Heidegger, Sartre và Chủ nghĩa hiện sinh Heidegger phủ nhận việc mình là triết gia hiện sinh, dẫu vậy, sự…
Heidegger phủ nhận việc mình là triết gia hiện sinh, dẫu vậy, sự biện hộ của người trong cuộc ít khi đánh tan được mọi nghi ngờ, ông vẫn hay được xếp vào đầu hàng khi người ta nhắc đến band này. Lý do có lẽ nằm ở ảnh hưởng gián tiếp nhưng sâu sắc của ông đối với toàn bộ trào lưu Hiện sinh chủ nghĩa. Triết học hiện sinh, đặc biệt nhánh vô thần, cụ thể ở đây là Sartre (là người danh chính ngôn thuận nhận mình là người theo chủ nghĩa hiện sinh) đã được truyền cảm hứng và chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Tồn tại và Thời gian (Sein und Zeit, 1927) của Heidegger.
Jean-Paul Sartre đọc Heidegger khi viết Tồn tại và Hư vô (L’Être et le Néant, 1943), và “viết lại” tư tưởng này theo hướng nhân bản và tự do chủ thể. Các khái niệm Heidegger dùng để phân tích cấu trúc tồn tại của Dasein như dự phóng (Entwurf), bị ném (Geworfênhit), lỗi nợ (Schuld), lo âu (Angst), tồn tại-với (Mitsein), hướng-tới-cái-chết (Sein zum Tode), tính đích thực (Eigentlichkeit), tiếng gọi lương tâm (Ruf des Gewissens),… đều được Sartre diễn dịch lại trong một hệ quy chiếu và cách nhìn khác.
Thứ nhất và trước hết cần bàn đến mối quan hệ của họ với siêu hình học (Meta-physic). Sartre phủ định siêu hình học, nhưng vẫn tư duy trong khung siêu hình học cổ điển. Trong Tồn tại và Hư vô, ông tuyên bố: “Không có Thượng đế, con người phải tự tạo ra bản chất cho mình.” Đó là lời khước từ mọi nền tảng siêu nhiên, mọi bản chất phổ quát, mọi mục đích tối hậu; song trong chính cách nói đó, ông vẫn giữ lại mô hình “tồn tại – bản chất” (existence–essence), chỉ đảo ngược trật tự: thay vì bản chất như mục đích tối hậu (telos) quy định tồn tại (Aristotle), Sartre khẳng định “tồn tại có trước bản chất”. Nói cách khác, Sartre vẫn dùng hệ quy chiếu của siêu hình học cổ điển, chỉ là chọn con đường ngược chiều với “siêu việt khách quan” của truyền thống. Triết lý hiện sinh nhân bản luận của ông mang bản sắc một hữu thể học đóng kín trong “ngẫu tính chủ quan” (contingance subjective).
Heidegger thì khác, ông không từ chối siêu hình học mà tìm cách vượt qua nó (Überwindung der Metaphysik) bằng việc quay lại căn nguyên để chỉ ra cái nguồn gốc đã bị quên lãng. Plato nói thế giới Khả niệm ở bên ngoài hang (dụ ngôn hang động), nơi mọi sự được soi rọi dưới ánh mặt trời mới là sự thật (Chân lý). Nhưng con người chúng ta không thể thực sự thoát khỏi hang, nghĩa là không thể trực tiếp gặp sự vật trọn vẹn bên ngoài thế giới Khả giác, do đó ông nói đến “hoán cải” (metanoia): là nhìn mọi sự dưới một ánh sáng khác, bằng cái nhìn của lý trí. Để tìm ra Chân lý, ông đưa ra Ý niệm (Eidos): là bản thể lý tưởng của mọi vật (tồn tại trong thế giới Khả niệm), đồng nhất Tồn tại với một loại hiện hữu cao nhất - cái “là thật nhất” (to ontōs on) soi rọi cho những cái tồn tại (beings), tất cả đều vĩnh cửu, bất biến. Chân lý (aletheia) vốn nghĩa gốc là sự không-bị-che-giấu, đã bị biến đổi từ một trạng thái “khai lộ” sang tính “đúng đắn” (orthotēs). Những lý tưởng của lý giới từ chỗ là suối nguồn ánh sáng khai mở chân lý đã chuyển sang bị nhìn xét như những vật thể, đối tượng. Từ khởi sự này, dòng chảy triết học dần dà đi đến chỗ Chân lý là sự tương ứng giữa tư duy và những cái tồn tại. Triết học đệ nhất cố gắng nghiên cứu về một thực tại như một thực tại tròn đầy, nhưng theo cách có thể nắm bắt bằng nỗ lực thâu tóm mọi cái tồn tại, mà quên mất việc đặt lại câu hỏi về Tồn tại.
Heidegger quay lại từ chỗ “ánh sáng” và “khai lộ”. Tồn tại không phải là một thực thể mà là sự kinh qua của quá trình mà ánh sáng (chân lý) soi rọi các vật thể để chúng có thể hiện ra không-bị-che-giấu. Những nỗ lực của Triết học đệ nhất theo hướng khoa học về “hữu thể xét là hữu thể” chỉ giúp chúng ta biết ánh sáng xét như ánh sáng, sự vật xét như sự vật, và mối quan hệ giữa chúng. Tương tự như cách của vật lý học phân tích ánh sáng và chúng ta tri thức được ánh sáng là một dãy quang phổ, các bước sóng trong dãy phổ màu xanh còn sót lại sau khi chiếc lá hấp thụ sẽ hiển thị ra cho ta thấy chiếc lá màu xanh. Nhưng như thế, rốt cùng thì ta cũng chỉ biết được ánh sáng và chiếc lá có những nguyên lý đó chứ không thể nào biết được ánh sáng hay chiếc lá rốt cuộc là gì. Chỉ có khi ta rời khỏi con đường đó, quan sát sự tồn tại của chiếc lá trong quá trình được soi rọi bởi ánh sáng, ta thấy được những chuyển dịch khác nhau về sắc độ, thậm chí màu khác nhau trong những điều kiện tri nhận khác nhau, thì khi đó ta mới khả dĩ biết được về Tồn tại thực sự (việc “có”) của lá kia qua thời gian của riêng ta đối với nó. Như vậy, Tồn tại là quá trình của Aletheia. Chân lý theo Heidegger, là sự “khai quang” của sự vật trong mối quan hệ sống động với ánh sáng và đối tượng tri nhận, và vì sống động và là quá trình kinh qua nên ‘mất thời gian’. Tiếp nữa, chỉ có Dasein mới là hữu thể duy nhất truy vấn về Tồn tại và thời gian của chính mình (có Thời tính) nên Tồn tại chỉ có thể khai mở thông qua Dasein. Như vậy, toàn bộ truyền thống từ Plato đến Nietzsche đã xem chân lý thuộc lĩnh vực tri thức luận, trong khi ý nghĩa của Tồn tại là một cái gì còn hơn cố nhiên vật (của duy thực) và một cái gì còn hơn cả sản phẩm của ý thức (của duy niệm). Heidegger chuyển Triết học đệ nhất từ triết học về cái cao nhất sang triết học về cái mật thiết nhất khi đặt trọng tâm ở việc hiểu “ý nghĩa của Tồn tại” nơi chính “tồn tại người” (Dasein). Hiện hữu của Dasein là “sống ở đời”, “đã luôn luôn" ở trong một thế giới, ngay cả khi nó triết lý bằng kiến tạo tiên nghiệm, chứ không “hiện diện như một vật thể trước ý thức”. Một thế giới như vậy là khởi điểm cho mọi suy tư và thế giới ấy chỉ có thể lãnh hội được bằng tư tưởng căn nguyên chứ không thể tri thức được bằng “giảng nghĩa” (theo nhân quả) hay quy kết nó và một “hình ảnh thế giới” hoặc thành một tổng số các sự vật hợp lại, do đó “sửa sai” cả hai khuynh hướng duy thực và duy niệm.
Như vậy, Sartre từ chối nội dung của siêu hình học nhưng giữ lại hệ quy chiếu của nó, còn Heidegger giữ lại mối quan tâm siêu hình nhưng thay đổi hình thức và tư duy ấy từ căn nguyên. Rồi từ hệ quy chiếu được đặt lại này, ta luận đến điểm khác biệt thứ hai giữa Heidegger và Sartre, nằm ở ngay tựa đề hai tác phẩm thời danh của mỗi người. “Tồn tại và Thời gian” (Sein und Zeit) của Heidegger đã được Sartre “tiếp thu” và biến đổi thành “Tồn tại và Hư vô” (L’Être et le Néant).
Sartre vẫn nhìn thời gian với góc nhìn chủ thể từ bên ngoài, lấy Hư vô làm trục cho toàn bộ triết học của mình: khai mở trong chính hoạt động ý thức. Khi con người tách mình khỏi thế giới và ý thức rằng “tôi không phải chiếc lá”, “tôi không phải kẻ khác”, … cho đến “tôi không là chính tôi của hôm qua”, thì chính sự phủ định ấy khiến ý thức trở nên “rỗng”, không đồng nhất với bất kỳ hữu thể nào. Khi cái tồn tại-cho-mình hướng đến tương lai bằng dự phóng, nó “hư vô hoá” chính quá khứ của mình xuống thành cái tự-mình (tức cái bất biến và không còn khả năng trở thành). Hư vô này biểu lộ rõ trong cảm thức lo âu (angoisse), khi ta sợ hãi chính tự do của mình: sợ cái không có gì định nghĩa ta ngoài chính ta. Bởi vậy, “con người không là gì khác hơn ngoài những gì họ tự tạo ra”, và Tự do tuyệt đối cũng đồng nghĩa với Hư vô tuyệt đối.
Phần Heidegger, ông cho rằng Tồn tại chỉ có thể được hiểu trong tính thời gian. Dasein sống ở đời luôn là sống với (to be- with), và vì Dasein vốn mang bản chất thời tính nên thế giới và mọi sự vật khác mới có thể hiện ra trong thời gian, tức là có quá khứ - hiện tại - tương lai. Nếu không có con người với tư cách là một hữu thể có khả năng trải nghiệm và mở ra với thời gian thì mọi hữu thể khác cũng chỉ có đó một cách trơ lỳ, tồn tại trong thời gian của chúng không có ý nghĩa. Như vậy, Heidegger cho rằng chính cách ta hiện hữu làm nên thời gian của chính ta, trong khi với Sartre, thời gian là khoảng đứt gãy không bao giờ liền mạch giữa cái đã là và cái đang hướng tới. Dù nhiều khái niệm then chốt được diễn giải trông có vẻ na ná nhau, nhưng bản chất ở hệ quy chiếu (đề cập ở phần trên) là khác nên thời gian của Heidegger không phải cái thời gian mà Sartre sử dụng, khác biệt rõ nét hơn cả có thể thấy ở chính cách nhìn nhận quá khứ. Trong góc nhìn thời gian của Sartre, quá khứ như một thực tại hóa đã hoàn tất, ý thức không bao giờ là quá khứ của nó mà luôn “thoát khỏi” nó bằng khả năng phủ định. Heidegger nói về Dasein với đặc điểm mang cấu trúc song đôi: “bị ném vào thế giới” và “dự phóng đến tương lai”, nghĩa là trong khi hướng tới tương lai, nó đồng thời mang trong mình chiều đã-là của chính sự bị ném. Mỗi khi ta từ tương lai đi về hiện tại, ta nhận ra cái hiện tại này vốn đã “có đó”, tức hiện tại mà ta tri nhận được là quá khứ của chính ta. Đó cũng là lúc Tồn tại được khai mở. Có thể hiểu những điều này dễ hơn khi ta xét ví dụ về đôi giày trong bức tranh của Van Gogh mà Heidegger nêu ra trong “Nguồn gốc tác phẩm nghệ thuật”: Khi đôi giày còn sử dụng bình thường, nó “ẩn mình” trong thế giới công cụ, chỉ là một phần của chuỗi “phục vụ cho” điều gì đó. Chỉ khi đôi giày hư mòn đi, người nông phu mới ý thức về sự hiện hữu của đôi giày vốn gắn bó và đã bị lãng quên trong cõi sống của mình. Cũng vậy, cái chết đưa ta đối mặt với cực hạn của ý thức khi hướng tới tương lai. Trong nỗi khiếp sợ (Angst), ta thấy tồn tại của mình bị sự hủy diệt bào mòn và cái chết đánh dấu một chung điểm, hết thảy mọi thứ đều rút lui. Mọi lo lắng, toan tính, thậm chí cả những ý nghĩa sâu sắc nhất từng chi phối ta, hết thảy bỗng chốc tan biến như gió như mây. Trong cảm thức Angst, Dasein không sợ điều gì cụ thể, mà sợ chính cái không-có-gì, ta trơ trọi và chới với khi đối mặt hư vô. Lúc này ta hoặc lựa chọn lãng quên, thờ ơ và né tránh, hoặc chấp nhận đảm đương cái tồn tại “bị ném vào” thế giới này để tiếp tục hiện hữu, ta được mở ra với Tồn tại đích thực (eigentlich) của mình : “Hư vô không đối lập với Tồn tại, mà cùng với Tồn tại làm cho Tồn tại có thể hiển lộ.” Tồn tại là kỳ diệu, và điều đáng kinh ngạc nhất chính là có-cái-gì-đó thay vì không có gì.
Có thể hình dung rằng với Heidegger, Hư vô như một “đêm thánh”, khi thời khắc của sự vắng mặt chính là lúc Tồn tại tự khai mở trong tính huyền nhiệm của nó; còn với Sartre, Hư vô là chiếc hố sâu ở ngay trong lòng của Tồn tại, nơi ý thức không ngừng phủ định để tự sáng tạo mình. Và qua việc nhìn nhận Hư vô (thứ khiến người ta nghĩ ngay đến triết học Hiện sinh), ta thấy được sự khác nhau cốt lõi:Heidegger: bản thể học của hiện hữu-người đặt nền trên Sein (hữu thể học nền tảng); thời gian là cấu trúc khai mở của Tồn tại, Hư vô thuộc phạm vi bản thể luận, là cách Tồn tại rút lui khiến hiện hữu-người bị quăng về chính tính hữu hạn của mình, đồng thời cũng là điều kiện cho Being hiển lộ.Sartre: hiện sinh thể của con người đặt nền trên ý thức; tự do là cấu trúc nền tảng của “hiện hữu-cho-mình”, Hư vô thuộc phạm vi hiện tượng học của ý thức, là động năng phủ định khiến con người luôn vượt qua chính mình.
Mặc dù phát triển dựa trên Hiện tượng luận và đề “Kính tặng Edmund Husserl” ở ngay đầu Sein und Zeit nhưng Heidegger không tham dự vào đường hướng đi tới một cái ngã tiên nghiệm và tuyệt đối như thầy mình, cũng không bàn về hiện sinh thể theo nghĩa nhân vị học mà là hỏi về Tồn tại (Sein). Muốn hiểu Tồn tại phải hiểu Dasein, do đó phân tích các phạm trù “hiện sinh tính”. Ông gọi triết học của mình là “hữu thể học nền tảng” (Fundamental Ontology).Sartre đề cao hành động: phải luôn làm gì đó, tác động để tạo nên một cái gì. Heidegger nói ngược lại: hãy để tồn tại là Tồn tại (Lass das Sein sein), hãy buông lỏng (Gelassenheit) để sự vật hiện hữu đúng thể cách của nó, hành động đúng nghĩa là “làm cho xuất lộ ra”. Từ góc nhìn này để nhìn về tình yêu thì với Sartre, đó là một nỗ lực bất khả để vượt khỏi đấu tranh giữa hai tự do (một bi kịch của tự do), còn theo Heidegger, tha nhân không phải là “vấn đề” phải giải quyết mà đã là điều kiện nguyên thủy của hiện hữu, ta luôn đã ở-trong-một-thế-giới-cùng-với-những-người-khác. Tình yêu (dù ông không bàn trực tiếp) có thể được hiểu là một cách thái hiện hữu với sự “quan tâm khai mở”. Điều hệ trọng với Sartre là con người tìm thấy chính mình và không còn thừa nhận một uy quyền nào cao hơn, quả thật quyến rũ trong
một vài thời đoạn, nhưng cái giá nó phải đương đầu là tù hãm, buồn nôn và lẩn quẩn nhân sinh. Heidegger xem Tồn tại là một chỗ dựa bí nhiệm, gần gũi mà xa xôi, tuy không phải là thần linh nhưng mang những dấu vết gợi cho ta về cái thiêng liêng mà gắn bó, một mối hoài cảm, cảm trạng kính mộ, quy tưởng. Heidegger để con người khiêm nhường trước Tồn tại cũng là chính là đề cao tính người (humanitas) trong mỗi chúng ta.
Có thể Sartre đã “lờ đi” sự “dị biệt bản thể học” nơi Heidegger nên dễ dàng thay Thời gian bằng Hư vô, chuyển hóa thành một nhân học hiện sinh trong bối cảnh giữa cơn khủng hoảng nhân loại sau Thế chiến II, khi “Tồn tại là gì?” là một câu hỏi trầm tư xa xôi, còn “Con người là gì?” lại là lời kêu gọi vô cùng cháy bỏng. Tư tưởng của Sartre có ảnh hưởng lớn trong những thời đoạn khủng hoảng của lịch sử, khi chiến tranh gây đổ nát và mọi hệ giá trị sụp đổ, con người bị tước hết chỗ dựa đến từ bên ngoài và đối mặt với cái trống rỗng bên trong. Ông thắp lên khả năng đứng dậy từ chính hư vô cho con người, bằng ý thức và hành động tự do. Triết học của Heidegger lại đi vào tầng sâu hơn và “dài hạn” hơn của hiện hữu khi ông nhận ra nhân loại trên tiến trình của mình lại ngày càng xa rời cội nguồn của Tồn tại. Xu hướng khoa học kỹ thuật trở thành “khung sườn” cho mọi sự, thế giới điêu tàn trong hình hài của “tiến bộ”, của “phát triển”, ngập chìm bởi cơn lũ của thông tin, ngôn từ, ý thức hệ,… trong khi những thứ “đích thực” lui về ngày một kín đáo, lặng lẽ hơn. Nếu như Sartre cất tiếng cho thời khói lửa thì Heidegger nhắc ta nghe ra tiếng nói trong thời của lặng im, như một nhắc nhớ quay về giữa những lối nẻo mà bao thời đại qua tiền nhân vẫn còn đang dò dẫm. Triết học Heidegger không những mở ra một chiều kích khác cho tư duy mà còn một cung cách ăn ở cho mỗi chúng ta.
Thú vị hơn nữa khi ta biết Sartre và Heidegger tương phản nhau cả về xuất thân lẫn lối sống. Sartre từng thừa nhận mình là “tín đồ” của Heidegger, và Heidegger cũng từng nghĩ Sartre là người thật sự hiểu ông, hầu như là bạn đồng hành về triết học, cho đến khi Sartre đọc bài diễn văn nổi tiếng “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” (1946). Một năm sau (1947), Heidegger công bố Lá thư về “thuyết nhân bản”, phủ định mạnh mẽ các luận điểm của Sartre, cũng là giới thiệu “khúc quanh” trong tư tưởng của chính mình: thay vì tiếp tục tập trung vào Dasein - hiện hữu-người (dễ bị hiểu lầm theo hướng duy nhân kiểu Sartre), Heidegger chuyển trọng tâm sang việc để cho chính Tồn tại tự khai mở. Thay vì phân tích Dasein để hiểu Tồn tại, ông muốn “lắng nghe tiếng gọi của Tồn tại” (Ruf des Seins). Đây cũng đánh dấu cho sự đoạn tuyệt giữa hai người về mặt triết học. Nếu Sartre là một ngôi sao sáng, nồng nhiệt khẳng định và định nghĩa thuyết hiện sinh thì qua lá thư này, Heidegger làm rõ và phủ nhận việc mình là một triết gia hiện sinh. Cách “hiểu nhầm” của Sartre về những khái niệm then chốt mà Heidegger đặt ra đã tạo nên một phiên bản thời thượng của chủ nghĩa chủ quan siêu hình học. Có lẽ đúng như nhiều học giả nói, đây quả là “một trong những hiểu lầm thú vị và “bổ ích” nhất trong lịch sử triết học.”
Cr: méo