Bài dịch | Thuyết kiểm đúng và kiểm sai | Claire Johnson (Phần 4) Thuyết kiểm sai của Karl Popper: khoa học…

Catholic Net · · Đối luận Triết học
Bài dịch | Thuyết kiểm đúng và kiểm sai | Claire Johnson (Phần 4)

Thuyết kiểm sai của Karl Popper: khoa học và ngụy khoa học
Điều gì giúp phân biệt giữa khoa học và ngụy khoa học, và khoa học thật sự là như thế nào? Karl popper tin rằng những khái niệm về thuyết kiểm sai sẽ giúp trả lời vấn đề này.
*Karl Popper quan niệm ra sao về khoa học?*
Bài viết sẽ bắt đầu bằng việc thảo luận câu hỏi này một cách khái quát, nhằm định hình bước thảo luận tiếp theo là về quan điểm của chính Popper. Sau đó sẽ tiến hành xem xét vai trò của Popper trong dòng chảy của lịch sử khoa học và lịch sử của triết học khoa học. Chúng ta sẽ tìm hiểu ý tưởng về thuyết kiểm sai, cùng một số hàm ý của nó: công dụng của nó trong việc phân biệt giữa khoa học và phi khoa học, ý tưởng của việc xem khoa học như một tiến trình, cùng sự hoài nghi của Popper đối với thuyết kiểm đúng.
*Vậy theo Karl Popper, những kiến thức nào được xem là khoa học?*
Thuyết kiểm sai của Karl Popper có câu trả lời đặc biệt cho một trong những câu hỏi khó nhất trong lĩnh vực triết học khoa học – những thứ gì sẽ được xem là khoa học? Trước khi tìm hiểu về câu trả lời của Popper, ta hay tìm hiểu về bản thân câu hỏi này trước. Câu hỏi về những thứ được xem là khoa học là nguồn cơn cho những tranh cãi sâu sắc, và một số câu trả lời nhận được nhiều sự đồng tình chỉ có thể được tìm thấy khi ta phân tích những trường hợp ít gây tranh cãi nhất. Những thứ được gọi là khioa học “cứng” hay “tự nhiên” – như vật lý, sinh học, hóa học – có xu hướng ít gây ra nhiều tranh cãi về mặt này. Tuy nhiên, một triết gia khoa học đương đại là Peter Godfrey-Smith đã chỉ ra rằng, có quan điểm cho rằng lý thuyết vật lý đã trở nên kém khoa học hơn và chỉ quan tâm nhiều đến việc xây dựng những mô hình toán học, hơn mức chấp nhận được đối với một ngành khoa học.
“Vùng biên giới” giữa khoa học và phi khoa học là một nơi rất mập mờ, bao gồm nhưng không giới hạn cả kinh tế học lẫn tâm lý học (thứ hiện nay được đa phần chấp nhận là khoa học), và cả nhân chủng học, khảo cổ học, và ngôn ngữ học.
Tại sao điều này lại quan trọng? Một phần vì nó liên quan đến khái niệm khoa học – thứ được xem là chặt chẽ, thực tiễn, và sản sinh ra những kiến thức khách quan hơn là những diễn giải chủ quan. Khoa học trong thời trung cổ đề cập đến những minh chứng mang tính logic, và đề cập đến những sự thật tất yếu. Điều phức tạp hơn nữa là những phạm trù khoa học cùng những tranh về chúng là một hiện tượng cục bộ đặc trưng ở phương Tây.
Có thể những người trên những khu vực khác của thế giới cũng đang tìm hiểu về sự nhập nhằng giữa những khu vực chồng chéo của khoa học nhưng không hề có khao khát xác định rõ khoa học là gì. Cũng như cuộc tranh luận về nguồn gốc khoa học, đặc trưng văn hóa của thực hành khoa học cũng là một khía cạnh rất gây tranh cãi.
Godfrey-Smith đề xuất rằng khi đặt câu hỏi về những thứ được gọi là khoa học, chúng ta thật sự đang hướng đến hai câu hỏi riêng biệt. Đầu tiên, là chúng ta muốn đưa ra một cái nhìn tổng quát về cách con người nhìn nhận thế giới xung quanh. Thứ hai, chúng ta muốn tìm hiểu xem điều gì đã khiến công trình bắt nguồn từ thời kỳ Cách mạng khoa học ở Âu châu trở nên khác biệt.
Ông còn dẫn ta đến câu hỏi sâu xa hơn liệu khoa học có thật sự là một lĩnh vực, hay chỉ là chúng ta – những triết gia – đã bị cám dỗ để đi đến chỗ khái quát hóa những lĩnh vực không có nhiều điểm tương đồng lại với nhau. Liệu chúng ta có nên dành thời gian để tập trung vào những điểm khiến các ngành khoa học trở nên khác biệt, hơn là tìm kiếm điểm chung của chúng?
*Karl Popper và Nhóm Vienna Circle*
Giờ ta hãy tiếp cận đến định nghĩa của Karl Popper, và đôi nét những điểm hấp dẫn trong các công trình của ông. Popper là một trong số những triết gia khoa học hiếm hoi có những công trình đã được sử dụng để giải quyết các cuộc tranh luận giữa các nhà khoa học, và do đó, ông cũng là triết gia khoa học nổi tiếng nhất trong giới khoa học.
Điểm hấp dẫn trong quan điểm khoa học của ông chính là sự rõ ràng và đơn giản, trên tinh thần chỉ dựa vào một số những mệnh đề cốt lõi của khoa học, và quan điểm khoa học mà nó trình bày cũng rất phù hợp với nhận thức của những nhà khoa học. Đặc biệt, đó là một lý thuyết mang tính bao hàm nhất định về một số những đặc tính của khoa mà nhiều nhà khoa học có thể nhận ra là khá hữu dụng.
Popper là một người Áo – và cũng như nhiều nhà tri thức khác vào thế kỷ 20 – sự nghiệp của ông bắt đầu tại Vienna. Do đó, ông có mối liên hệ với một nhóm triết gia được gọi là nhóm Vienna Circle – nhóm này đã áp dụng một học thuyết được gọi là chủ nghĩa thực chứng logic. Những nhà thực chứng logic đã phát triển một quan điểm về khoa học, xem nó như là hệ quả của của việc áp dụng một số ý niệm về ngôn ngữ. Ngược lại, Popper lại chọn cách lý thuyết hóa trực tiếp khoa học.
*Khoa học và ngụy khoa học*
Như đã nói, một trong những đóng góp quan trọng nhất của Popper đối với triết học khoa học chính là nỗ lực của ông trong việc phân tách hiện thực khoa học với hiện thực phi khoa học. Nói cách khác, ông muốn tách biệt giữa khoa học và phi khoa học. Và giải pháp được Popper đưa ra chính là dựa trên thuyết kiểm sai, một thuyết khẳng định rằng một giả thuyết nào đó là khoa học khi và chỉ khi nó có khả năng bị bác bỏ bởi một số quan sát khả thi. Theo quan niệm này, khoa học nhất thiết phải được đặt trong rủi ro.
Popper chỉ trích các lý thuyết của Marx và Freud dựa trên chính cơ sở này – chủ nghĩa Marx và phân tâm học của Freud sẽ không bao giờ chấp nhận một sự thật nào bác bỏ lý thuyết của nó, và luôn luôn tìm cách để điều chỉnh bản thân cho phù hợp. Chắc chắn là một số người theo hai lý thuyết trên có áp dụng phương pháp điều chỉnh này, nhưng liệu thuyết của Popper có thật sự chỉ trích những hệ tư tưởng như chủ nghĩa Marx và Freud gây gắt không thì vẫn là điều cần xem xét thêm. Thuyết kiểm sai của Popper thể hiện sự hoài nghi sâu sắc đến quan điểm xác nhận. Theo Popper, chúng ta không bao giờ có thể xác thực được những lý thuyết, mà chỉ khiến chúng né tránh sai lạc. Quan điểm về nỗ lực né tránh sai lạc này thậm chí còn gây tranh cãi hơn cả quan điểm định nghĩa của Popper về khoa học.
*Tính chắc chắn và khả năng kiểm sai*
Đa phần các triết gia khoa học đều chấp nhận rằng ta không thể hoàn toàn chắc chắn câu trả lời của mình cho bất cứ câu hỏi hiện thực nào. Điểm gây tranh cãi trong lý thuyết của Popper là dường như ông đề xuất rằng ta sẽ không bao giờ có thể cải thiện mức độ chắc chắn của mình. Tất cả những gì ta có thể chứng minh đó là một lý thuyết nào đó đến hiện tại vẫn chưa được chứng minh là sai. Việc không tiếp tục kiểm nghiệm những lý thuyết khoa học đang hiện hành – bất kể chúng vẫn luôn thường xuyên được kiểm tra tính đúng đắn – chỉ nhằm mục đích tiện lợi cho ta mà thôi. Còn về nguyên tắc, sẽ tốt hơn nếu ta tiếp tục kiểm chứng chúng đến mãi mãi.
Dĩ nhiên, việc ta dành sự tập trung hướng về những học thuyết mới và lỏng lẻo hơn là cứ tiếp tục tra vấn những học thuyết chắc chắn và chưa từng bị bác bỏ nghe có vẻ như đã khiến những học thuyết lâu đời này được cải thiện độ chắc chắn. Dù vậy, điều này vẫn làm dấy lên sự hoài nghi sâu sắc về việc phát triển một thứ gì đó được gọi là chân lý khoa học. Mà Popper thì không hề hoài nghi. Ông vẫn tin rằng khoa học là hoạt động tìm kiếm sự mô tả chân thật về thế giới. Nhưng tất cả những gì ta có thể làm để phục vụ cho mục đích này là liên tục kiểm nghiệm hết lý thuyết này đến lý thuyết khác, mãi mãi.
*Sự thay đổi trong khoa học*
Thuyết kiểm sai của Popper cũng bao hàm một lý thuyết nhất định về sự thay đổi trong khoa học – về sự tiến triển của khoa học thông qua một số giả thuyết khác nhau. Popper quan niệm khoa học như một hoạt động chu trình hai bước.
Bước 1 đó là phỏng đoán – trong đó khoa học gia đưa ra một giả thuyết về thế giới. Theo Popper, một giả thuyết tốt phải chấp nhận rủi ro và có tầm cỡ.
Bước 2 là nỗ lực bác bỏ nó (kiểm sai) và sau khi giả thuyết đã được kiểm định là sai, thì chu trình lại bắt đầu tiếp. Dù giả thuyết mới không bắt buộc hoàn toàn phải vá những lỗ hỏng của giả thuyết cũ, nhưng lý tưởng nhất vẫn là giả thuyết mới nên học hỏi hoặc thích ứng với những cách diễn giải sai lầm trước đó.
Quan niệm về sự tiến bộ khoa học này cũng bao hàm các giá trị khoa học nhất định. Đối với Popper, một nhà khoa học đúng nghĩa phải có hai mặt. Mặt sáng tạo nghệ thuật và mặt hoài nghi nghiêm ngặt – tương ứng với giai đoạn 1 và giai đoạn 2 của quá trình phát triển kiến thức khoa học. Điều này dẫn đến một câu hỏi rằng một nhà khoa học cần phát triển bao xa đối với 2 phương diện này, hoặc khoa học có thể phát triển tốt hơn với sự có mặt của những nhà khoa học có trí tưởng tượng cao ngất song song đó là những khoa học gia khác với cái đầu đầy hoài nghi?
*Về phê phán Popper*
Có nhiều ý kiến phản đối tư duy của Popper và bài viết này sẽ kết thúc bằng việc phác thảo một số ý kiến phản đối. Đầu tiên đó là nỗ lực phân biệt giữa khoa học và ngụy khoa học của Popper dựa trên nền tảng dám chịu rủi ro xem ra có vẻ quá đơn giản. Bởi ngay từ đầu, mối quan hệ giữa hoạt động quan sát và các giả thuyết được quan sát không bao giờ đơn giản cả. Muốn hiểu rõ sự giải thích một của hoạt động quan sát đòi hỏi ta phải nắm rõ những giả định nền tảng đằng sau nó. Và theo Orman Quine, chúng ta không bao giờ có thể nắm được kiểu bằng chứng tự thân mà Popper đề xuất rằng là thứ cần thiết cho quá trình kiểm sai khi xem xét nó ở quy mô toàn diện. Việc kết nối một giả thuyết với hoạt động kiểm sai là không hề đơn giản.
Hơn nữa, không phải tất cả những lý thuyết khoa học đều cho thấy sự quan sát sẽ khiến chúng lung lay. Một lý thuyết có thể chỉ ra rằng kết quả sai là rất khó xảy ra. Theo Popper, những lý thuyết kiểu đó được gọi là ngụy khoa học. Nhưng như thế nghe rất lạ và dường như đã bỏ qua vai trò của xác suất. Lý thuyết của Popper dường như không đặc biệt ủng hộ cho bất kỳ yếu tố nào kể trên.

Cr: Sodom