Bài dịch: The Physicist and the Philosopher - Jimena Canales Trong những thập niên đầu thế kỷ 20, triết gia…

Catholic Net · · Đối luận Triết học
Bài dịch: The Physicist and the Philosopher - Jimena Canales

Trong những thập niên đầu thế kỷ 20, triết gia Pháp Henri Bergson là một người nổi tiếng toàn cầu, được xếp ngang hàng các nhà tư tưởng như Plato, Socrates, Descartes và Kant. William James cho rằng các công trình của Bergson đã tạo nên một cuộc cách mạng kiểu Copernicus trong triết học. Ngài Balfour đọc ông với sự chăm chú và cẩn trọng; Teddy Roosevelt còn đi xa đến mức viết hẳn một bài về công trình của ông. Người ta leo cả thang chỉ để nhìn thoáng qua người Pháp vĩ đại này qua các khung cửa sổ của giảng đường đại học, và giới thượng lưu Paris sai người hầu đi trước để giữ chỗ tại các buổi thuyết giảng của ông. Khi ông có bài nói chuyện tại City College ở New York năm 1913, đám đông kéo đến đông đến mức mong được nghe ông khiến giao thông ở Manhattan bị tê liệt.
Ngày 6 tháng 4 năm 1922, Bergson và Einstein gặp nhau ở Paris dưới sự bảo trợ của Société française de philosophie và tranh luận về bản chất của thời gian. Buổi gặp có sự tham dự của nhiều nhà khoa học và triết gia lỗi lạc, ban đầu được dự định, như Jimena Canales kể, là ‘một sự kiện thân tình và học thuật’; nhưng diễn biến thực tế thì, tuy học thuật được phô bày nhiều, nguồn ‘thân tình’ cạn nhanh. Ngay từ đầu Einstein đã ở thế bất lợi, vì cuộc tranh luận diễn ra bằng tiếng Pháp, thứ ngôn ngữ ông chỉ biết trong chừng mực. Dù nổi danh, ông vẫn cần bước ra như người chiến thắng trong cuộc đọ sức ngày hôm đó. Công chúng có thể tin rằng trật tự Newton đã bị lật đổ và từ nay mọi thứ đều ‘tương đối’, nhưng vẫn có nhiều người hoài nghi về các hệ quả của thuyết tương đối, không chỉ các triết gia mà cả các nhà khoa học, trong đó có cả vài người ngưỡng mộ Einstein nhiệt thành nhất. Và khi Einstein nhận giải Nobel, vài tháng sau cuộc tranh luận với Bergson, giải thưởng danh giá đó không được trao cho hai bài báo mang tính cách mạng về thuyết tương đối – vào các năm 1905 và 1915 – mà cho công trình về hiệu ứng quang điện. Lại còn một đòn đau nữa khi chủ tịch Ủy ban Nobel, lúc trao giải, nói: ‘Không có gì bí mật rằng triết gia nổi tiếng Bergson ở Paris đã thách thức học thuyết này [thuyết tương đối].’
Điểm mấu chốt là liệu lý thuyết của Einstein hoàn tất việc mô tả hiện thực như nó vốn có, hay chỉ là một giả thuyết – dẫu là một giả thuyết thiên tài – khớp với các sự kiện gọn gàng và đẹp đẽ hơn bất kỳ lý thuyết nào trước đó, kể cả quan niệm cơ giới của Newton về thế giới và cách nó vận hành. Đây là vấn đề nhạy cảm đối với các nhà vũ trụ học. Những nhà ngắm sao xưa có một cách nói hay khi họ cho rằng lý thuyết này hay kia về bầu trời ‘cứu vãn các hiện tượng’: tức là phù hợp với những gì quan sát được về chuyển động của các hành tinh, nhưng không nhất thiết tự nhận là một biểu đạt trực tiếp về những gì thực sự xảy ra ngoài kia, trong những không gian vô hạn từng làm xáo trộn tâm trí của Pascal. Do đó, nhà thiên văn Ai Cập Ptolemy (mất năm 168 sau Công nguyên) đã giải thích các bất thường trong quỹ đạo hành tinh nhìn từ Trái Đất bằng cách thêm các vòng ngoại, rồi lại thêm vòng ngoại của vòng ngoại, khiến trong mô hình của ông các hành tinh phải thực hiện những vòng lượn phức tạp đến không tưởng. Dẫu vậy, trước tác Almagest của Ptolemy vẫn là cẩm nang của mọi nhà thiên văn suốt thời Trung Cổ và kéo dài tới, thậm chí vượt qua, thời Copernicus.
Cuộc canh tân vĩ đại trong vũ trụ học được thúc đẩy bởi Galileo, người ta có thể gọi là nhà phát minh của công nghệ, và đạt đến đỉnh cao ở Newton, nhà khoa học đích thực đầu tiên theo cách chúng ta hiểu ngày nay (tên gọi cũ của khoa học là ‘triết học tự nhiên’), người tuyên bố mình không chỉ đưa ra một mô hình khả tín về thế giới, mà là một bản tường thuật chính xác, đúng đắn về thực tại. ‘Hypotheses non fingo,’ ông kiêu hãnh khẳng định: ‘Tôi không bịa đặt giả thuyết.’ Vũ trụ như một cỗ máy ông nêu ra ban đầu được Thượng đế lên dây cót và cho vận hành, và sẽ tiếp tục hoạt động theo một cách hoàn toàn có thể dự đoán, tính toán và có trật tự cho đến khi tiếng kèn sau rốt vang lên.
Chân dung Newton là bức duy nhất Einstein treo trên tường phía trên bàn làm việc trong văn phòng ở Princeton. Người ta cho rằng Einstein đã hoàn toàn lật đổ Newton, nhưng như Abraham Pais lưu ý trong Subtle Is the Lord, cuốn tiểu sử về Einstein, tác động của thuyết tương đối là biến cơ học Newton thành một khoa học ‘xấp xỉ’, ‘không bị hạ thấp mà được xác định rõ hơn trong tiến trình đó’. Quả có thể lập luận rằng Einstein là 'nhà Newton học' cuối cùng. Chắc chắn Newton sẽ tán thành tuyên bố của Einstein rằng Thượng đế không chơi trò xúc xắc với thế giới.
Những con xúc xắc ở đây là các khối xây dựng ma quái của thuyết lượng tử, bản mô tả trái lẽ thường về thực tại hạ nguyên tử do Max Planck khai mở vào bước ngoặt thế kỷ 20. Lý thuyết này thay thế sự chắc chắn bằng xác suất, điều mà Einstein không bao giờ có thể chấp nhận. Một trong những nghịch lý của vụ Bergson–Einstein, như Canales ghi nhận, là thế giới theo thuyết lượng tử – thế giới của quark, lỗ đen và vi xử lý – dường như gần gũi hơn hẳn với phiên bản tinh tế, trực giác của Bergson so với mô hình về bản chất là cơ giới của Einstein.
Cuộc gặp ở Paris tối tháng Tư đó nhằm đưa các nhà vật lý và triết gia lại với nhau để xem xét những nền tảng và tính xác thực của thuyết tương đối. Bergson ban đầu không dự định phát biểu, và chỉ lên tiếng khi ‘bị một đồng nghiệp hỗn xược khích bác’. Dẫu vậy, ông nói trong nửa giờ, trình bày cẩn trọng những phản bác, thực ra là sự bác bỏ, quan niệm của Einstein về thời gian chỉ như một phương diện liên tục không–thời gian. Với Einstein, trải nghiệm bên trong về thời gian như một dòng sông trang nghiêm cuốn ta đi chỉ là ảo giác; trong thuyết tương đối, không có trên–dưới, không có trái–phải hay trước–sau. Tạo hóa như một khối đã hoàn tất, như T.S. Eliot viết trong Four Quartets, ‘mọi thời điểm đều hiện diện vĩnh viễn’, và mũi tên thời gian có thể bắn ngược dễ như bắn xuôi. Như Canales viết, trích lời từ cuốn Space-Time-Matter (1922) của Hermann Weyl – lại là năm ấy – chính nhờ Einstein mà thời gian đã bị ‘truất khỏi ngai cao’, bị kéo xuống từ đỉnh cao triết học về vùng đất thực tế của vật lý. [Einstein] đã cho thấy rằng ‘niềm tin của chúng ta vào ý nghĩa khách quan của tính đồng thời’ cũng như vào thời gian tuyệt đối phải vĩnh viễn ‘bị loại bỏ’ sau khi ông thành công ‘xua đuổi giáo điều đó khỏi tâm trí chúng ta’.
Bergson, dù không tranh cãi về cơ sở toán học của thuyết tương đối, lại bất đồng sâu sắc với điều ông xem là quan niệm sai lầm, hoặc ít nhất là chưa đầy đủ, của Einstein về bản chất của chính thời gian. Đối lại, ông đưa ra những giả thuyết trung tâm của mình về Dòng tồn tục(Duration) và Trực giác (Intuition), cùng khái niệm khá mơ hồ về Đà sống, hay Élan vital. Dòng tồn tục là phiên bản thời gian của ông, không tiến theo đường thẳng mà ngập ngừng run rẩy, cắn vào tương lai trong một quá trình sáng tạo bất tận. Trong cuốn sách nổi tiếng nhất của ông – – Creative Evolution (1907), ông viết: ‘Tuy lập luận của chúng ta về các hệ cô lập có thể hàm ý rằng lịch sử của chúng, quá khứ, hiện tại và tương lai, có thể được phơi bày ngay tức khắc như một chiếc quạt, nhưng trên thực tế lịch sử ấy tự mở ra dần dần, như thể nó chiếm một quãng thời gian như của chính chúng ta.’ Một tuyên bố như thế tiêu biểu cho lối tư duy và diễn đạt bí hiểm của Bergson. Nhìn thoáng qua thì dường như nó nói đúng như thế, nhưng xem xét kỹ hơn, lời lẽ và khái niệm tỏa ra một lớp sương mù bồng bềnh che khuất mọi trực kiến mà độc giả có thể vừa có được trước đó. Các học thuyết về Trực giác và Élan vital của Bergson, như ông trình bày, cũng bị che phủ tương tự, dù ta có cảm tưởng – trực giác? – mình hiểu chúng biểu thị điều gì, ít nhất khi đang đọc trình bày của ông.
Bergson trên hết tìm cách khẳng định chiều kích nhân sinh của trải nghiệm, tính hiệu lực của trực cảm rằng thế giới có thể được đo đếm không chỉ bằng các sự kiện khoa học mà còn qua hành động, tư tưởng, cảm xúc của chúng ta. Einstein, cứng rắn hơn, hay ít nhất gắn bó với một cách diễn giải cứng rắn về thực tại, thích đặt lòng tin vào những điều chắc chắn mang tính kinh nghiệm mà khoa học mang lại. Phản hồi của Einstein với bài diễn thuyết nửa giờ của Bergson chỉ mất chưa tới một phút. Tuyên bố then chốt là: ‘Il n’y a donc pas un temps des philosophes’ – ‘Không có cái gọi là thời gian của các triết gia.’ Điều Einstein nói tiếp còn gây tranh cãi hơn: ‘Chỉ còn một thời gian mang tính tâm lý khác với thời gian của nhà vật lý.’ Hai cách nhìn thời gian này, Canales nhận xét, sẽ trở thành hai lăng kính chi phối phần lớn những khảo cứu về bản chất của thời gian trong thế kỷ 20 … Trong những năm sau đó, người ta phần lớn xem Bergson đã thua cuộc tranh luận trước nhà vật lý trẻ hơn. Quan điểm của nhà khoa học về thời gian chiếm ưu thế trong hầu hết các cuộc thảo luận bác học về chủ đề này, giữ không chỉ Bergson mà cả nhiều cách tiếp cận nghệ thuật và văn chương khác ở vị trí thứ yếu, phụ trợ. Với nhiều người, thất bại của Bergson đại diện cho chiến thắng của ‘lý tính’ trước ‘trực giác’. Nó đánh dấu thời khắc khi giới trí thức không còn theo kịp những cuộc cách mạng trong khoa học do sự ngày càng phức tạp của nó … Quan trọng hơn cả, rồi bắt đầu thời kỳ mà tầm quan trọng của triết học suy giảm trước ảnh hưởng ngày càng tăng của khoa học.
Hai đối thủ trong cuộc tranh luận hầu như không thể khác nhau hơn. ‘Einstein miệt mài kiếm tìm sự thống nhất trong vũ trụ,’ Canales viết, ‘tin rằng khoa học có thể hé lộ các định luật bất biến của nó và mô tả chúng theo cách đơn giản nhất có thể. Trái lại, Bergson cho rằng dấu ấn tối hậu của vũ trụ lại là điều ngược lại: sự biến đổi bất tận.’ Bergson trải qua vài năm đầu đời ở Anh, nhưng phần còn lại sống tại Paris. Cuộc đời ông, như Canales mô tả, là ‘một đời tư gương mẫu’, đời của một nhà hàn lâm tư sản điển hình, chia thời gian giữa giảng đường và mái ấm. Hôn nhân của ông hạnh phúc, và ông nâng niu đứa con duy nhất, một cô con gái khiếm thính nặng nhưng về sau trở thành nghệ sĩ thành công. Ông thanh đạm, chừng mực, điềm tĩnh. Ông cũng ăn chay; trái lại, Einstein là người ăn thịt chính hiệu: ‘Đẹp trai rõ rệt,’ Canales viết, ‘ông đã làm tan nát nhiều con tim khi còn là thiếu niên, có một cô con ngoài giá thú (nhiều khả năng đã được đem cho), bị vợ đầu cáo buộc ngoại tình, trải qua một tranh chấp pháp lý kéo dài về ly hôn và cấp dưỡng [mà ông cần tiền Nobel để chi trả], và sưu tập không ít những lầm lỗi ái tình trên đường đời.’
Đằng sau vẻ dễ mến, ông cũng cực kỳ tham vọng và quyết tâm để mình và quan điểm của mình thắng thế, nhất là trước một nhà triết học đầu óc mơ hồ như là Bergson. Ở khía cạnh này, Canales lần theo một mạch có phần không mấy đẹp đẽ trong hành xử của Einstein. Trong cuộc tranh luận và trong cuốn sách tiếp theo của mình, Duration and Simultaneity, Bergson đã viết về hệ quả của thuyết tương đối theo cách khiến người ta tưởng như ông đơn giản không hiểu lý thuyết vật lý của Einstein. Einstein nêu ra ‘nghịch lý cặp song sinh’ rằng nếu một trong hai anh em sinh đôi thực hiện chuyến du hành trong không gian với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng – điều khi ấy là bất khả và có lẽ sẽ vẫn như vậy – người đó khi trở về Trái Đất sẽ trẻ hơn người anh em, vì thời gian ở tốc độ ấy chậm lại đáng kể. Bergson hoặc không chấp nhận điều này, hoặc không hiểu đầy đủ mệnh đề đó. Trong Duration and Simultaneity ông viết rằng mục đích của mình là ‘chứng minh một cách minh thị rằng không có khác biệt, về phương diện Thời gian, giữa một hệ chuyển động và một hệ tịnh tiến đều’, và rằng nếu một chiếc đồng hồ được gửi đi di chuyển gần tốc độ ánh sáng thì nó sẽ ‘không thể hiện độ trễ khi nó [gặp] chiếc đồng hồ [đứng yên] thật, lúc trở về’. ‘Chỉ một tuyên bố duy nhất về độ trễ đồng hồ này,’ Canales viết, ‘đã đủ để làm ông mất uy tín trong mắt hầu hết các nhà khoa học và một số nhà triết học.’
Einstein năm 1928
Sự hạ thấp Bergson, theo Canales, đã được chính Einstein âm thầm khuyến khích. Đây là khía cạnh của cuốn sách có khả năng gây tranh cãi. Vì sao, bà hỏi, các nhà bình luận cứ khăng khăng phán xét cuộc tranh luận, và xem Bergson là kẻ thua, hầu như chỉ dựa vào sự vụng về của nhà triết học trong vấn đề co giãn thời gian?
Có nhiều lý do vì sao và bằng cách nào người ta đi đến tin rằng Bergson đã mắc sai lầm. Những manh mối thiết yếu ẩn trong các kho lưu trữ – chẳng hạn trong thư từ của Einstein. Ở đó ta học được rằng chính Einstein là người đầu tiên và mạnh mẽ nhất truyền bá quan điểm này, và rằng sâu thẳm bên trong (như ta có thể đọc trong nhật ký và thư từ sau này), ông biết rõ hơn.
Canales thể hiện sự cẩn trọng học thuật trong thái độ với cả hai người, nhưng rõ ràng bà quyết tâm để Bergson được đối xử công bằng. Vấn đề với ông dường như là ông không quan tâm sâu đến khoa học tự thân của thuyết tương đối, mà đến các hệ quả nói chung của lý thuyết này đối với đời sống con người. Ông không cho rằng khoa học, đặc biệt là vật lý học, có khả năng đâm xuyên tới cốt lõi những chân lý mà trên đó chúng ta đặt nền tảng cuộc sống và theo đó mà sống, hay cố gắng sống. ‘Bản chất của khoa học là xử lý các dấu hiệu,’ ông viết trong Creative Evolution, ‘những thứ nó thay thế cho chính các đối tượng.’ Ông không đơn độc trong quan điểm này. Đây, chẳng hạn, là Karl Popper, trong cuốn Quantum Theory and the Schism in Physics có trình bày:
"Chúng ta nợ Kant nỗ lực vĩ đại đầu tiên nhằm kết hợp một cách diễn giải hiện thực về khoa học tự nhiên với nhận thức rằng các lý thuyết khoa học của chúng ta không đơn thuần là kết quả của việc mô tả tự nhiên – của ‘đọc cuốn sách của tự nhiên’ mà không có ‘định kiến’ – mà đúng hơn, chúng là sản phẩm của trí óc con người: ‘Trí tuệ của chúng ta không rút các định luật từ tự nhiên, mà nó áp các định luật của mình lên tự nhiên.’ Tôi đã cố gắng cải biên công thức tuyệt hảo theo tinh thần Kant như sau: ‘Trí tuệ của chúng ta không rút các định luật từ tự nhiên, mà nó cố gắng – với mức độ thành công khác nhau – áp đặt lên tự nhiên những định luật mà nó tự do phát minh ra.’
Ở khía cạnh này, bản thân Einstein không chỉ một lần bày tỏ sự ngạc nhiên rằng các hiện thực vật lý của thế giới lại phù hợp một cách dễ dàng như vậy với những định luật của môn toán học do con người tạo ra. Phải chăng ông có phần nghi ngờ? Chúng ta tri nhận hiện thực, hay chế tác nó? Hay nói theo Wittgenstein, phải chăng khoa học chỉ diễn đạt những điều nằm trong khả năng diễn đạt của chính nó?Trong hai phần hấp dẫn của cuốn sách, về thái độ tương phản của Einstein và Bergson đối với công nghệ mới là hình ảnh chuyển động, Canales đã soi sáng dồi dào phần nào tinh túy trong phản ứng của Bergson đối với quan niệm thời gian của Einstein. Những khoảnh khắc hình ảnh li ti mà máy quay phim ghi lại và sau đó trình chiếu trước mắt ta trên màn hình như thể thời gian thực, là tương tự với quan niệm của Einstein về thời gian như một chuỗi các đoạn kế tiếp dọc theo một ‘đường thế giới’ trong không–thời gian bốn chiều. Với Bergson, thời gian tuôn chảy không đứt đoạn. ‘Sự trôi đi của thời gian hàm chứa sự ra đời của cái mới và điều không thể lường trước. Thời gian không thể bị chứa đựng. Mỗi khoảnh khắc cắn vào tương lai.’ Canales tiếp tục trích ghi chép của một người dự thính tại một bài giảng của Bergson:
Những bức ảnh chúng ta chụp về một con ngựa đang phi nước đại không, thực ra, là các yếu tố của chính cú phi mà từ đó chúng được chụp. Và chiếc máy chiếu, với những chuỗi khuôn hình này, tái dựng quỹ đạo của chúng, không mang đến cho ta ảo giác về chuyển động ngoài việc thêm vào những khuôn hình ấy, dưới dạng một kiểu kế tiếp nào đó, chuyển động mà tự thân chúng không thể chứa.
Nói cách khác, có chuyển động, nhưng ‘nó nằm trong thiết bị’.
Bergson năm 1910
Vấn đề về đồng hồ và sự co giãn thời gian là trọng tâm bất đồng giữa hai người. Rốt cuộc Bergson cũng chấp nhận rằng một chiếc đồng hồ được gửi vào không gian với tốc độ cực cao sẽ cho kết quả khác biệt với một chiếc đồng hồ đứng yên trên Trái Đất: ông chỉ không thấy điều đó quan trọng mấy. Với ông, khoa học hiện đại đã tách khỏi thế giới của kinh nghiệm đời thường, mà theo ông mới là phiên bản duy nhất của thế giới đáng được chúng ta quan tâm. Thời gian đồng hồ đơn thuần là gì so với cảm thức nội tâm phong phú về nhịp triều lên xuống của dòng tồn tục? Như Canales viết, ‘Bergson quan tâm đến các câu hỏi về bằng cách nào, vì sao và trong những hoàn cảnh nào các độ trễ đồng hồ mà thuyết tương đối mô tả nên được coi một cách không mơ hồ là những biến đổi thời gian thực sự.’ Bergson thấy mình đang xử lý ‘vấn đề phân bổ phần thực và phần quy ước’. Còn với Einstein, cái nhìn của Bergson không hơn gì một thứ mộng đẹp: nó thiếu tính nghiêm cẩn khoa học và từ chối thừa nhận ý nghĩa của các sự kiện đo lường được. Canales dẫn lời nhà triết học Pháp đương đại Bruno Latour: ‘Chúng ta nhận ra ở đây cách thức cổ điển mà các nhà khoa học dùng để đối xử với triết học, chính trị và nghệ thuật: “Điều anh nói có thể hay và thú vị nhưng không có liên quan vũ trụ học vì nó chỉ đụng đến các yếu tố chủ quan, thế giới sống, chứ không phải thế giới thực.”’

Cr: cheshire