Thật ra thì, Shakespeare vẫn còn sống đấy Về việc dạy Shakespeare, nhà hát Globe, những lầm tưởng, và thực…

Catholic Net · · Đối luận Triết học
Thật ra thì, Shakespeare vẫn còn sống đấy

Về việc dạy Shakespeare, nhà hát Globe, những lầm tưởng, và thực tại.
Văn chương kinh điển không bao giờ chết được -
Đó là điều chúng ta thường bảo học sinh, nhưng theo cách nói cường điệu hơn, rằng: “Shakespeare vượt cả thời gian”, nhưng mỗi khi nhìn thấy một đứa học trò chật vật cố ngốn những dòng thơ nhịp đôi của ông, mình thường tự hỏi, liệu 'vượt thời gian' đó phải chăng chỉ là cách nói khác của những “con thây ma” không? Chúng ta cứ chắc mẩm rằng Nhà Thơ vẫn sống mãi, trong khi học trò thì cứ ước rằng sao ông không yên nghỉ hẳn luôn đi... Trong những năm đại học, mình cũng hết sức ngán ngẩm với những vở như
“Người lái buôn thành Venice”, và tự hỏi tại sao mình phải ngồi đọc những dòng văn chương hết sức khó hiểu của một ông già sống từ bốn thế kỷ trước, với những câu chuyện hoặc là quá sến sẩm, hoặc là chả hiểu nổi luôn.
Thậm chí trước khi các bạn học sinh được đọc Shakespeare, các bạn đã có mường tượng về ông ấy trong đầu rồi. Hai chữ “Shakespeare” vang lên sẽ đi kèm với một hình ảnh kinh điển. Những nhà hát bóng loáng, những cổ áo phồng dày cộm, những chiếc đèn chùm nặng trịch, và một dàn khán giả đầy những ông bà bá tước, gật gù vẻ am hiểu trong ánh đèn mờ. Một dàn khán giả biểu trưng cho hoàng tộc, sự danh giá, và cái gọi là “văn hóa thượng lưu”.
Thực tế thì, nơi những vở kịch của Shakespeare diễn ra thường hỗn loạn hơn nhiều và hơn rất nhiều. Nhà hát The Globe là một sân khấu mở, nửa bằng vàng nửa bằng bùn đất - một vòng cung khán đài phía trên khắc gỗ cầu kỳ dành cho những kẻ quyền quý, và ngay trung tâm của nó là một cái “hố”, nơi cả đám người đứng chen lấn xô đẩy; không khí thì đẫm mùi mồ hôi, mùi bia rượu và cả hơi thở của những kẻ tầm thường. Họ được gọi là những tên “sống dưới mặt đất”, trả chỉ một đồng tiền cho mỗi vé, chân đứng trên mớ rơm dùng để khử mùi rượu bia đổ tứ tung và cả những … chất thải ra sau khi họ nốc rượu vào. Đến đây, ắt hẳn nghe chẳng còn “thượng lưu” lắm.
Thế đó, Shakespeare đã viết cho tất cả: cho vua chúa bên trên, dân đen bên dưới, và bằng cách nào đó, cho cả hai cùng một lúc.
Sự thực chỉ có vậy. Shakespeare đơn giản là để vui, để giải trí. Chẳng có sự thượng lưu nào ở đây cả. Giải trí, mà thôi!
Chính sự “nâng tầm” (dù liệu rằng có thật sự là “nâng” hay không?) lên nghệ thuật thượng lưu dưới thời Victoria đã đẩy những tác phẩm ấy xa khỏi tầm tay người bình dân, trở thành điều gì đó chỉ dành riêng cho người giàu, những người được cho là “có goût”. Thế nên là, trong tâm trí đương đại của chúng ta, hay của chính những bạn học sinh, đọc Shakespeare chẳng khác gì xem ballet, nghe hát opera, hoặc giả ngắm những hoạ phẩm 'hết sức… trừu tượng' của Picasso vậy..
À, có lẽ mình cần phải làm rõ trước một điều rằng, với mình, Shakespeare thật sự đẹp, và thật sự vượt cả thời gian. Đó không phải là nói quá. Chỉ là thứ nghệ thuật ông ấy tạo ra theo thời gian đã trở thành một thứ khó nuốt vô cùng với các bạn trẻ. Chẳng hề dễ dàng để khiến một cô cậu học trò hiểu được sức nặng của câu “Ngắn gọn là linh hồn của trí khôn” - “Brevity is the soul of wit”, hoặc để các cô cậu ấy phải cảm được mớ tình yêu bất diệt (mà trong mắt các bạn ấy là sến rện) của Romeo và Juliet. Và thật cũng chẳng dễ để học trò không ngáp vắn ngáp dài khi đọc mớ chữ này.
Những thứ đó làm mình tự hỏi: Làm thế nào để mình nối lại khoảng cách hàng trăm năm và hàng lớp lớp định kiến giữa chúng ta và các kiệt tác ấy (hoặc chí ít cũng phải ráng chứ nhỉ)?
Trong lúc chật vật để trả lời câu hỏi này, không chỉ để dạy Shakespeare nói riêng mà cả văn chương kinh điển nói chung, mình tự hỏi rằng tại sao họ được xem là kinh điển. Và mình nghĩ đến hai điều - tính phổ quát, và chính ngôn ngữ. Cả hai yếu tố cốt lõi này, mình nghĩ rằng, đều có thể giúp các bạn nhìn ra được cả vẻ đẹp và sự gần gũi trong những vần thơ ấy.
Về tính phổ quát, mình tin rằng có một điều Shakespeare làm rất hay, đó là tính kịch. Dù ai, ở đâu, lại chẳng thích một chút kịch tính chứ (nhỉ?). Và bạn đoán xem, những vở Shakespearean thì lại đầy kịch tính, đầy tranh cãi. Trong khoảng giao giữa thế kỷ 16 và 17, chẳng có gì gây tranh cãi hơn là một mụ phụ thủy cả. Một mụ phù thủy ác độc, là điều kiêng kỵ không được phép nhắc đến. Và… Shakespeare đã cho chúng ta đến 3 mụ, và buồn cười là ta còn được gặp họ trước khi gặp cả nhân vật chính - Macbeth (điều này cũng được đồn đại rằng đã nguyền rủa vở kịch, thậm chí đến giờ những ai tham gia vở kịch cũng kiêng kỵ nói tựa gốc của nó mà phải nói tránh “The Scottish play”). Một điều nữa là, vở kịch được dựa trên một vụ tranh chấp giữa giới quý tộc, và mình tin rằng dù là thời điểm nào trong lịch sử, công chúng đều hết sức ghiền nhìn mấy người nổi tiếng cãi nhau (ừa mình biết mình đang đơn giản hóa Macbeth lắm, nhưng mà ráng chịu tí nha).
Hay là vở Romeo và Juliet, một vở kịch mà chưa cần xem cũng biết chuyện kể về cái gì. Ta nói nó thật sến súa, chê rằng hai đứa nó thật khờ dại. Nhưng mà biết đâu… ý tác giả là thế đó. Vào thời đấy, cậu là một đứa con nít, rồi tới tuổi thì nhảy thẳng qua làm người lớn luôn, chẳng hề tồn tại bão giông ở giữa - giai đoạn mà giờ ta gọi là “tuổi teen”. Và thế là… Shakespeare, như mọi khi, tự đưa những năm tháng ấy lên sân khấu, trước khi bất kỳ ai nhớ mặt đặt tên. Ông ta đã trao tiếng nói cho những cô cậu tuổi vị thành niên, những đứa trẻ trước đó chẳng ai buồn nghe. Đó là những đứa trẻ trong thân xác của người lớn, khờ dại và liều lĩnh, nhưng sống với những xúc cảm mãnh liệt. Chúng sống trong một thế giới mà những khát khao của chúng chẳng có lấy cái kịch bản nào, nên chúng tự viết - một cách ồn ào, vừa dở tệ, vừa đẹp đẽ.
Ừa thì, giờ chúng ta phì cười mỗi khi đọc ấy, giống cái cách mà người lớn hay cười vào sự bốc đồng của tuổi trẻ. Nhưng đó mới chính là tuổi trẻ mà, đó mới chính là “tình yêu tuổi gà bông” mà.
Học trò hay bật cười khi mình bảo rằng nếu họ sống ở thời đại này, thì Romeo là đứa nhắn tin hỏi “Ăn gì chưa” tối ngày, còn Juliet thì đăng story trời mưa nhạc chia tay sướt mướt, trong khi vẫn còn đang quen Romeo. Nhưng tụi nhỏ cũng sẽ gật gù đồng ý. Tại các bạn cũng y vậy mà.
Nói cách khác, với một người đã vài trăm năm tuổi, Shakespeare thật khó giết chết được. Những câu chuyện ông kể, những cảm xúc ông đặt tên, những câu hỏi ông gợi mở vẫn còn chạm đến ngày nay. Tuy nhiên, cái rào cản còn lại, cái mà mình tin rằng là điều ngăn người ta đến cả rào cản đầu tiên, chính là ngôn ngữ.
Ngôn ngữ của Shakespeare thì thật là… già cả (là mình nói nhẹ rồi đó), và mình cũng biết rõ rằng học trò mình thấy chán ngán nhiều lắm khi đọc bài...Nhưng, có phải đó là chán không, hay thật ra là một sự hoài niệm tiếc nuối, cho một thứ ngôn ngữ mà giờ ta chẳng dùng nữa?
Khi giáo viên chúng ta dạy Shakespeare, mình đôi khi băn khoăn rằng ta còn đang dạy điều gì khác nữa. Liệu rằng, có khi ta lỡ lời, lỡ ra vẻ ta đây giỏi nên mới hiểu được những ý khó? Liệu rằng, các bạn học sinh với đầu óc non trẻ của mình, có đang cảm thấy một chút nhỏ bé, bất lực? Có lẽ rằng, ta không chỉ đang dạy văn, mà còn đang khóc thương một quá khứ không có thật. Khóc thương ngày xưa, hồi đó, khi mà ai ai cũng thật đạo đức, thông thái, và trò chuyện thường ngày bằng thơ ca, chả như giới trẻ ngày nay. Cơ mà… nếu mình thừa nhận rằng mình chẳng cần hiểu hết từng lời thì sao? Thật ra thì, thậm chí người thời đó họ còn chưa hiểu hết đó. Và thật ra, không hiểu cũng chẳng sao, vì điều quan trọng chính là nhịp điệu. Không phải bất kỳ nhịp điệu nào, Shakespeare yêu nhất là nhịp iambic -
Ba-dum, ba-dum,
một điệu hòa cùng tiếng đập của trái tim con người.
Nói cách khác, ngôn từ của ông cần được cảm trước khi phân tích, được cùng khiêu vũ trước khi đem ra mổ xẻ.
Điều đó không có nghĩa là mình dừng đọc kỹ những lời của ông. Những câu từ ấy chứa sức nặng; chúng xứng đáng với sự kiên nhẫn của ta. Học trò mình chưa cần phải giải mã được Shakespeare ngay đâu - tụi nhỏ có thể nghiền ngẫm cho đến khi tìm thấy được chính mình đâu đó. Thậm chí đứa chán đời nhất, suốt ngày than vãn “Cuộc đời này chả có gì hết vậy”
có thể thấy chính nó trong những dòng độc thoại của Macbeth, khi cuộc đời chỉ là “một câu chuyện kể bởi những kẻ ngu dốt, ồn ào và đầy cuồng nộ, tượng trưng cho không gì hết.” Hoặc là, thay vì than “Không ai hiểu được tao hết”, Richard đệ tam nói “Hãy đi tìm những kẻ khác giống người hơn/ Đừng tìm tôi: Tôi cô độc mình tôi thôi.” Shakespeare quả thật là đã “emo” trước cả emo.
—-Giờ đây, mỗi khi mình dạy Shakespeare,
mình tự nhắc rằng chẳng ai hiểu hết nổi ông đâu, thậm chí cả những kẻ đương thời. Nên mình bắt đầu đòi hỏi học sinh ít đi, hay đúng hơn là, mình đòi hỏi điều gì đó sâu hơn nơi các bạn. Cả lớp chẳng cần đánh vật từng dòng thơ cho đến khi nó chịu đầu hàng mà thả nghĩa ra. Chúng ta có thể lựa ra những dòng đập hòa nhịp với ta nhất, những dòng nghe như thấy được chính ta trong đó. Mình bảo học trò hãy bắt đầu từ đó.
Khi nghe Romeo khóc lên “Tôi quả là gã khờ của số phận”, hay nghe Macbeth thở dài “Ngày mai, mai, và mai nữa”, mình sẽ hỏi các bạn: Câu thơ đó nghe như thế nào đối với em? Đôi khi, các bạn sẽ nghệch mặt ra; đôi khi, một thoáng nhướng mày hiện trên khuôn mặt, như thể đã nảy ra ý nào đó mà các bạn không muốn, hay không biết nói sao cho thành lời. Và bạn ơi, đó là lúc mình vào việc nào.
Nhiệm vụ của mình chẳng phải là biến các bạn ấy thành chuyên gia ngôn từ (mà chắc là chưa thôi), mà đó là giúp các bạn lắng nghe nhịp điệu cho đến tìm thấy nhịp đập của chính mình trong đó. Đó là đào sâu vào câu từ cho đến khi tìm thấy mỏ vàng cảm xúc. Có lẽ, đó là điều giữ cho Shakespeare vẫn còn sống - chẳng phải là những câu phân tích, mà là sự mãi bỡ ngỡ, mãi kinh ngạc của chúng ta. Có lẽ, với Shakespeare, cái cách mà cậu học trò khẽ “àa” một tiếng trong lớp học 400 năm sau nghe như, trong thoáng chốc, một tràng vỗ tay thật giòn giã.
Mãi cho đến khi “cuộc đời ta cuộn tròn vào trong giấc ngủ”,Blue.

Cr: jennyjackson126