Cuối cùng thì thời gian là gì và liệu Henri Bergson có đang bị thời gian quên lãng không?
Bergson từng là một trong các triết gia nổi tiếng nhất thế giới; ngày nay, những hiểu biết sâu sắc vẫn còn tính hữu dụng của ông dường như đã bị bỏ qua một cách bất công. Trong nhiều thập niên của nửa đầu thế kỷ 19, Henri Bergson (1856–1941) có lẽ là triết gia (Pháp quốc) nổi tiếng nhất thế giới. Giờ đây, buồn thay, ông gần như đã bị lãng quên vì các tác phẩm của ông bị xem là suy đoán đơn thuần một cách không thực chứng, và vì phương pháp luận của ông không thể quy giản thành các phương pháp của triết học phân tích. (Đây có lẽ cũng là hệ quả tất yếu trước sự thống trị của triết học logic thực chứng Anh Mỹ trong thời đại của chúng ta). Bergson, tương tự như G.W.F. Hegel, coi tri thức như một quá trình phát triển liên tục, nhưng ông bác bỏ tính nhân quả cơ học của chủ nghĩa lịch sử Hegel, thay vào đó, ông đã phát triển một cách tiếp cận triết học rất độc đáo, có vận dụng đến các nghiên cứu của Kant, Hegel và chủ nghĩa thực dụng.
Bergson giải thích sự phân chia triết học phân tích / triết học lục địa
Bergson đề xuất rằng trong nỗ lực tìm hiểu thế giới, có hai phương pháp để đạt được kiến thức về một đối tượng: “Phân tích” tìm cách hiểu một đối tượng cách tuyệt đối, “trực giác” tìm cách hiểu một đối tượng cách tương đối. Phương pháp phân tích là phương pháp khoa học và triết học nhằm phân tích tư duy để thu được kiến thức thực nghiệm về thế giới và đó là cách tư duy thông thường mà người phương Tây đã luôn được học. Kể từ Aristotle, triết học đã coi mọi thứ trong vũ trụ là những thực thể rời rạc vốn luôn duy trì bản sắc của chúng ngay cả khi trải qua thay đổi. Khi nhìn lại tất cả các triét gia mà chúng ta có thể nhớ tới cho đến nay, bạn có thể thấy công việc của họ đa phần là giải quyết các vấn đề được tạo ra bởi giả định rằng mọi thứ đều là một thực thể: các vật thể như thế nào, chúng giống nhau và khác nhau ra sao, chúng thay đổi như thế nào và làm thế nào chúng ta có thể có kiến thức về chúng? Phân tích là phương pháp xuất phát từ giả định này. Đó là phương pháp tách biệt đối tượng vật thể khỏi môi trường xung quanh, chia nhỏ đối tượng này thành các phần về mặt khái niệm, diễn giải các phần được phân chia và tái tạo lại bối cảnh của đối tượng sau khi phân tích.
Tuy nhiên, Bergson nói, việc phân tích phụ thuộc vào các biểu tượng đại diện cho các bộ phận của vật thể và sau đó lại phụ thuộc vào việc sử dụng các biểu tượng để tái tạo lại hình ảnh của vật thể đó. Điều này tương tự như nhận thức luận của Locke, trong đó những ý tưởng đơn giản kết hợp thành những ý tưởng phức tạp, nhưng đây là cách tiếp cận mà Bergson muốn chúng ta ngừng sử dụng. Ông nói, các biểu tượng, từ ngữ và ngôn ngữ là những rào cản giữa chúng ta và thực tế. Triết học của Bergson không phải là một nhận thức luận theo nghĩa thông thường. Bergson lại nói rằng chủ nghĩa kinh nghiệm đích thực là “trực giác – intuition”. Bergson sử dụng “trực giác” khác với những gì chúng ta đã biết trước đây, các triết gia như Descartes đã sử dụng “trực giác” để mô tả sự hiểu biết ngay lập tức, trong khi Bergson sử dụng “trực giác” như một sự “nhập vào đồng cảm - sympathetic entering”trong những gì được quan sát, thay vì đi vòng quanh nó từ bên ngoài. Khi nói “đồng cảm”, Bergson không có ý nói là một cảm xúc mà là một hoạt động thông qua mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau, như trong sự rung động đồng cảm của hai sợi dây. Trực giác đang đi vào trải nghiệm để trở thành một phần của những gì được quan sát. Trực giác là một trải nghiệm không thể thiếu, một chuỗi hành động trong cái mà Bergson gọi là “thời đoạn – duration, và do đó, là một phương pháp trải nghiệm. Một trong những ví dụ mà Bergson đưa ra về sự khác biệt giữa phương pháp phân tích và phương pháp trực giác là trải nghiệm một thành phố. Nhìn vào những bức ảnh của một thành phố, thậm chí là một bộ sưu tập được chụp từ mọi góc nhìn, bạn không thể tái tạo lại thành phố đó là như thế nào. Chỉ bằng cách vào thành phố và đi bộ dạo qua nó, bạn mới có thể hiểu được ở đó có gì. Ví dụ khác của ông là đọc bài bình luận về một bài thơ của Homer. Dù có đọc bao nhiêu bài bình luận, bạn cũng không bao giờ có thể nắm bắt được giá trị của việc trải nghiệm bài thơ bằng ngôn ngữ gốc của nó. Phân tích có thể cho chúng ta những bức ảnh và lời bình luận, nhưng nó không thể cho chúng ta trải nghiệm về bản thân sự vật. Phân tích có giá trị riêng của nó và cung cấp cho chúng ta một số hiểu biết, nhưng để biết được bản thân sự việc đòi hỏi phải có sự đồng cảm đi vào trực giác. Bergson nói rằng bằng trực giác, chúng ta có thể nắm bắt thực tế từ bên trong.
Thời đoạn - Triết lý về thời gian của Bergson
Trực giác bắt đầu bằng việc đi vào “thời đoạn”, một khái niệm của Bergson. Thời đoạn là quan niệm của Bergson về thời gian và ý thức mà ông đề xuất nhằm giúp khắc phục các vấn đề của phương pháp phân tích. Bergson nhận ra rằng thực tại là một dòng hoạt động liên tục chứ không phải là những tĩnh tại. Mọi thứ đều liên tục thay đổi, và nền tảng của dòng chảy thực tại là thời gian. Ông nhận ra rằng chúng ta trải nghiệm thời gian, nhưng không phải bằng giác quan hay lý trí mà thông qua giác quan bên trong.
Triết học về thời gian của Bergson là một khám phá khéo léo và có tính sáng tạo cao về một chủ đề mà ít triết gia đảm nhận. Bergson xác định hai cách mà chúng ta có thể nghĩ về thời gian. Cái đầu tiên là cái mà ông gọi là “thời gian khoa học” hay “thời gian đồng hồ”, đây là thời gian được hình thành bằng phương pháp phân tích (như đã trình bày trên). Cái còn lại là “thời đoạn” hoặc “thời gian thực”, đây là thời gian mà chúng ta đang sống. Khoa học cố gắng đo thời gian một cách chính xác, nhưng khái niệm thời gian của khoa học thực ra là một sự trừu tượng dựa trên khái niệm không gian. Cuốn sách đầu tiên của Bergson về thời đoạn là “Thời gian và ý chí tự do: Một bài luận về dữ liệu tức thời của ý thức” (1889). Như tựa đề sách cũng đã đã chỉ ra, Bergson nghiên cứu nội dung của ý thức, tương tự như dự án hiện tượng học của Husserl, ông chấp nhận thực tại của ý chí tự do và nói rằng các triết gia khác xem ý chí tự do là một vấn đề triết học chỉ vì họ mắc kẹt vào phương pháp luận phân tích khách quan, chẳng hạn Kant phải xác định ý chí tự do nằm ngoài thời gian và không gian vì ông nhầm lẫn khái niệm “mọi thời gian” với khái niệm “không gian bất động vốn tuỳ thuộc vào tính nhân quả”. Ngược lại, Bergson phân biệt giữa thời gian và không gian, loại bỏ thời gian khỏi tính nhân quả không gian cơ học và đặt nó trong thời đoạn. Ý chí tự do cũng nằm trong thời đoạn, mà thôi.
Vậy thời đoạn là gì? Một số nhà nghiên cứu cho rằng không chắc là ngôn ngữ của chúng ta hoàn toàn “phù hợp và đủ” để định nghĩa khái niệm này của Bergson, nhưng may mắn thay, Bergson đưa ra được một số ví dụ: ông hình dung thời đoạn giống như hai cuộn dây. Cuộn thứ nhất liên tục cuộn lại khi thời gian trôi về phía trước, và cuộn thứ hai thì lại liên tục cuộn theo, thu thập những ký ức do cuộn thứ nhất để lại. Cuộn thứ hai chính là ý thức, tượng trưng cho cách chúng ta tận dụng thời gian và thu thập kinh nghiệm trong đó. Mỗi khoảnh khắc trong ý thức đều khác với tất cả những khoảnh khắc trước đó vì hiện tại luôn được thêm vào ký ức của quá khứ. So sánh tương tự tiếp theo của ông là cách chúng ta trải nghiệm thời gian giống như chúng ta trải nghiệm màu cam, điều này cũng minh họa thời đoạn được kết nối với trực giác như thế nào. Nếu chúng ta có một sự “nhập vào đồng cảm - sympathetic entering” trong màu cam, chúng ta sẽ cảm nhận được mình nằm giữa màu đỏ và màu vàng. Khi nỗ lực cảm nhận màu cam, chúng ta cảm nhận được nhiều sắc thái khác nhau của màu cam giữa đỏ và vàng. Nỗ lực hơn nữa sẽ mở ra cho chúng ta khả năng nhận biết các sắc thái sáng hơn và tối hơn của từng màu cũng như toàn bộ dải màu và độ bão hòa màu sắc. Tương tự như vậy, chúng ta có thể xem xét nội tâm bằng “sympathetic entering” trong thời đoạn của chính mình. Khi làm vậy, chúng ta có thể cảm nhận được bản thân mình trong nhiều thời đoạn khác nhau. Bằng nỗ lực, chúng ta có thể mở rộng trực giác của mình để tiếp xúc với một “cộng đồng các thời đoạn” có sắc thái và độ bão hòa khác nhau. Chúng ta có thể theo dõi các thời đoạn hướng lên trên về phía tinh thần và đi xuống về phía vật chất trơ - và quả thực, theo đúng như cách của Plotinus trứ danh. Thực tại giống một chất lỏng hơn là một chuỗi các đơn vị rời rạc, vì vậy, đối với Bergson, thời đoạn không phải là một nhận thức về hình ảnh như một triết gia duy nghiệm sẽ hiểu mà là sự hòa vào một dòng chảy.
Để dễ hình dung, điều này giống như việc chúng ta đang “quay số lên hoặc xuống” chính trải nghiệm của chúng ta về thời gian. Chúng ta làm điều này một cách vô thức, như đã được chỉ ra trong câu nói cổ, “Thời gian trôi nhanh khi ta đang vui vẻ”, ngược lại, chúng ta cũng biết thời gian có thể kéo dài như thế nào khi bạn phải chờ đợi một trải nghiệm khó chịu kết thúc, chẳng hạn như việc đọc chính bài viết triết học này! Vậy đấy, thời gian là một dòng chảy liên tục không thể phân chia và đồng hồ là một sự trừu tượng nhân tạo do chúng ta tạo ra. Chúng ta có thể và thực sự chia thời gian thành các thực thể riêng biệt, có thể đo lường được: giờ, phút, giây. Những phân chia này dĩ nhiên là hữu ích, nhưng bản thân khái niệm “một giờ” thì không tồn tại và Bergson cho rằng các đơn vị tính thời gian trở nên có hại cho chúng ta khi chúng ta nhầm lẫn chúng với thực tại.
Quá trình trải nghiệm
Khi chúng ta không coi đối tượng vật thể là một thực thể và không coi thời gian là một chuỗi các đơn vị tính riêng biệt, chúng ta sẽ có thể mở lòng mình ra để xem thực tại thực sự là gì và là như thế nào. Khi chúng ta hiểu rằng quá trình, tính tự phát và tính sáng tạo là nền tảng của thực tại, chúng ta có thể hiểu trật tự và sự ổn định trong các vật thể như những khuôn mẫu trong dòng chảy năng động. Thực tại này là tính di động, đúng vậy, thực tại không phải những thứ được tạo ra mà là những thứ đang được tạo ra, thực tại không tồn tại trong những trạng thái tự duy trì mà chỉ tồn tại ở những trạng thái luôn thay đổi. Trạng thái tĩnh tại chỉ là tương đối. Ý thức mà chúng ta có về bản thân mình trong dòng chảy liên tục của nó giúp đưa chúng ta vào bên trong của một thực tại, mà trên mô hình đó chúng ta phải thể hiện những thực tại khác. Do đó, mọi hiện thực đều là xu hướng (Giới thiệu về Siêu hình học, 65).
Ý tưởng cho rằng thực tại là có tính di động và tính xu hướng và là một quá trình có ảnh hưởng vô cùng lớn đến triết học lục địa cũng như tất cả các ngành khoa học và nhân văn lấy cảm hứng từ nó. ‘Triết lý quá trình’ của Bergson tìm thấy sự cộng hưởng trong vật lý lượng tử và lý thuyết hỗn mang – chaos theory… cùng với các nhánh khác của khoa học. Thông qua trực giác và thời gian, chúng ta thấy rằng chúng ta không đang phải đối mặt với các thực thể, câu hỏi “Ngày mai thời tiết thế nào?” không phải là hỏi về một thực thể. Tình bạn, một kỳ nghỉ, một trường đại học, một hệ sinh thái và dư luận…là tất cả những khái niệm mà chúng ta có thể nghĩ đến và sử dụng một cách có ý nghĩa trong câu, nhưng chúng không phải là đối tượng vật thể hay thực thể. Những khái niệm như vậy là sự thể hiện của tập hợp các hoạt động và sự kiện cơ bản hơn. Mưa không phải là đặc tính của một thực thể gọi là thời tiết; mưa xảy ra trong quá trình thời tiết do sự tương tác của các lực và vật chất khác nhau. Thời tiết là một quá trình năng động, luôn thay đổi khi một tập hợp sự kiện nhường chỗ cho một tập hợp sự kiện mới. Có những mô hình lặp đi lặp lại (có lẽ trời mưa nhiều hơn vào mùa thu so với mùa hè), nhưng không phải là những đặc tính tĩnh tại lâu dài… Cốt lõi của triết học Bergson là chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về các vật thể khi coi chúng là các quá trình động, giống như thời tiết, thay vì là các thực thể. Các đối tượng khách thể sẽ tìm thấy danh tính của chúng trong một tập hợp các mối quan hệ và sự kiện. Tình bạn không có tính chất tĩnh tại, dù nó có bền chặt đến đâu; nó có những thăng trầm của nó. Dư luận luôn thay đổi trong bối cảnh nhân khẩu học đang thay đổi. Hệ sinh thái là một cộng đồng các sinh vật sống tương tác và vận hành như một hệ thống không có ranh giới chính xác. Bạn có thể nghĩ rằng một trường đại học có một vị trí địa lý tĩnh, nhưng liệu trường đại học có phải là một tập hợp tọa độ GPS không? Nó sẽ chấm dứt nếu nó di chuyển vị trí? Hoặc nếu nó đổi tên? Hầu hết những gì chúng ta trải nghiệm và suy nghĩ về “trường đại học” đều là những thực thể không thể quy giản thành các thực thể.
Với thực tế là một quá trình thay đổi năng động, chúng ta nên nỗ lực gác lại phương pháp phân tích theo thói quen và tham gia vào diễn trình thực tại, cho phép các phạm trù trong tâm trí của chúng ta được chính thực tại này định hình. Với việc bước vào “thời đoạn”, chúng ta có thể mở rộng nhận thức của mình để trải nghiệm rằng mỗi thời đoạn tồn tại phải liên quan đến những thời đoạn khác.
Di sản của Bergson
Ngày nay ít người nhớ đến tên của Henri Bergson, nhưng ảnh hưởng triết lý của ông đã lan tỏa khắp xã hội. Về một số mặt, ông đã đi trước thời đại và chúng ta có thể thấy nhiều chủ đề của ông vang vọng trong triết học lục địa hiện tại và văn hóa đại chúng. Những người thực hành phương pháp phân tích - nhiều nhà khoa học và tất nhiên, cả các nhà triết học phân tích - đã coi Bergson là một nhà thần bí phản khoa học. Nhưng Bergson không phản khoa học. Ông chỉ đang cảnh báo chống lại phương pháp nghiên cứu khoa học giản lược nhằm…giản lược thực tại thành những thực thể tĩnh và rời rạc. Ông chỉ ra rằng phép tính vi phân, hiện nay là trọng tâm của vật lý, chính là dựa trên việc nhận thức được tính liên tục và sự thay đổi so với quan niệm tĩnh trước đó về thế giới. Một số lý thuyết vật lý ngày nay coi vũ trụ là có tính động theo cách Bergson mô tả. Mong là Bergson, sẽ như một số triết gia khác trong quá khứ, có thể tìm lại được danh tiếng của mình khi chúng ta, những hậu bối, trở nên thông tuệ hơn được chút nào đó...
Cr: thỏ