Triết Học Hậu Phân Tích Thuật ngữ 'triết học hậu phân tích' lần đầu tiên được sử dụng vào giữa những năm…
Thuật ngữ 'triết học hậu phân tích' lần đầu tiên được sử dụng vào giữa những năm 1980, vào thời điểm đó, nó đề cập đến những triết gia "mắc nợ triết học phân tích" nhưng lại…tin rằng họ đã rời bỏ nó (triết học phân tich). Thuật ngữ này thoạt nghe có vẻ kỳ quặc, rốt cuộc, làm thế nào các triết gia có thể ‘hậu’ hay phản phân tích? Chắc chắn ngay cả hầu hết các ví dụ về triết học hậu phân tích cũng sẽ chứa đựng các loại phương pháp luận…phân tích.
Vì vậy, thuật ngữ này thay vào đó phải đề cập đến truyền thống (theo nghĩa rộng) của triết học phân tích, nhưng những khía cạnh nào của truyền thống đó? Những triết gia cụ thể nào? Có phải tất cả các triết gia phân tích đều có một bản chất triết học chung? Và đừng quên rằng “phân tích triết học” đã diễn ra từ lâu trước khi truyền thống phân tích được phát triển. Hume, Hobbes, Aquinas, v.v. đã làm gì nếu nó không - ít nhất là một phần - phân tích?
Trên đây là tất cả những vấn đề sơ khởi, mà ở một mức độ nào đó, sẽ lắng xuống khi lịch sử và cách sử dụng thuật ngữ 'triết học hậu phân tích' được nghiên cứu. Tuy nhiên, thực sự đó là sự phân tích mà một số triết gia dường như có vấn đề, hay nói đúng hơn là , có lẽ chính xác hơn khi nói 'phân tích triết học' thay vì 'phân tích' đơn giản. Điều này hiển nhiên đúng vì thuật ngữ 'phân tích triết học' cụ thể hơn 'phân tích' và nó có thể/sẽ chứa đựng những giả định về những gì phân tích triết học thực sự là! Có 3 vấn đề phải nói tới khi luận về Triết Học Hậu Phân Tích: “Chân Lý Khách Quan”; “Chính Trị trong Triết học” và cuối cùng, dĩ nhiên là, “Richard Rorty”.
1. Triết học Hậu Phân Tích nghĩ gì về “Vấn đề Chân Lý Khách Quan”
Nếu chúng ta muốn xác định điều mà các triết gia hậu phân tích coi là vấn đề (hoặc đơn giản là 'một vấn đề') của triết học phân tích, thì tốt nhất nên tham khảo chủ nghĩa thực dụng cuối thế kỷ 20 và chủ nghĩa thực dụng đương đại của Mỹ và phong trào hậu phân tích (tức là không phải là một trường phái triết học xác định). Nhiều người sẽ nói rằng những người Mỹ theo chủ nghĩa thực dụng này có vấn đề với chính khái niệm về chân lý khách quan, chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tượng trưng. Chúng là những thứ mà họ coi là một ý tưởng cố định trong suốt lịch sử triết học trước khi đến với triết học phân tích thế kỷ 20. Trong mọi trường hợp, quan điểm cho rằng chân lý khách quan không tồn tại (hoặc đó không phải là một mục tiêu xứng đáng trong triết học) đi cùng với sự nhấn mạnh về tính ngẫu nhiên của hoạt động nhận thức; tầm quan trọng của quy ước và tính hữu dụng; và, thực sự, ý tưởng rằng con người Không bao giờ có thể bỏ qua sự tiến bộ (xã hội) - ngay cả trong triết học. Ví dụ, và theo những thuật ngữ rất cơ bản, người ta có thể đưa ra một phân tích triết học về chính "phân tích triết học" (hoặc một phần nào đó của nó), và sau đó, kết quả là, nhìn nhận các vấn đề triết học bằng phân tích triết học đó về lĩnh vực của triết học phân tích (hoặc phân tích triết học). Thật kỳ lạ, Richard Rorty dường như đã đồng ý với quan điểm này hoặc, ít nhất, ông ấy đã nói điều gì đó tương tự. Trong một cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi Wayne Hudson và Win van Reijen, Rorty nói :
"Tôi nghĩ rằng triết học phân tích có thể giữ những phương pháp mang tính chuyên nghiệp cao, nhấn mạnh vào chi tiết và cơ học, đồng thời bỏ đi "dự án siêu việt" của nó. Tôi không có ý chỉ trích triết học phân tích như một phong cách. Đó là một phong cách hay. Tôi nghĩ đó là những năm tháng tính siêu chuyên nghiệp có ích.”
Phải nói rằng quan điểm này là "tương tự" với quan điểm của Rorty. Nó tương tự ở chỗ một triết gia phân tích không cần phải "bỏ dự án siêu việt của [anh ta]". Nghĩa là, một triết gia phân tích có thể nhận thức đầy đủ về quan điểm của Rorty/ lập luận (hoặc quan điểm chung của các triết gia hậu phân tích) và vẫn cam kết với dự án siêu việt đó (Tất nhiên chúng ta cần biết Rorty muốn nói gì khi nói từ “dự án siêu việt - transcendental project”.)
2. Triết học phải có tính chính trị?
Có vẻ như quan điểm của nhiều triết gia hậu phân tích về bản chất chủ yếu là chính trị - hoặc ít nhất là xã hội. Ví dụ, Hilary Putnam (1985) đã nói rằng triết học phân tích đã “đi đến hồi kết của dự án của chính nó - ngõ cụt”. Điều đó có thể được hiểu là triết học nên kết nối bản thân nó một cách triệt để hơn với các ngành học thuật khác. Hoặc, rộng hơn, triết học phân tích đó nên kết nối với toàn bộ nền văn hóa hoặc xã hội. Vấn đề là ở chỗ, trong hay ngoài, triết học phân tích đã tự kết nối với nhiều ngành khác. (Phải thừa nhận rằng điều đó đã xảy ra nhiều hơn kể từ những năm 1980 và sự phát triển của khoa học nhận thức.) Chỉ cần đưa ra một vài ví dụ như: những người theo chủ nghĩa thực chứng logic tự kết nối mình với khoa học (hoặc ít nhất là với vật lý). Ví dụ: các nhà triết học ở thế kỷ 19 đã tự kết nối mình với logic, toán học và một lần nữa với khoa học. Bản chất “liên ngành” không phô trương này của triết học trên thực tế đã tồn tại xuyên suốt lịch sử triết học. Người ta cũng có thể nói rằng triết học có thể tự kết nối với các ngành khác - và thậm chí cả văn hóa nói chung - và vẫn là triết học phân tích. Các triết gia vẫn có thể thực hành phân tích triết học. Một triết gia cũng có thể hỏi tại sao anh ta nên kết nối bản thân với các ngành khác - đừng bận tâm đến những thứ mơ hồ (hoặc rộng lớn) như văn hóa. Nói cách khác, một triết gia phải có những lý do triết học để giải thích tại sao điều này lại là một điều tốt; giống như một triết gia phải có những lý do triết học giải thích tại sao nó là một điều xấu. Điều đó có nghĩa là sẽ có những góc độ triết học cho chính cuộc tranh luận này, mặc dù, có thể nói thêm, những góc độ đó không nhất thiết lúc nào cũng mang tính chất triết học.
Một quan điểm khác về “sự đối lập nhị nguyên” giữa triết học & xã hội" này là người ta cho rằng triết học phân tích quá chuyên nghiệp và do đó quá hẹp. Nói cách khác, các triết gia phân tích quá quan tâm đến những vấn đề rất nhỏ, hẹp và chuyên biệt và gần như không có mối liên hệ nào hơn về mặt kỹ thuật và triết học, người ta cũng có thể lập luận rằng một số cam kết và giả định trọng tâm nhất định của triết học phân tích đã được chứng minh là không thể giải quyết triệt để được. Tuy nhiên, có thể nói rằng tất cả các ngành học đều liên quan đến những vấn đề hoặc mối quan tâm hẹp hoặc chuyên biệt, dẫu vậy lời buộc tội này thường nhắm vào triết học phân tích hơn bất kỳ môn học thuật nào khác.
3. Richard Rorty
Richard Rorty dường như đang nói về triết học phân tích như nó đã từng trong quá khứ (chẳng hạn như những năm 1950 đến những năm 1970), chứ không phải như ngày nay hay như đã từng kể từ những năm 1980. Hãy xem rằng triết học phân tích có mục tiêu chính là một dạng kiến thức làm nền tảng cho tất cả các dạng kiến thức khác. Điều này thật kỳ lạ. Đúng là nhiều triết học truyền thống đã đặt nhiều lĩnh vực triết học khác nhau vào vị trí của cái từng được gọi là Đẹ Nhất Triết học. (Nó từng là siêu hình học, sau đó là nhận thức luận, rồi Triết Học Ngôn ngữ, rồi Triết học Tâm Thức…) Tuy nhiên, điều này đã không còn đúng trong thế kỷ 20. Quả thực, các triết gia - trong suốt thế kỷ 20 - đã lập luận chống lại bản chất của Đệ nhất Triết học.
Lấy những người theo chủ nghĩa tự nhiên học (chẳng hạn như những người theo chủ nghĩa thực chứng logic, sau đó là Quine) làm đơn cử: Có thể cho rằng, họ đặt khoa học hoặc vật lý vào vai trò của Đệ nhất Triết học đầu tiên. Phải nói rằng, cũng như bản thân Hậu triết học của Rorty là một quan điểm triết học, nỗ lực của Wittgenstein nhằm “làm tan biến” và sau đó coi thường các vấn đề triết học (nếu không phải là chính triết học) cũng vậy. Quan điểm này có thể cũng được cho là của Putnam và John McDowell, cũng như của Rorty (Một ví dụ cụ thể hơn về điều này là “vấn đề” về cách trí óc và ngôn ngữ được kết nối với thế giới.). Dù sao đi nữa, cũng có cơ sở vững chắc để lập luận rằng quan điểm sau này của Rorty thiên về hậu triết học hơn là triết học hậu phân tích. Nói cách khác, giống như Heidegger và Derrida, Rorty có vấn đề với toàn bộ chương trình triết học và ở đây một lần nữa, người ta có thể lập luận rằng quan điểm của Rorty mang tính chính trị (hoặc xã hội) hơn là triết học nghiêm túc và Rorty chắc chắn sẽ vui vẻ thừa nhận (Jacques Derrida đã thừa nhận điều này.)
Cr: Kiến