học, như thế là làm siêu hình học rồi vậy. Do quan tâm đến vấn đề hữu thể, nên Heidegger dường như trách móc Siêu hình học Tây phương đã thờ ơ với vấn đề này. Điều đó cho thấy rằng ông trách họ không đủ siêu hình học, họ đón nhận những định kiến của một khoa học giảm thiểu thực tại vào tổng thể những sự vật đo lường được. Người ta có thể cho rằng Heidegger đã không hiểu ý nghĩa của hữu thể như các tác giả trước ông, nhưng không thể chối cãi rằng tư tưởng của Heidegger đã trả lời cho ưu tư căn bản của Siêu hình học.
Vậy nếu, cho dù bị chỉ trích, và bị tấn công từ mọi phía, Siêu hình học vẫn đứng vững, thì chúng ta có quyền tự hỏi cái gì đã bảo đảm cho nó sức sống đó. Phải chăng chỉ là do nhu cầu thường hằng của con người, con nguời bất an trước mầu nhiệm của cái chết hay của định mệnh ? Hoặc phải nhìn nhận rằng Siêu hình học có một giá trị đặc thù, mà nếu lọai trừ hay bỏ quên nó, thì con người sẽ trở thành què cụt ? Phải chăng siêu hình học dừng lại ở việc đặt vấn đề ? Hay chúng ta có thể khám phá một chân lý qua các khẳng định của nó?
Siêu hình học và các hệ thống
Trước tiên phải đồng ý là trong mức độ siêu hình học chủ trương đạt tới cái tòan bộ, hay cái tri thức tuyệt đối, thì những đòi hỏi của môn này đã gặp thất bại. Nó đã từng đưa tới việc thiết lập các hệ thống nhưng không có hệ thống nào thành công. Các hệ thống của thế kỷ XVII đã sản sinh ra thuyết hòai nghi nơi các nhà tư tưởng của thế kỷ tiếp theo. Hệ thống của Hegel vừa làm phát sinh những phản kháng của Heidegger vừa làm nổi dậy những phê bình của Marx. Đòi hỏi của siêu hình học là đòi hỏi một tri thức chắc chắn, hòan tòan được minh chứng, và như thế có khả năng áp đặt lý trí của mọi người. Làm thế nào có thể nghĩ rằng một hệ thống có khả năng thiết lập được một tri thức như thế, nếu các hệ thống vẫn chống đối nhau, và nếu, qua dòng lịch sử triết học, các hệ thống không ngừng thay thế nhau?
Nhưng không vì thế mà kết luận rằng thất bại của các hệ thống cũng nhất thiết là thất bại của tất cả siêu hình học. Sở dĩ có chủ trương như thế, một chủ trương khá phổ biến, là vì người ta đã đồng hóa tinh thần siêu hình học với tinh thần hệ thống, điều mà không ai cho phép làm. Thậm chí người ta có thể ghi nhận rằng, các hệ thống không chỉ có tính siêu hình học, nhưng còn là vũ trụ học, hay nơi Hegel còn có tính lịch sử : đó là những hệ thống về sự vật, và thực ra, chỉ có thể có những hệ thống về sự vật. Vậy bản chất những hệ thống là kết quả của một tham vọng, vốn gắn liền với lý trí con người, muốn biết và suy tư về tòan thể vũ trụ. Trong đó lý trí xây dựng một tổng hợp các giả thuyết, một tổng hợp mà người ta có thể thán phục kiến trúc của nó và sự chặt chẽ nội tại của nó, nhưng nó vẫn không phù hợp với chân lý.
Mỗi hệ thống đề nghị một thế giới. Đòi hỏi của siêu hình học là đòi hỏi của một thế giới bên kia thế giới này : chính vì thế mà siêu hình học của Platon hướng tới các Ý tưởng, siêu hình học Descartes chứng minh Thiên Chúa, siêu hình học Kant đi tới việc nhận biết các điều kiện tiên thiên của tri thức. Nhưng, nếu đòi hỏi này không được thỏa mãn trong bất cứ hệ thống nào, thì làm thế nào nó có thể khám phá ra cái hữu thể mà nó hướng tới ? Phải chăng hữu thể đó được ban cho nó qua một kinh nghiệm riêng, một kinh nghiệm siêu hình ?
Siêu hình học và kinh nghiệm
Thực vậy, bên cạnh những siêu hình học hệ thống, người ta đã bắt gặp những siêu hình học của kinh nghiệm, chẳng hạn siêu hình học của Bergson : ở đây, cái trực giác, sau khi đã xóa bỏ mọi ranh giới giữa chủ thể và đối tượng, cho rằng có thể đem lại cho con người khả năng đặt mình vào trung tâm của sự vật. Và người ta cũng có thể bảo vệ lập trường cho rằng điều mà Spinoza gọi là tri thức lọai thứ ba, đã mang một kinh nghiệm trực tiếp về hữu thể.
Tuy nhiên, ta vẫn có thể nghi ngờ về thực tại, và ngay cả nghi ngờ về khả năng của những kinh nghiệm như thế. Dù sao, những kinh nghiệm như thế cũng đem lại cho ta những tình trạng riêng biệt không thể thông truyền, và vì thế xa lạ với triết học. Thực vậy, nếu không nhờ lý trí, làm sao tôi biết được tôi đang đứng trước Hữu thể ? Tất cả những gì có thể xuất hiện cho tôi như là một kinh nghiệm siêu hình đều không thể phân biệt khỏi cái mà đối với tôi là ảo tưởng về một kinh nghiệm như thế. Do chính yếu tính của nó, cái tuyệt đối và cái bên kia thế giới không thể được kinh nghiệm. Một khi được kinh nghiệm thì cái tuyệt đối sẽ trở thành cái tương đối, cái bên kia thế giới chỉ còn là cái hiện diện tự nhiên.
Nhưng có thể có người sẽ nói rằng, theo Descartes, việc nắm bắt cái “tôi suy tư” hay việc khám phá ra Thiên Chúa, sẽ làm nên những kinh nghiệm siêu hình. Thật ra không hẳn là như thế. Theo Descartes, kinh nghiệm luôn luôn có một thuộc tính (attribut), hay một ý tưởng, nhờ đó đưa tới hữu thể hay cho phép đạt tới hữu thể bằng con đường minh chứng, mặc dù không bao giờ có sự trùng khớp hòan toàn giữa tư tưởng với sự vật. Ngay cả trong khoảnh khắc đặc biệt của tác động suy tư (cogito), cái tư tưởng mà tôi kinh nghiệm được cũng đưa tôi đến hữu thể của cái sự vật đang suy tư, đến cái bản thể mà suy tư là thuộc tính của nó. Về Thiên Chúa, ngài tỏ lộ trong chúng ta qua ý tưởng về ngài, từ ý tưởng đó ngài cũng còn phải được chứng minh nữa. Đến nỗi nếu người ta có thể nói đến một lọai kinh nghiệm siêu hình nơi những nhà duy lý lớn của thế kỷ XVII, thì cũng phải thêm rằng kinh nghiệm này cũng mang một giới hạn nào đó, và người ta có quyền tự hỏi phải chăng giới hạn đó chẳng phải là giới hạn nơi đó kinh nghiệm đúng nghĩa nhường chỗ cho việc trí tuệ đặt ra một khái niệm nhờ đó chính kinh nghiệm có thể hiểu được. Theo nghĩa này, cần phải ghi nhận rằng mọi kinh nghiệm đều đòi hỏi một thế giới bên kia, thế giới mà nhờ đó, kinh nghiệm có giá trị. Nhưng thế giới đó là gì thì không ai có kinh nghiệm. Và Hữu Thể, nếu nó là nền tảng và là chân trời trên đó mọi kinh nghiệm xuất hiện, thì tự trong bản thể của nó, Hữu Thể vẫn luôn luôn là siêu việt.
Về điểm này, cần tuân theo những bài học nghiêm khắc của Kant. Thực vậy, theo Kant, kinh nghiệm chỉ có thể được xác định ở cấp độ mà tinh thần xây dựng một dữ kiện khả giác. Vì thế, mọi kinh nghiệm đều là kinh nghiệm về cái tương đối, còn cái chủ thể thuần túy và đối tượng thuần túy, chủ thể xây dựng và sự vật không được xây dựng, do yếu tính, vẫn không thể đạt tới được. Vì thế, chính kinh nghiệm siêu hình xét như một khả thể, dường như phải bị phủ nhận.
Siêu hình học và tiến trình triết học
Vậy phải chăng ta phải chấp nhận rằng đòi hỏi của Siêu hình học, nếu nó là căn bản nơi con người, không thể nào được thỏa mãn ? Đó là ý kiến của tất cả những ai coi triết học như môn học vô ích nhất, và cùng với Pascal, cho rằng nó chẳng đáng một giờ làm việc. Nhưng ý kiến khó chịu đó là do người ta không chịu tìm hiểu Siêu hình học là gì, và đâu là tri thức đặc thù mà môn học này có thể đạt tới. Các triết gia, từ Socrate, đã lập đi lập lại một cách vô ích rằng điều họ biết là chẳng biết gì cả. Chẳng ai chịu khó suy nghĩ các triết gia đó muốn nói gì.
Để có thể hiểu được điều này, trước tiên ta cần ghi nhận rằng, nếu họ không thể truyền thông những kinh nghiệm sâu thẳm nhất của mình, và nếu họ bất đồng với nhau do hệ thống của họ, thì qua tiến trình thực hiện, các triết gia đó vẫn cho thấy một sự nhất trí đáng kể. Khi Platon trình bày tiến trình của người tù ngồi trong hang ‘quay ngược’ lại để nhìn thấy đằng sau có những Ý tưởng; Khi Descartes khuyên chúng ta phải nghi ngờ thế giới mà lúc đầu chúng ta tưởng là hiển minh cho chúng ta, để ‘quay ngược’ trở về với chính mình; Khi Kant kêu gọi chúng ta ‘quay ngược’ lại đừng nhìn vào đối tượng nữa, nhưng phải nhìn vào chính chủ thể làm nên đối tượng; Khi Husserl thực hiện một tác động giảm trừ hiện tượng học, bằng cách đặt thế giới vào trong ngoặc, thì tất cả họ đang thực hiện cùng một tiến trình. Tiến trình này, cũng chính là tiến trình của Siêu hình học, hệ tại một suy tư mà nhờ đó, tinh thần không còn là tù nhân của thế giới đối tượng, mà lúc đầu đối với họ, xuất hiện như thước đo của hữu thể, để vươn tới những điều kiện tiên thiên của chính thế giới này.
Cuộc trở về nguồn, trở về với cái điều kiện, trở về với hữu thể như thế có đem lại một cái biết hay không ? Có thể nói được là có, nhưng cũng phải nói thêm rằng tri thức này chỉ có tính cách siêu hình bao lâu nó không biến chất thành một cái biết thuộc loại tri thức khoa học, điều này rõ ràng xảy ra khi triết gia giới thiệu một hệ thống. Bởi chưng, phải lặp lại rằng một hệ thống chỉ có thể thuộc về vũ trụ học, và các triết gia hệ thống không giúp chúng ta thoát khỏi thế giới này để giới thiệu cho chúng ta một thế giới khác, một thế giới cũng có những sự vật như thế giới này. Bài học cuối cùng và vĩnh cửu của Siêu hình học chính là nếu thế giới này chỉ có thực tại và ý nghĩa khi so sánh với một cái khác, cái khác đó chính nó lại không phải là một thế giới. Sự vật không thể được cắt nghĩa một cách siêu hình học khởi đi từ một sự vật khác, thế giới cũng không thể được cắt nghĩa từ một thế giới khác. Bằng không, tiến trình siêu hình học sẽ phải làm lại từ đầu, để tới lượt nó, thế giới mới này lại được xây dựng có cơ sở và được giải thích. Điều này xảy ra không cùng.
Khi diễn tả trọn vẹn phản ứng của lý trí con người trước mọi tình huống xảy ra, trước mọi thế giới khách quan, Siêu hình học không hề dẫn chúng ta đến chỗ nghỉ ngơi. Cái biết của nó là cái không biết, là chẳng biết gì. Nhưng cái biết này, bên ngoài có vẻ tiêu cực, lại cho phép phán đóan về mọi cái biết khác, định vị mọi cái biết so với Hữu thể, mà ý tưởng về Hữu thể đó hiện hữu trong lý trí chúng ta. Vì thế, cuộc sống triết lý không ngừng bắt đầu lại. Siêu hình học không phải là một khoa học như các khoa học khác. Khi giải thoát chúng ta khỏi chủ nghĩa giáo điều, khỏi mọi chủ nghĩa cuồng tín, khỏi mọi vong thân tinh thần, nó dạy cho chúng ta rằng chẳng có giáo thuyết nào được xây dựng ngang tầm với hữu thể, chẳng có khoa học khách quan nào có tính hữu thể đúng nghĩa, và chẳng có tri thức nào chứa đựng trong chính mình nền tảng của chính mình.
Gs. Ngô Sĩ Đình, OP. dịch