NGƯỜI CÔNG GIÁO CÓ ĐỒNG THỜI ĐƯỢC PHÉP THỰC HÀNH CHỦ NGHĨA KHẮC KỶ KHÔNG?

Tiểu Triết · · Chủ nghĩa khắc kỷ

Trong triết học cổ đại, có thể nói đây là một trong những trường phái nổi tiếng. Có thể chia thời đại Khắc kỷ làm ba giai đoạn:

Image

1. Tổng quan về Chủ nghĩa Khắc kỷ (Stoicism)

1.1. Lịch sử

Trong triết học cổ đại, có thể nói đây là một trong những trường phái nổi tiếng. Có thể chia thời đại Khắc kỷ làm ba giai đoạn:

- Chủ nghĩa Khắc kỷ thời đầu (322-204 TCN) với Zeno là người sáng lập.

- Giai đoạn tiếp nối.

- Chủ nghĩa Khắc kỷ thời cuối (thế kỷ I, II SCN) với Seneca, Epictetus, Marcus Aurelius (những nhân vật quen thuộc, là tác giả của các đầu sách Khắc kỷ được quảng cáo ngày nay).

1.2. Vài điểm chính yếu trong triết học Khắc kỷ

1.2.1. Về luận lý

Có thể nói ngắn gọn rằng luận lý học của các triết gia Khắc kỷ là một thứ duy thực biện chứng, con người có khả năng biết được sự vật, thông qua tương quan.

1.2.2. Về vũ trụ luận

Thuyết Khắc kỷ chính là một thứ nhất nguyên thuyết, đồng thời là phiếm thần thuyết. Vũ trụ bao gồm tất cả vạn vật mà linh hồn chính là Thượng đế. Thượng đế theo nghĩa này không phải một Thượng đế siêu việt tách biệt khỏi thế gian như Platon, càng không phải một Thượng đế ngôi vị trong Kitô giáo, mà chính là thiên nhiên, là định mệnh. Và như thế, tất cả vạn vật hòa làm một, Thượng đế, vũ trụ, con người cũng chỉ là một mà thôi, gọi là “vạn vật đồng nhất thể” mà ta gặp ở rất nhiều quan điểm triết học.

1.2.3. Về luân lý

Có một câu nói: "Bạn có hai lựa chọn: trải thảm ra khắp thế giới đầy chông gai hoặc trang bị một đôi dép tốt cho mình". Rõ ràng bạn không thể trải thảm ra khắp thế giới, nên bạn buộc phải đi dép, thay vì cố gắng thay đổi thế giới, hãy thay đổi bản thân để vượt qua những khó khăn. Đây chính là góc nhìn của Khắc kỷ. Nét chính yếu của nền đạo đức Khắc kỷ theo lời Zeno chính là “Hãy sống thuận tự nhiên”, mục tiêu là đạt được “apatheia” - một sự lãnh đạm, tự do khỏi những đam mê. Vậy, làm sao để sống thuận tự nhiên? Câu trả lời của Khắc kỷ là [1]:

- Sống theo tự nhiên là sống phù hợp với những khát vọng tự nhiên. Khuynh hướng tự nhiên nhất của mọi sinh vật là bản năng sinh tồn, nó thúc đẩy con người đi tìm những gì thích hợp với mình, hơn nữa còn vượt khỏi những hạn hẹp của bản thân mà hòa hợp với trật tự vũ trụ.

- Sống theo tự nhiên là sống theo lý tính của vũ trụ. Con người là một thành phần trong vũ trụ đại đồng, nên nó bị chi phối bởi những quy luật của vũ trụ thiên nhiên. Do đó, chỉ có thể hạnh phúc khi ta biết sống hòa hợp với lý tính của vũ trụ thiên nhiên.

- Sống theo tự nhiên là sống theo sự quan phòng của Thượng đế. Các triết gia Khắc kỷ nhấn mạnh đến thái độ “phó thác” vì không có gì vượt ra khỏi Thượng đế, và bởi vì Thượng đế cũng ở trong chính ta, Thượng đế cũng là vũ trụ.

- Sống theo tự nhiên là sống theo lý trí của mình. Lý tính của vũ trụ thấm nhuần mọi vật, bó buộc các sự vật vô tri một cách tất yếu. Còn con người có lý trí lại có thể nhận thức về quy luật ấy mà chấp nhận một cách “tự do”, sáng suốt, chủ động.

- Sống theo tự nhiên là sống theo nhân đức. Nhân đức là khả năng vững vàng để thuận tình theo quy luật của thiên nhiên. Triết gia Khắc kỷ đề cao ý chí hơn lý trí, đôi khi còn hơn cả thành quả đạt được.

- Sống theo tự nhiên là sống khôn ngoan. Khôn ngoan là biết nhận định những gì mình thực sự cần và có khả năng đạt được, đồng thời chế ngự các đam mê của mình. Có 4 thứ đam mê chính: vui, buồn, sợ hãi và ước muốn. Để chế ngự đam mê, người khôn ngoan phải nhằm không bao giờ để cho mình vui hay buồn vì sự đánh giá của người khác, cũng như không để những khát vọng sai lạc lôi cuốn tâm hồn. Muốn thế, người ta phải phân định những gì thuộc khả năng kiểm soát của mình (1) và những gì nằm ngoài khả năng kiểm soát của mình (2). Cần phải dửng dưng với (2) và tập trung cho (1), tức là đừng cố kiểm soát những gì xảy đến với bạn mà hãy kiểm soát thái độ của bạn. Như Epictetus nói: “phải làm cho ý muốn của mình hợp với các biến cố, sao cho những gì xảy đến cũng đều đúng với ý muốn của chúng ta”.

1.3. Lý do Chủ nghĩa Khắc kỷ “sống lại” trong thời đại ngày nay

- Nhu cầu về triết lý sống. Nhiều người trẻ đang dần thất vọng với tôn giáo truyền thống. Tuy nhiên, họ vẫn tìm kiếm một triết lý sống để định hướng cuộc đời. Chủ nghĩa Khắc kỷ với những triết lý thực dụng dường như đáp ứng được nhu cầu này.

- Hình thành nền luân lý phổ quát. Người ta cần có một nền luân lý chung, phổ quát, vượt thời gian và không gian. Và với những khám phá của Khắc kỷ, có thể nói đã đem đến một “thành phố” vĩnh cửu, mọi người dù là hoàng đế hay nô lệ đều cùng một nền luân lý như nhau.

- Điểm tương đồng với triết lý phương Đông. Có những điểm tương đồng quan trọng giữa Chủ nghĩa Khắc kỷ ở phương Tây và một số triết lý phương Đông, đặc biệt là Phật giáo. Cả hai đều nhấn mạnh sự buông bỏ, một loại tĩnh lặng giống như thiền, đạt được thông qua việc kiểm soát bản thân và đam mê. Hiện nay, trào lưu self-help bùng nổ và sẽ dần chuyển sang lối thực hành chánh niệm, nhận thức bản thân và hướng nội. Minh chứng là thị trường sách, người ta có thể tìm thấy vô số sách self-help hướng dẫn cách tìm thấy bình yên, niềm vui hay hạnh phúc. Khắc kỷ cũng vậy, nó cung cấp các nguyên tắc và thực hành cụ thể để tuân theo. Nó tập trung vào việc nhìn nhận bản thân và điều chỉnh cuộc sống bên trong để đối phó với thực tại, thay vì tìm kiếm sự cứu rỗi từ một thế lực thần thánh bên ngoài.

- New Age và tham vọng xóa bỏ Kitô giáo. Với quan niệm vạn vật đồng nhất thể, tất cả là một, một là tất cả, Chủ nghĩa Khắc kỷ cho thấy nó chồng chéo với những gì mà phong trào New Age đang truyền bá. Như thế, cũng là một điều dễ hiểu khi cả New Age lẫn Khắc kỷ dần trở nên phổ biến trong thời đại này, nó cũng hướng đến xóa bỏ một Thiên Chúa ngôi vị của Kitô giáo.

2. Công giáo và Chủ nghĩa Khắc kỷ

Giáo hội sơ khởi đã tiếp nhận một số nguyên tắc Khắc kỷ phù hợp với khuôn khổ đức tin Kitô giáo, mà không áp dụng toàn bộ hệ thống tư tưởng của chủ nghĩa này. Trong sách Công vụ tông đồ (Cv 17,18), chúng ta tìm thấy chứng cớ Thánh Phaolo trao đổi với các triết gia Khắc kỷ, và ở một số đoạn Kinh Thánh khác, chúng ta thấy được đường nét của Khắc kỷ (Rm 1,29-32; Rm 8,35-39;...). Thậm chí nhiều giáo phụ thời kỳ đầu còn đề xuất các thực hành Khắc kỷ, ví dụ tiêu biểu là Thánh Ambrose. Tuy vậy, chúng ta cần thật sự thận trọng để nhìn ra những điểm giống và khác nhau giữa đức tin Kitô giáo và Khắc kỷ.

2.1. Điểm giống

Thay đổi thái độ thay vì thay đổi thế giới. Có lẽ tiền đề cơ bản của Khắc kỷ là bạn không thể kiểm soát thế giới xung quanh, mà chỉ có thể kiểm soát cách bạn phản ứng với nó. Một khía cạnh nào đó, có lẽ tồn tại điểm tương đồng giữa Khắc kỷ và Kitô giáo trong cách tiếp cận này. Ví dụ, thay vì tức giận về người khác, bạn có thể coi đó là cơ hội để trưởng thành trong đức tin. Tuy nhiên, điều cần lưu tâm ở đây là bạn không thể đơn giản chấp nhận mọi thứ theo kiểu của Khắc kỷ được.

2.2. Điểm khác

Đầu tiên và quan trọng nhất, sự khác biệt then chốt giữa Khắc kỷ và Kitô giáo là đức tin vào một Thượng đế. Liệu Thượng đế chỉ đơn giản là một nguyên tắc trật tự phổ quát, hay là một đấng ngôi vị?

Tiếp đến, có lẽ cần xem lại khái niệm về “sự buông bỏ”. Phái Khắc kỷ thường bị chỉ trích về tính thụ động và thờ ơ trước hiện thực. Ví dụ, trước những vấn nạn như nghèo đói hay đau khổ, người Khắc kỷ chỉ nhún vai và nói "chuyện đã vậy rồi, chấp nhận thôi". Thật ra ở đây, khi triết gia Khắc kỷ đưa ra khái niệm "apatheia", theo tiếng Hy Lạp, nó không có nghĩa là thờ ơ hờ hững, mà là một sự tách rời khỏi cảm xúc, không phải kiểu dửng dưng. Như đã nói, cả hai nền tư tưởng đều dạy cách chấp nhận thực tế. Nhưng Kitô giáo vượt xa hơn, khi nhận thức rằng thế giới chưa hoàn hảo, và Thiên Chúa đã tạo ra chúng ta để trở thành những tác nhân giúp thay đổi nó. Kitô giáo không quy tâm, mà hướng ra ngoài hiện thực, không chỉ kêu gọi đấu tranh chống lại bất công và sửa sai, mà còn có yếu tố cầu nguyện, nương nhờ vào một Thiên Chúa. Kitô hữu một mặt cầu xin Thiên Chúa biến đổi thực tại, mặt khác cũng nỗ lực cộng tác với Ngài để biến điều cầu xin thành hiện thực. Vậy sự buông bỏ trong Kitô giáo là gì? Sự buông bỏ trong Kitô giáo là từ bỏ bất kỳ điều gì đã biến thành trọng tâm hoặc tuyệt đối trong cuộc sống, cho dù đó là thú vui, tiền bạc, quyền lực, dục vọng, bất cứ thứ gì thuộc về thế giới vật chất mà chúng ta cho là tuyệt đối quan trọng, thay thế vị trí của Thiên Chúa, thì cần buông bỏ nó. Vì vậy, sự buông bỏ trong Kitô giáo không bao giờ dẫn đến sự thờ ơ vô cảm theo nghĩa thông thường, và chấp nhận thực tại không bao giờ là sự chấp nhận một cách thụ động [3].

Chủ nghĩa Khắc kỷ, giống biết bao thuyết phiếm thần và nhất nguyên khác, coi thiên nhiên, vũ trụ dường như đã hoàn hảo, đã là Thượng đế, không thực sự tồn tại thứ gì gọi là “sự dữ”. Sự dữ duy nhất là sự vô minh (ignorance) của con người. Và việc cần làm chỉ là giác ngộ và sống thuận theo nó. Vậy thì những nỗ lực về mặt khoa học, kỹ thuật, những nỗ lực kiến tạo thế giới của con người nào có ích gì? Kitô giáo có một cách nhìn thế giới hoàn toàn khác. Thế giới này chưa hoàn hảo, không phải là một vị thần và con người được Thiên Chúa trao quyền cai quản, kiến tạo nó. Chính nhờ quan điểm thần học quan trọng này mà khoa học, kỹ thuật phát triển được ở phương Tây.

Và chính vì không thực sự có cái gọi là “sự dữ”, chủ nghĩa Khắc kỷ, như đã nói ở trên, vốn dĩ kêu gọi một lối sống thờ ơ với sự dữ xảy ra trên thế giới này và việc tức giận với những sự dữ đó lại càng là điều vô lý hơn với những người Khắc kỷ. Kitô giáo thì ngược lại. Kitô giáo thừa nhận sự tồn tại của sự dữ và mặc dù kêu gọi sự tín thác vào Thiên Chúa, người Kitô hữu được quyền bày tỏ “sự tức giận chính đáng” (righteous anger) trước sự dữ.

3. Những điều cần xem xét nếu bạn là Kitô hữu muốn thực hành Khắc kỷ

Nền luân lý mà Khắc kỷ cổ võ là luân lý nội tâm, nhằm làm chủ chính mình, sống thuận mệnh. Như đã nói ở trên, Khắc kỷ không phải là chán nản hay thờ ơ, ngược lại, nó là một sự “thái quá”, “kiêu ngạo”, thể hiện trong sự tu luyện nhân đức để sử dụng quyền lực thiên nhiên như là quyền lực của chính mình. Đây là chủ trương duy ý chí, cố gắng giành lấy sự tự do nội tâm trước các biến cố bên ngoài. Mặt khác, một trong những điều đe dọa sự tự do nội tâm là tình yêu. Dù rằng triết gia Khắc kỷ có đề cập đến một tình yêu đại đồng, nhưng nó vẫn chỉ là một thứ hòa hợp đúng trật tự của lý tính, chứ không phải một tình yêu hy sinh theo nghĩa agape của Kitô giáo. Do vậy, tình yêu Thiên Chúa biểu lộ qua thập giá chính là một sự điên rồ đối với người Khắc kỷ. Có thể Chủ nghĩa Khắc kỷ phù hợp cách nào đó trong tinh thần tập luyện tu đức, dứt bỏ những đam mê trần tục của Kitô giáo. Nhưng một chủ thuyết mang tính cách “anh hùng chủ nghĩa” như thế lại tất yếu dẫn đến một thái độ tự mãn. Và trong cái nhìn của Kitô giáo, một chủ thuyết “nhân bản” hoàn toàn chỉ dựa vào nỗ lực của con người mà chủ nghĩa Khắc kỷ hướng đến lại dễ dàng trở nên một khuôn khổ hẹp hòi và bất lực [2].

🍂Jeanne KLN

(Vì đức công bằng, xin quý vị trích dẫn nguồn khi chia sẻ bài viết.)

Bibliography

1. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP. Lịch sử Triết học Tây phương. Tr 378-382.

2. Ibid. Tr 394-295.

3. Bishop Robert Barron. Stoicism and Christianity.