"Cogito, ergo sum (Tôi tư duy, nên tôi tồn tại)" - René Descartes Câu nói "Tôi tư duy, nên tôi tồn tại" (I…
Câu nói "Tôi tư duy, nên tôi tồn tại" (I think, therefore I am/Cogito, ergo sum) của triết gia René Descartes đã quá nổi tiếng với chúng ta. Nó xuất hiện ở khắp mọi nơi, trên cái phương tiện truyền thông đại chúng nhằm đại diện cho những ý tưởng mang tính cách mạng. Người người ergo sum, nhà nhà ergo sum để bộc lộ tinh thần yêu mến triết học. Tuy nhiên, có lẽ Descartes nếu có tái sinh ở năm 2024, ông chắc hẳn sẽ muốn sửa lại câu nói này của mình vì nó diễn tả không hề chính xác ý tưởng triết học mà ông muốn truyền đạt. Những triết gia hậu Descartes vì vô tình hay hữu ý, đều xoáy sâu vào ngôn từ để phản biện và châm biếm ông. Trong bài viết này, mình xin liều lĩnh phân tích câu nói của ông dưới sự hiểu biết hữu hạn của mình.
Trước tiên, mình xin được minh oan cho một hiểu lầm lớn mà chúng ta thường gặp khi phân tích câu nói này của Descartes:
Descartes không cho rằng tư duy ra đời trước sự tồn tại. Đúng là Descartes đã dùng "I think", nghĩa là "Tôi tư duy", trước câu "therefore I am", nhưng ông không có ý ám chỉ việc nào có trước hay việc nào có sau cả. Nhiều triết gia bị ám ảnh bởi logic của câu từ, nên họ thường hiểu lầm rằng ông đang có ý nói "Tôi tư duy, vì vậy nên tôi mới có thể tồn tại". Họ cho rằng Descartes đang giả định "sự tư duy" sinh ra trước và "sự tồn tại" nối liền phía sau. Nghĩa là, tôi đang tự tư duy ra toàn bộ sự tồn tại của chính tôi. Câu khẳng định này thuộc về chủ nghĩa Duy Lý, một chủ nghĩa nổi tiếng gắn liền với triết học Descartes. Về mặt khoa học hiện đại (sinh học), chúng ta hay quan niệm rằng phải có não bộ trước rồi mới có thể tư duy. Theo cách hiểu này, chúng ta khó có thể lý giải tại sao các triết gia Duy Lý có thể tự tin khẳng định như thế; vì kết luận này đến từ đức tin. Họ tin rằng có một linh hồn đang ngự trị bên trong cơ thể vật lý của mình. Nghĩa là, linh hồn này được sinh ra trước và là vật chủ của tư duy; còn cơ thể vật lý, thứ đảm nhiệm nghĩa vụ thu thập những trải nghiệm của thế giới xung quanh thông qua các giác quan, được sinh ra sau. Khi cơ thể vật lý chết đi thì các giác quan cũng chết theo, nhưng linh hồn sẽ đi đến một thế giới khác mà ở đó khả năng tư duy vẫn còn.
Tuy nhiên, đây không phải là một cách hiểu đúng về câu nói của Descartes. Chúng ta cần phải xét ngữ cảnh khi mà ông đưa ra nhận định trên. Descartes rất hay mơ, và cũng giống như Leonardo Di Caprio trong Inception, ông không thể ngừng hoài nghi về thế giới xung quanh mình. Liệu những thông tin mà ông thu thập được từ thế giới có phải là thật, hay cũng chỉ là một giấc mơ khác? Và rồi ông cũng nghi ngờ chính sự tồn tại của ông, nếu ông không tồn tại, phải chăng những suy tư về thế giới này là vô nghĩa hay sao? Descartes cần biết chắc chắn rằng sự tồn tại của ông cũng là thật để làm cái trục cho những tri thức của mình.
Chính xác hơn, Descartes nên nói rằng "Tôi hoài nghi, nên tôi tồn tại" (I doubt, therefore I am/Dubito, ergo sum) vì nó diễn tả cụ thể nhất khả năng nào của tư duy mà ông nghĩ là có thể khẳng định cho sự tồn tại. Trước tiên, chúng ta phải thống nhất thuật ngữ "hoài nghi" mà mình muốn phân tích. Hoài nghi nghĩa là chúng ta đặt một sự nghi ngờ về sự "có tồn tại" của một sự vật. Sự nghi ngờ này bắt nguồn từ những thông tin và cảm giác không hoàn toàn chính xác về thế giới vật lý mà các giác quan (thị giác, thính giác, xúc giác, vân vân) thu thập được. Một số ví dụ cho thấy sự thiếu chính xác của các giác quan:
1. Một người mù màu đỏ-lục không thể thấy được màu đỏ giống như người bình thường. Thậm chí, với những người bình thường, cũng không cách nào chứng minh được là màu đỏ mà tôi nhìn thấy cũng là màu đỏ mà bạn nhìn thấy.
2. Tôi không thể nào chứng minh được là những ký ức của tôi không phải là sản phẩm của một chương trình mô phỏng siêu thông minh nào đó được cấy ghép vào bên trong tư duy của tôi.
3. Tôi cũng không thể chắc rằng những người tôi gặp trong đời không phải là những nhân vật ảo (NPC) trong một chương trình mô phỏng được cấy vào trong tư duy của tôi.
Descartes khẳng định rằng sự hoài nghi là bằng chứng rõ nhất cho một cái “tôi” có tồn tại. Vì sao? Vì chúng ta có thể hoài nghi bất kì mọi vấn đề, nhưng chúng ta không thể hoài nghi chính sự hoài nghi. Hoài nghi sự hoài nghi cũng là một hoài nghi. Vòng lặp cứ thế diễn ra và dẫn đến vô tận, và chúng ta không thể phủ nhận sự tồn tại của nó. Vì thế, chắc chắn phải có một nguồn phát ra sự hoài nghi. Nghĩa là, nếu nhận thức của chúng ta có đang bị cô lập ở một thế giới song song nào đó tách biệt với thế giới vật lý mà chúng ta đang trải nghiệm, thì chắc chắn là phải có một vật đang đảm nhận công việc này. Và cái vật này là cái duy nhất mà chúng ta có thể "thấy" và chắc chắn được là có tồn tại, nên ta phải cho rằng nó cũng là "tôi". Từ đó, chúng ta phải chấp nhận nó là thứ "thật" nhất để chứa những tri thức của chúng ta về thế giới, để phân định cái gì là sự thật phổ quát, và cái gì chỉ là "ảo giác". Dựa vào cái "tôi" này, Descartes đã có thể xây dựng những lý giải của mình về cách nhận thức thế giới xung quanh. Ông cho rằng chúng ta có thể nhận thức được về những vật chất khách quan là vì có một vị Chúa toàn năng hỗ trợ chúng ta làm điều đó (không liên quan đến tôn giáo). Tuy nhiên, đó sẽ là một chủ đề khác vào ngày khác.
Vì vậy, nếu bạn cũng giống như Descartes, cũng hoài nghi về thế giới mà chúng ta đang sống, thì bạn có thể yên tâm rằng bạn không thể hoài nghi chính mình được.
Ít nhất là cho đến thời điểm bạn chưa đọc những triết gia khác!
Cr: Nam Tước Tín