Đối thoại giữa Socrates và Kant - Peter Kreeft [Tựa gốc: Socrates Meets Kant] Chương 9: Về Thượng Đế KANT…
[Tựa gốc: Socrates Meets Kant]
Chương 9: Về Thượng Đế
KANT: Giờ thì ngài đã sẵn sàng để dò xét luân lý học của tôi chưa?SOCRATES: Trước hết, tôi muốn dò xét một ý niệm kết nối giữa luân lý học(ethics) và nhận thức luận(epistemology) của ngài, bởi nó xuất hiện trong cả hai, nhưng chỉ ở phần cuối của cả hai. Đó là ý niệm về Thượng Đế.KANT: Xin mời ngài cứ hỏi, Socrates.SOCRATES: Ngài xem mình là một Ki-tô hữu nhiệt thành, phải không?KANT: Vâng. Nhiệt thành trong tư tưởng, ít nhất là vậy. Tôi nghĩ không ai trong chúng ta sống một cuộc đời hoàn toàn nhiệt thành với đạo đức cao quý của Đức Kitô.SOCRATES: Vậy thì tôi nghĩ điều đầu tiên khiến độc giả ngài ngạc nhiên, nếu họ chỉ biết rằng ngài xem mình là một Ki-tô hữu nhiệt thành, chính là sự phê phán của ngài đối với mọi luận chứng cho sự hiện hữu của Thượng Đế. Một sự phê phán mà những người vô thần trong tương lai sẽ tận dụng triệt để.KANT: Tôi không thể chịu trách nhiệm cho việc người khác lạm dụng tư tưởng của mình. Toàn bộ mục đích trong việc tôi bác bỏ các luận chứng cho Thượng Đế không phải là để thay thế hữu thần luận(theism) bằng vô thần(atheism), mà là để thay thế lý trí(reason) bằng đức tin(faith).SOCRATES: Tôi hiểu. Nhưng nếu lý trí không cho ta biết gì về Thượng Đế, thì làm sao ta biết nên đặt đức tin nơi Thượng Đế nào? Chẳng phải mọi đức tin đều hàm chứa một chút lý trí sao?KANT: Dĩ nhiên. Nhưng đức tin chỉ cần một ý nghĩa nào đó để có thể nắm bắt bằng lý trí về đối tượng của nó, để tôi có thể phân biệt giữa đức tin nơi Đấng Sáng Tạo vũ trụ với đức tin nơi thần Zeus hay Brahman. Tuy nhiên, đức tin không đòi hỏi/tiền giả định một sự thấu hiểu đầy đủ và rõ ràng về đối tượng đó. Thật vậy, nếu Thượng Đế là vô hạn, thì Ngài không thể bị định nghĩa, vì mọi định nghĩa đều giới hạn điều được định nghĩa. Và chắc chắn rằng đức tin Ki-tô giáo không giả định rằng lý trí có thể chứng minh sự hiện hữu của đối tượng đó. Thật ra, nó giả định điều ngược lại: bởi nếu lý trí có thể chứng minh sự hiện hữu của đối tượng, thì ta không còn cần phải có đức tin nơi sự hiện hữu ấy nữa — và thậm chí không thể có đức tin, bởi điều gì ta biết là đúng nhờ chứng minh thì ta không thể cùng lúc tin là đúng nhờ đức tin.SOCRATES: Phân tích của ngài ở đây có vẻ hợp lý. Câu hỏi liệu ta có đức tin nơi một con người hay không, dĩ nhiên, không giống với câu hỏi liệu ta có tin vào một ý niệm hay không. Trường hợp đầu thường được gọi là “tin cậy”(trust), còn trường hợp sau là “niềm tin”(belief). Có thể tưởng tượng rằng ta có thể vượt khỏi niềm tin và chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế bằng lý trí; nhưng điều ấy vẫn không phủ nhận việc ta cần phải tin cậy/phó thác vào Ngài bằng cả đời sống của mình.KANT: Tôi chấp nhận những phân biệt mà ngài vừa làm rõ, cũng như ngài đã chấp nhận những phân biệt của tôi.SOCRATES: Vậy thì chúng ta hãy xem xét các phê phán của ngài đối với mọi luận chứng cho sự hiện hữu của Thượng Đế.KANT: Tuyệt. Nhưng xin ngài hãy luôn ghi nhớ bối cảnh trong đó tôi thực hiện điều này. Tôi không hề tìm cách chứng minh Thượng Đế không hiện hữu. Tôi tin vào sự hiện hữu của Ngài. Điều tôi cố gắng làm chỉ là phá bỏ những tuyên bố của lý trí rằng nó có thể chứng minh được cả hữu thần luận lẫn vô thần luận. Cả hai tuyên bố ấy đều vượt quá năng lực và giới hạn của lý trí. Cả hai đều là ví dụ cho ngụy biện của siêu hình học tiền-Copernicus.SOCRATES: Vậy thì các luận chứng chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế là gì, và ngài bác bỏ chúng như thế nào?KANT: Chỉ có ba luận chứng.SOCRATES: Chỉ ba thôi sao? Tôi biết ít nhất là hai mươi ba.KANT: Nhưng chúng chỉ thuộc về ba loại, hay nói cách khác, ba chiến lược(strategies). Một là luận chứng mục đích luận/cứu cánh luận, tức luận chứng từ thiết kế(design) suy ra một Đấng Sáng thế(Designer). “Con đường” thứ năm của Aquinas là một ví dụ cho loại này. Loại thứ hai là luận chứng vũ trụ luận, từ sự hiện hữu của những sự vật hữu hạn, biến đổi(changing), và bất toàn trong vũ trụ mà suy ra một thực thể vô hạn, bất biến, hoàn hảo — thực thể được cho là duy nhất có thể giải thích một cách đầy đủ các sự vật kia. Và loại thứ ba là “luận chứng bản thể luận” của Anselm, từ chính ý niệm, định nghĩa, hay bản chất của “Thượng Đế” mà suy ra sự hiện hữu của Ngài.SOCRATES: Dĩ nhiên là ngài bác bỏ tất cả những luận chứng này như nhau, bởi vì chúng đều thuộc về siêu hình học truyền thống thời kỳ tiền-phê phán, tiền-Copernicus — loại siêu hình học “siêu nghiệm” cố gắng vượt qua các hiện tượng.KANT: Đúng vậy.SOCRATES: Vậy ngài có ba phản luận(objections) riêng biệt tương ứng với ba luận chứng khác nhau ấy không?KANT: Có. Trước hết, tôi chỉ ra rằng hai luận chứng còn lại đều tiền giả định luận chứng bản thể luận, rồi sau đó tôi bác bỏ chính luận chứng bản thể luận.SOCRATES: Làm sao ngài chứng minh được rằng hai luận chứng kia tiền giả định luận chứng bản thể?KANT: Việc này hơi phức tạp, nhưng về bản chất, là vì chỉ có luận chứng bản thể luận mới định nghĩa “Thượng Đế” ngay từ đầu, còn các luận chứng kia thì không thể thật sự chứng minh Thượng Đế nếu chúng không định nghĩa được Ngài.SOCRATES: Nói cách khác, nếu chúng không định nghĩa được Ngài, thì các luận chứng chẳng nói lên được gì cả.KANT: Cách nói đó hơi giản lược, nhưng đại khái là như thế.SOCRATES: Vậy luận chứng vũ trụ luận có vấn đề gì?KANT: Luận chứng vũ trụ luận cố gắng chứng minh sự hiện hữu của một Hữu Thể Tất Yếu(Necessary Being) từ sự hiện hữu của các hữu thể tùy thuộc(contigent beings). Nhưng nếu ta hỏi: “Làm sao lại có thể có một ‘hữu thể tất yếu’? Điều đó nghĩa là gì?” thì ta đang hỏi về khái niệm Thượng Đế. Vì vậy, khái niệm về Thượng Đế phải được xác lập trước thì ta mới có thể chứng minh một cách có ý nghĩa sự hiện hữu của Ngài. Mà điều đó chỉ xảy ra trong luận chứng bản thể luận. Chỉ trong luận chứng đó, sự hiện hữu của Thượng Đế mới được rút ra từ chính khái niệm về Thượng đế.SOCRATES: Khi ngài nói “suy ra”, ngài muốn nói là “suy ra” theo logic học, bằng phép diễn dịch, hay là “suy ra” theo tâm lý học, tức là tâm trí chúng ta khởi đầu với khái niệm về Thượng Đế rồi mới tiến đến việc cố gắng chứng minh sự hiện hữu của Ngài?KANT: Cả hai. Và “luận chứng bản thể luận” là luận chứng duy nhất làm được cả hai điều đó.SOCRATES: Tôi nghĩ rằng những lí lẽ mà ngài dùng để quy tất cả các luận chứng khác về “luận chứng bản thể luận” sẽ có vẻ đáng ngờ đối với phần lớn người đọc.KANT: Có thể. Nhưng nó vẫn chưa đáng ngờ bằng chính “luận chứng bản thể luận” ấy. Luận chứng đó dường như đầy những mơ hồ, giả định, và hiểu lầm.SOCRATES: Tôi cho rằng sẽ dễ bác bỏ “luận chứng bản thể luận” hơn là chứng minh rằng mọi luận chứng khác đều phụ thuộc vào nó. Bởi vì việc bác bỏ đó đã được thực hiện từ trước, không chỉ bởi các nhà duy nghiệm như Hume, mà còn bởi các nhà siêu hình như Aquinas. Vậy ngài đã bác bỏ những luận chứng ấy như thế nào?KANT: Bằng cách chỉ ra rằng “hiện hữu[“tồn tại”] không phải là một vị từ(predicate)”. (Phê phán lý tính thuần túy, A598)Luận chứng diễn dịch sự hiện hữu của Thượng Đế từ tiền đề rằng “Thượng Đế” có nghĩa là “đấng mà người ta không thể quan niệm được có một cái gì lớn hơn”, hay “hữu thể có mọi sự hoàn hảo khả niệm, mọi thuộc tính/vị từ(predicates) tích cực”. (B626)Và vì vậy, luận chứng đó kết luận rằng Thượng Đế hẳn cũng phải có sự hoàn hảo là sự hiện hữu thực tại, khách quan, độc lập với tâm trí con người, bởi đó là một sự hoàn hảo — và còn hoàn hảo hơn so với sự hiện hữu chỉ trong tâm trí, như một ý niệm.Sai lầm trong lập luận này là ở chỗ “Thượng Đế hiện hữu” không giống như “Thượng Đế là đấng khôn ngoan” hay “Thượng Đế là đấng toàn năng”. “Thượng Đế hiện hữu”(“God is”) không có vị từ, như “Thượng Đế [là đấng] khôn ngoan”(“God is wise”) thì có. Hiện hữu không phải là một vị từ, bởi vì nó không phải là một thuật ngữ, và do đó không thể biểu thị một thuộc tính, hay một bản chất(nature), hay một yếu tính(essence). Nó không phải là một khái niệm. Nó được phán đoán, chứ không được quan niệm.SOCRATES: Đó hầu như cũng chính là điều mà Aquinas từng nói. Các nhà logic học kinh viện sẽ nói rằng điều ấy được nhận biết trong hành vi thứ hai của tâm trí (phán đoán), chứ không phải trong hành vi thứ nhất (quan niệm). Phê phán ấy xem ra không thật sự mới mẻ cho lắm.KANT: Một cách khác để trình bày phản bác là thế này: rằng thuật ngữ “Thượng Đế” được dùng một cách mơ hồ khi Thánh Anselm cố gắng suy luận Thượng Đế từ chính ý niệm về “Thượng Đế”.Ngài ấy bắt đầu với tiền đề rằng “Thượng Đế” có nghĩa là “đấng mà người ta không thể quan niệm được có một cái gì lớn hơn”, hay “hữu thể sở hữu mọi sự hoàn hảo khả niệm”.Sau đó, ngài ấy thêm vào tiền đề thứ hai — mà tôi vừa bác bỏ — rằng sự hiện hữu độc lập với tâm trí, tức là hiện hữu bên ngoài tâm trí, là một sự hoàn hảo.Vì vậy, ngài ấy kết luận rằng Thượng Đế sở hữu sự hiện hữu cũng như sở hữu mọi sự hoàn hảo khả niệm khác.Nhưng ngay cả khi bỏ qua sự sai lầm của tiền đề thứ hai, thì trong luận chứng này vẫn còn một ngụy biện khác: điều mà các nhà lô-gic học gọi là ngụy biện của bốn thuật ngữ. Thuật ngữ “Thượng Đế” thực ra là hai thuật ngữ, chứ không phải một. Nó đã thay đổi nghĩa. Trong tiền đề đầu tiên, nó chỉ là ý niệm hay định nghĩa về Thượng Đế — điều này được biểu thị bằng cách đặt dấu ngoặc kép quanh nó. Nhưng trong kết luận thì dấu ngoặc kép đã biến mất, và chúng ta lại đang nói về Thượng Đế thật sự. Để nhất quán về mặt logic, Anselm lẽ ra chỉ nên nói rằng ý niệm về Thượng Đế bao hàm cả ý niệm về sự hiện hữu. Ngài không thể khởi đầu bằng một Thượng Đế thực sự ngay trong tiền đề mà không rơi vào lỗi ngụy biện lặp lại vấn đề(begging the question). Và nếu ngài chỉ khởi đầu với ý niệm về Thượng Đế, thì trong kết luận, ngài chỉ có thể kết thúc với ý niệm đó — trừ khi ngài thay đổi nghĩa của thuật ngữ giữa chừng.
SOCRATES: Là một người duy trì lập trường bất khả tri về Thượng Đế nhưng không phải về logic, tôi buộc phải chấp nhận phê phán của ngài là hợp lý về mặt logic. Nó cũng rất phù hợp với lẽ thường. Tôi không nghĩ rằng bất kỳ ai không phải là triết gia lại thực sự bị thuyết phục bởi luận chứng bản thể luận, cho dù nó có khéo léo đến đâu, và thoạt nhìn có vẻ không thể bác bỏ đối với người mới học triết. Khi ngài tập trung vào việc bác bỏ luận chứng đó, thì cũng giống như đang đá vào một “bù nhìn rơm”(ngụy biện strawman).Nhưng điểm quan trọng hơn, theo tôi, là Thượng Đế đóng vai trò gì trong triết học của ngài. Nếu siêu hình học truyền thống kiểu “siêu nghiệm” là bất khả, thì làm sao ngài rút ra được Thượng Đế từ siêu hình học “siêu nghiệm” của mình?KANT: Để giải thích điều đó, tôi phải trình bày thêm một vài chi tiết về “cuộc cách mạng Copernicus” của tôi.SOCRATES: Xin ngài cứ tự nhiên.KANT: Luận điểm chính của tôi — mà chúng ta đã phần nào bàn tới — là mọi hình thức, cấu trúc, tính khả niệm và trật tự mà ta tìm thấy trong tri thức đều không đến từ đối tượng mà đến từ chủ thể. Nhưng chúng ta vẫn chưa khảo sát kỹ lưỡng các loại cấu trúc đó cụ thể là gì, và cấu trúc nào trong số đó chính xác là do tri thức của ta áp đặt lên mọi đối tượng.Tôi nói rằng có ba cấu trúc như vậy, vốn hiện diện một cách phổ quát và tất yếu trong mọi kinh nghiệm của con người, và do đó chúng là những phán đoán tổng hợp tiên nghiệm (synthetica priori).Trước hết là hai hình thức tiên nghiệm của mọi cảm giác: không gian và thời gian.Không gian là hình thức của mọi cảm giác có thể có bên ngoài, còn thời gian là hình thức của mọi cảm giác có thể có bên trong. Và bởi vì cảm giác của ta về các vật thể bên ngoài, để trở thành cảm giác thực sự, cũng phải được tiếp nhận như một cảm giác bên trong tâm thức(mind), nên thời gian là hình thức tiên nghiệm tất yếu của mọi cảm giác. Ta không thể tri giác — thậm chí không thể tưởng tượng — bất kỳ điều gì mà không nằm trong không gian và thời gian. Và điều này đơn giản là vì không gian và thời gian là hai “hình thái của thông giác/tri giác” (forms of apperception) của chúng ta, chứ không phải vì ta có thể biết rằng bản thân các “vật tự thân” thực sự tồn tại trong không gian và thời gian, như thể giác quan của ta chỉ đơn thuần phản chiếu chúng.SOCRATES: Tôi có thể hỏi một câu nghe có vẻ ngớ ngẩn về điều này được không?KANT: Giờ thì đến lượt tôi nói: “Xin ngài cứ tự nhiên.”SOCRATES: Nếu không gian và thời gian mà ta trải nghiệm không phải là những vật-tự-thân, vậy thì điều đó có nghĩa là tôi thật ra đã không ngủ gật sau khi đọc nửa đầu Phê phán lý tính thuần túy của ngài, mà chỉ là tôi tưởng mình đã ngủ thôi sao?KANT: Ta không thể nào suy nghĩ khác đi được ngoài việc sắp xếp các sự kiện theo thứ tự thời gian “trước” và “sau”, ngài Socrates à.SOCRATES: Nhưng điều đó có nghĩa là tôi thật sự đã không ngủ gật sau khi đọc sách của ngài, như lương tri mách bảo tôi là mình đã làm, đúng không?KANT: Đó không phải là một sai lầm trong phán đoán, mà là một sai lầm về địa vị(status) của các khái niệm.SOCRATES: Nói cách khác, câu trả lời cho câu hỏi của tôi là “đúng” à?KANT: “Đúng” với điều gì?SOCRATES: Rằng tôi thật ra đã không ngủ gật sau khi đọc sách của ngài; mà đó chỉ là cách duy nhất tôi có thể cấu trúc các đối tượng của giác quan: bằng cách áp đặt khái niệm “trước và sau” của tôi về thời gian lên chúng.KANT: Đó là cách duy nhất ngài có thể cấu trúc các đối tượng tri giác.SOCRATES: Vậy tức là tôi thật ra đã không ngủ gật sau khi đọc sách của ngài?KANT: Đó là một cách diễn đạt rất kỳ lạ.SOCRATES: Tôi nghĩ đó chính là điều ngài làm: diễn đạt mọi thứ một cách rất kỳ lạ. Nhưng có phải đó là điều ngài khẳng định không? Tôi vẫn chưa nhận được câu trả lời cho câu hỏi của mình. Có đúng là tôi thật sự không ngủ gật sau khi đọc sách của ngài? Đó có phải là điều ngài đang nói?KANT: Tôi nói thế này, Socrates à: Tôi nói rằng mọi trực quan đều là cảm tính, và mọi trực quan cảm tính tất yếu đều mang tính không gian và thời gian, và điều đó là do các hình thái tri giác.SOCRATES: Vậy ngài có nói rằng tôi thật ra đã không ngủ gật...KANT: Tôi nói rằng tôi không thể mô tả thế giới-tự-thân là gì, tôi chỉ có thể mô tả thế giới hiện ra với ta ra sao.SOCRATES: Đơn giản mà nói, câu trả lời của ngài cho câu hỏi của tôi là: Đúng thế. Tôi thật sự đã không ngủ gật sau khi đọc sách của ngài.KANT: Nếu tôi buộc phải chọn giữa Đúng hoặc Sai, thì tôi phải nói: Đúng vậy.SOCRATES: Cảm ơn ngài, Giáo sư. Cuối cùng thì ngài cũng đã đưa ra một câu trả lời: tôi thật sự đã không ngủ gật sau khi đọc sách của ngài. Tôi chỉ tưởng là mình đã ngủ mà thôi. Và tôi nghĩ ngài vừa mới tạo ra lý do để một nửa độc giả của ngài nghi ngờ rằng triết học của ngài là điên rồ — và vì thế, ngài đã cho họ một lý do để không ngủ gật khi đang đọc sách của ngài.Ồ, xin đừng tỏ ra quá bối rối hay đau lòng, bạn tôi ơi, tôi chỉ đùa thôi mà.KANT: Chúng ta có thể hoàn tất cuộc tra vấn này chứ? Cho phép tôi tóm tắt phần còn lại của siêu hình học siêu nghiệm của tôi nhé?SOCRATES: Như ai đó từng nói: xin ngài cứ tự nhiên.KANT: Vậy thì, điểm thứ hai, theo hướng từ ngoài vào trong, là các phạm trù trừu tượng tiên nghiệm của tư duy lô-gic, hay như tôi gọi là “các hình thái của giác tính”. Chúng có phần giống với mười phạm trù của Aristotle, nhưng tôi đã sửa đổi thành mười hai, và biến chúng thành các phạm trù không phải của tự nhiên mà là của tư tưởng. Nếu ta muốn hiểu các đối tượng một cách có lý trí, thì điều đó tất yếu phải nằm trong những phạm trù như thực thể(substance), nhân quả(causality), quan hệ(relation), v.v. Và chính bằng cách này, tôi đã cứu lấy các phạm trù như thực thể và nhân quả khỏi sự phê phán của Hume.SOCRATES: Vậy tức là mười hai phạm trù này cũng có thể không thật sự hiện hữu “ở đó”, trong [thế giới] các vật-tự-thân?KANT: Chúng ta không thể biết rằng chúng ở đó. Nhưng chúng tất yếu có mặt ở đây.SOCRATES: Vậy thì có lẽ tôi thật ra không phải là nguyên nhân của các con tôi. Và có lẽ tôi thật ra cũng không có quan hệ gì với Xanthippe với tư cách là chồng nàng. Tôi e rằng triết học của ngài sẽ gây chút chấn động trong gia đình tôi đấy.KANT: Tôi đoán đây lại là một lời châm biếm nữa, phải không?SOCRATES: Không phải mọi giả định của ngài đều đáng ngờ đâu, bạn tôi ạ.KANT: Tôi đã tìm ra nơi cư trú thích hợp cho các phạm trù, đặc biệt là nhân quả và thực thể, và như vậy tôi đã trả lời được các lập luận của David Hume và vượt qua được chủ nghĩa hoài nghi.SOCRATES: Chúng ta cũng cần xem xét tuyên bố này của ngài. Bởi vì có vẻ như có những vấn đề ở đây. Vì tôi dường như thấy một mâu thuẫn nội tại trong cách ngài trả lời Hume.KANT: Bằng cách nào đó, tôi chẳng ngạc nhiên chút nào. Ngài tìm thấy những mâu thuẫn nội tại nhiều như các thầy tu thời trung cổ tìm thấy quỷ vậy.SOCRATES: Tôi chẳng biết gì về ma quỷ, nhưng tôi biết đôi chút về những mâu thuẫn nội tại. Và đây là mâu thuẫn mà tôi dường như nhận thấy. Nó sẽ cần một chút thời gian để giải thích.Chủ nghĩa hoài nghi của Hume có thể được tóm tắt dựa trên hai tiền đề chính.Tiền đề thứ nhất là: mọi tri thức về những sự việc thực(real matters of fact) — “sự việc” được phân biệt với những “quan hệ ý niệm” thuần lý — mà dám vượt khỏi cảm giác hiện tại và ký ức, đều dựa vào thực tại của nhân quả, vào một quan hệ thật giữa nguyên nhân và kết quả. Ví dụ Hume đưa ra là một bức thư từ người bạn được đóng dấu bưu điện ở Paris. Ta tin rằng người bạn ấy đã ở Paris vì ta suy luận từ bức thư, là kết quả, đến người viết, là nguyên nhân.Tiền đề thứ hai là: ta không tri giác chính bản thân quan hệ nhân quả, cũng như các quan hệ nhân quả không phải là những ý niệm hiển nhiên như 2 + 2 = 4. Ta không thể suy diễn ý niệm về quả trứng từ ý niệm về con chim; ta biết về trứng và chim, và việc trứng đến từ chim, chỉ nhờ vào kinh nghiệm giác quan. Kết luận của Hume là: ta không có tri thức nào về sự việc thực vượt khỏi cảm giác và ký ức của chính mình.Vì ta không tri giác nó, Hume đã hỏi: vậy ta lấy ý niệm nhân quả từ đâu? Và ông trả lời: đó chỉ là thói quen, hay tập quán; ta thấy trứng và chim xuất hiện cùng nhau quá thường xuyên nên ta kết nối chúng và cho rằng chim “gây ra” trứng. Theo Hume, nhân quả chỉ là tâm lý học, hay nói cách khác là chủ quan.Còn chiến lược của ngài thì là biến điều không thể thành điều có thể — biến luận điểm phủ định của Hume thành một luận điểm khẳng định. Ngài chấp nhận điều Hume nói: rằng nhân quả thuộc về tâm lý học hơn là bản thể học, là chủ quan hơn là khách quan. Nhưng ngài đưa nó vào trong lý tính. Ngài nói rằng nhân quả là một trong những “phạm trù” của lý tính mà ta áp đặt lên thế giới vật chất để khiến nó có trật tự, để thống nhất và liên kết các hiện tượng lại với nhau.Có phải vậy không?KANT: Về cơ bản thì đúng, dù có phần giản lược hơi quá. Giờ thì ngài thấy mâu thuẫn ở đâu trong câu trả lời của tôi dành cho Hume?SOCRATES: Ngài nói rằng nhân quả là một phạm trù chủ quan — “chủ quan” theo nghĩa là tinh thần hơn là bản thể học, hay dùng thuật ngữ của ngài: “siêu nghiệm chứ không phải siêu việt”. Có đúng không?KANT: Đúng vậy. Nhưng tôi hy vọng ngài hiểu rằng “chủ quan” ở đây không có nghĩa là cá nhân và tùy tiện, mà vẫn là phổ quát và tất yếu.SOCRATES: Tôi hiểu điều đó. Nhưng dù nó có là phổ quát và tất yếu đi nữa, thì nó vẫn chỉ là chủ quan.KANT: Đúng.SOCRATES: Và ngài nói rằng phạm trù này được chủ động áp đặt bởi tâm trí chúng ta lên mọi giác quan tri giác, để tạo ra trật tự. Có đúng thế không?KANT: Đúng. Nhưng tôi không nói rằng toàn bộ hoạt động đến từ tâm trí. Chúng ta trải nghiệm các đối tượng như đang tác động vào ý thức của ta, vậy nên ta biết rằng có cái gì đó nhiều hơn chỉ là ý thức của ta. Tôi không phải là một nhà duy tâm. Có một thế giới vật chất ở bên ngoài. Nhưng ta không thể biết nó như vật-tự-thân, mà chỉ có thể biết nó khi nó đã được định hình bởi các phạm trù của ta. Và một trong các phạm trù đó là nhân quả.SOCRATES: Vậy là ngài nói rằng tri thức của chúng ta là kết quả của hai yếu tố, chứ không phải chỉ một: các vật-tự-thân và các phạm trù của chúng ta như là nhân quả.KANT: Đúng vậy.SOCRATES: Và hai thứ này có phần nào giống như chất liệu và hình thức trong triết học của Aristotle, nhưng ngài nói rằng hình thức mà chúng ta trải nghiệm trong mọi nhận thức không đến từ đối tượng được biết, mà đến từ chủ thể tri nhận. Có đúng vậy không?KANT: Đúng thế.SOCRATES: Vậy thì trật tự mà chúng ta thấy, hay nghĩ rằng mình thấy, là do hai thứ gây ra: thực tại khách quan — cái mà chúng ta không thể biết một cách siêu việt, và các phạm trù của ta — cái mà ta có thể biết một cách siêu nghiệm, như là điều kiện khả thể cho tri thức của ta. Có đúng không?KANT: Đúng vậy. Thế mâu thuẫn ở đâu?SOCRATES: Đây: Nếu, như ngài nói, nhân quả chỉ là một phạm trù hình thức của tư duy ta, chứ không phải là một thực tại khách quan, vậy thì làm sao tri thức của chúng ta thực sự có thể bị gây ra bởi hai thứ — nghĩa là, bởi những phạm trù như “nhân quả” và bởi những “vật-tự-thân” phi hình thức, không thể biết?KANT: Ồ. Đây là một loại nhân quả khác. Các phạm trù không “gây ra” tri thức theo cách chim “gây ra” trứng.SOCRATES: Tôi hiểu rằng đây là hai loại nhân quả khác nhau. Aristotle sẽ gọi mối quan hệ giữa chim và trứng là nhân quả hiệu lực, còn mối quan hệ giữa các phạm trù và những gì được phân loại bởi chúng là nhân quả hình thức — dù nhân quả ấy là khách quan, như ông ấy nghĩ, hay chủ quan, như ngài nghĩ. Nhưng hai loại nhân quả khác nhau vẫn là hai loại nhân quả. Vẫn có một ý nghĩa chung giữa chúng — một cái gì đó như tính tùy thuộc có thực(real contingency), hay sự lệ thuộc của hiệu quả vào nguyên nhân(dependence of the effect on the cause) — và chính trong ý nghĩa chung đó, có vẻ như ngài đang tự mâu thuẫn.KANT: Hệ thống của tôi giải thích cách hoạt động rất khác so với Aristotle, và sử dụng thuật ngữ khác. Ngài phải đọc toàn bộ cuốn sách của tôi thì mới hiểu được cách nó vận hành.SOCRATES: Tôi không thấy điều đó sẽ giúp gì.KANT: Tại sao không?SOCRATES: Bởi vì giải thích cơ chế của một hệ thống tự mâu thuẫn thì không xóa bỏ được mâu thuẫn.KANT: Trong trường hợp của tôi, tôi nghĩ là có thể xóa bỏ mâu thuẫn ấy. Ngài có muốn đi sâu vào việc phân tích chi tiết điểm này ngay bây giờ không?SOCRATES: Không, đây là một câu hỏi khá kỹ thuật, mà việc phân tích nó nên được hoãn lại đến một dịp khác. Điều tôi quan tâm hơn cả là khám phá tập hợp thứ ba trong các cấu trúc hình thức của ông — bởi vì đây chính là chỗ Thượng Đế xuất hiện trong triết học của ông.KANT: Đúng vậy. Và cả tự ngã(self) lẫn thế giới nữa. Ẩn sâu nhất trong lý tính là ba "Ý niệm của Lý tính thuần túy" này: ý niệm về tự ngã (hay linh hồn), vũ trụ (hay thế giới), và Thượng Đế.SOCRATES: Ông có thể giải thích cách ông dẫn xuất(derive) những ý niệm ấy, hoặc cách chúng được hình thành không? Chúng đến từ đâu? Tại sao chúng là tất yếu?KANT: Ý niệm về thế giới là sự thống nhất tất yếu của mọi hiện tượng cảm tính: tất cả các hiện tượng đều nằm trong một “thế giới” duy nhất. Ý niệm về tự ngã thống nhất tất cả các hiện tượng tâm lý: mọi thứ được trải nghiệm — dù có đa dạng đến đâu — đều được trải nghiệm bởi cùng một chủ thể kinh nghiệm duy nhất, mà tôi gọi là tôi(myself). Và ý niệm về Thượng Đế thì thống nhất tuyệt đối.SOCRATES: Tôi hiểu cách ông dẫn xuất thế giới như là sự thống nhất của tất cả các đối tượng vật chất, nhưng ông dẫn xuất tự ngã như thế nào?KANT: Như là sự thống nhất chủ quan của tất cả các tri giác về những đối tượng khác nhau đó, tạo nên sự thống nhất khách quan mà ta gọi là “thế giới”. Sự thống nhất của chủ thể tri giác này phải vượt lên trên thế giới các đối tượng. Bởi vì cái tôi/tự ngã tri giác các đối tượng không phải là một đối tượng/khách thể tri giác, mà là một chủ thể tri giác. Nó giống như con mắt nhìn thấy các đối tượng và gom tất cả các đối tượng có thể nhìn thấy lại trong một trường nhìn duy nhất: con mắt đó không tự nó là một phần của trường nhìn, mà vượt ra khỏi nó, như một ánh đèn pha rọi sáng mọi thứ trên trời hoặc mặt đất nhưng bản thân nó không phải là một trong những thứ mà nó rọi sáng. Tương tự, cái tôi suy nghĩ đưa thế giới vào trong các phạm trù, hoặc suy nghĩ đưa các phạm trù vào trong thế giới, không thể tự nó chỉ là một trong những phạm trù hay một trong những thứ trong thế giới.SOCRATES: Thế còn Thượng đế thì xuất hiện ở đâu?KANT: Cũng như thế giới là siêu nghiệm so với các thành phần của nó và thống nhất tất cả những thành phần đó thành một thế giới duy nhất, và cũng như cái tôi cảm giác là siêu nghiệm so với thế giới được cảm giác và thống nhất tất cả các hành vi cảm giác thành một chủ thể cảm giác duy nhất — thì Thượng đế là sự siêu nghiệm tuyệt đối và thống nhất cả thế giới lẫn cái tôi cảm giác. Ngài là điều kiện tuyệt đối không bị điều kiện hoá cho mọi kinh nghiệm.SOCRATES: Tôi hiểu rồi. Thế nên tất cả các nền văn hoá đều có một khái niệm nào đó, dù mơ hồ, về một thế giới, một tự ngã, và một Thượng đế.KANT: Đúng vậy.SOCRATES: Có vẻ rất tự nhiên khi phân loại mọi thứ thành ba phạm trù này. Bởi vì mọi thứ hẳn phải hoặc là thấp hơn ta, hoặc chính là ta, hoặc cao hơn ta. Vũ trụ là thấp hơn những gì ta là, còn Thượng Đế thì cao hơn những gì ta là. Vậy nên, đây là lý do vì sao mọi nền văn hoá đều có ba ý niệm này.KANT: Đó là cách mà các nhà siêu hình học tiền-Copernicus vẫn nói, như thể ông có thể biết ba thứ ấy như là những thực thể thực sự-khách quan(objectively real entities).SOCRATES: Nhưng mọi nền văn hoá đều như thế mà.KANT: Tôi không chắc họ thật sự như thế.SOCRATES: Nhưng nếu họ thật sự như vậy, thì tức là mọi nền văn hoá đều sai lầm sao?KANT: Đúng vậy.SOCRATES: Vì sao họ sai?KANT: Câu hỏi phải là: Vì sao họ lại đúng? Ông đang giả định một cách thiếu phê phán rằng họ đúng chỉ vì họ chiếm đa số.SOCRATES: Không, nhưng tôi cho rằng nghĩa vụ chứng minh(onus of proof) thuộc về ông — một nhà cách mạng, một kẻ nổi loạn, nhất là một kẻ chống lại sự đồng thuận gần như phổ quát. Ông thừa nhận rằng ý tưởng này của ông là “một cuộc cách mạng trong triết học” mà.KANT: Bởi vì nếu ông giả định điều mà ông nói rằng mọi người đều từng giả định, thì ông sẽ rơi vào nghịch lý/nghịch đề (antinomies).Trước tiên, khi ông cố gắng suy nghĩ về thế giới như một vật-tự-thân, ông sẽ gặp những nghịch lý về thế giới: lý trí có thể chứng minh rằng thế giới hữu hạn trong không gian và cũng có thể chứng minh rằng nó vô hạn trong không gian; rằng nó có thể bị chia nhỏ đến vô cùng và rằng nó không thể bị chia nhỏ đến vô cùng.Rồi khi ông cố gắng suy nghĩ về tự ngã như một vật-tự-thân, ông sẽ gặp những mâu thuẫn về tự ngã: lý trí có thể chứng minh rằng tự ngã là tự do và cũng có thể chứng minh rằng nó không tự do mà chỉ là một phần trong chuỗi nhân quả của tự nhiên.Và khi ông cố gắng suy nghĩ về Thượng Đế như một vật-tự-thân, ông sẽ gặp những mâu thuẫn về Thượng Đế: lý trí có thể chứng minh rằng một hữu thể tất yếu phải tồn tại và cũng có thể chứng minh rằng nó không thể tồn tại.SOCRATES: Ông đang nói rằng có thể Thượng Đế không thật sự tồn tại bên ngoài tâm trí, độc lập với tư tưởng của tôi?KANT: Tôi nói rằng ta không thể biết Thượng Đế tồn tại theo cách đó. Ta không thể chứng minh hay tri giác được điều đó, ta chỉ có thể tin vào điều đó mà thôi. Điều ta có thể biết là: ý niệm về Thượng Đế là một Ý niệm của Lý tính thuần túy.SOCRATES: Và ông cũng đang nói rằng có thể thế giới cũng không thật sự tồn tại?KANT: Tôi nói rằng cái toàn thể thống nhất mà ta tri giác có thể không tồn tại như thế—không thể bị tri giác, như một vật tự thân. Tôi nói rằng ta cũng không thể biết điều đó.SOCRATES: Và ông còn nói rằng ngay cả tự ngã cũng không tồn tại theo cách đó?KANT: Cũng vậy.SOCRATES: Vậy thì tôi phải quay lại với lập luận của Descartes: “Tôi tư duy, vậy thì tôi tồn tại.” Nếu tôi không tồn tại, thì ai đang thực hiện tất cả những suy tư này? Chẳng lẽ tôi chỉ là một sản phẩm tưởng tượng của Quỷ dữ?KANT: À, con quỷ lừa dối của Descartes.SOCRATES: Đúng rồi. Vậy làm sao ông biết điều đó không phải sự thật?KANT: Tôi không biết. Tôi tin.SOCRATES: Vậy thì tự ngã cũng rắc rối như Thượng Đế?KANT: Rắc rối trong nghĩa là không thể biết được, đúng vậy. Điều duy nhất tôi có thể biết là cái tôi gọi là “cái tôi thường nghiệm”, tức cái tôi mà tôi nhận ra thông qua nội quan. Nhưng ai hay cái gì đang thực hiện việc nội quan đó? Trong mọi tri thức của con người, luôn luôn có một chủ thể vượt lên trên mọi đối tượng. Và bởi vì nó không phải là một đối tượng, nên nó cũng không phải là đối tượng của tri thức. Nói cách khác, nó không thể được biết đến.SOCRATES: Than ôi, nếu tôi biết điều đó sớm hơn, thì tôi đã có thể tránh được cả sự nghiệp triết lý của đời mình, mà tôi từng tóm tắt bằng nhiệm vụ “hãy dám biết mình”.KANT: Ông lại đang nói đùa nữa sao, Socrates?SOCRATES: Vâng, Immanuel, tôi đang đùa. Tôi hiểu rằng ông không hề nói rằng thật ra chẳng có cái “tự ngã” nào cả.KANT: Thật ra, tôi đang nói điều ngược lại: rằng tự ngã có thể biết được nhiều thứ, chứ không phải ít thứ, hơn so với lí trí, rằng bên kia “cái tôi thường nghiệm” là cái tôi siêu nghiệm, vốn về mặt nguyên tắc là không thể tri nhận/biết được nó.SOCRATES: Cũng như với các “vật tự thân”, làm sao ông có thể biết đến cái không thể tri nhận?KANT: Câu trả lời của tôi cho mâu thuẫn có vẻ như vậy là phân biệt rõ ràng. Ba ý niệm này (Thượng Đế, thế giới, tự ngã) không phải là những ý niệm cấu thành mà là những ý niệm mang tính điều hành(regulative). Chúng không phải là những đối tượng của tâm trí với định nghĩa, nội dung và bản thể có thể biết được. Chức năng của chúng không phải là để cung cấp thông tin, mà là để cấu trúc tư tưởng; không phải để làm đầy tư tưởng, mà để định hình nó; không phải để mở rộng, mà để giới hạn tư tưởng. Chúng là những ý niệm chủ động, những ý niệm định hình(acts-of-forming), chứ không phải những ý niệm thụ động. Chúng không phải là các đối tượng của tư tưởng.SOCRATES: Tôi hiểu rồi. Nói cách khác, chúng giống như phần cứng máy tính hơn là phần mềm. Chúng không thể được gọi ra trên màn hình máy tính.KANT: Máy tính là gì vậy?SOCRATES: Ồ, xin lỗi nhé; tôi không nên dùng ví dụ đó. Tôi quên là ông không có máy tính trong thế giới của mình.KANT: Điều quan trọng, bất chấp mọi phép ẩn dụ hay hình ảnh, là rằng những ý niệm này không phải là các đối tượng của tư tưởng, mà là cách thức tư duy.SOCRATES: Nhưng chính ông lại biến chúng thành các đối tượng của tư tưởng rồi còn gì: trước hết là bằng cách suy nghĩ về chúng; thứ hai là bằng cách định nghĩa chúng như là không phải đối tượng của tư tưởng; và thứ ba là bằng cách xác định chúng là thế giới, tự ngã và Thượng Đế thay vì điều gì khác.KANT: Tôi hiểu lập luận của ông. Điều đó nghe có vẻ mâu thuẫn. Nhưng thật ra thì không. Khi ta nói có một "trường" (field) của các đối tượng, thì bản thân trường đó không phải là một trong các đối tượng ấy. Tuy nhiên, ở một tầng suy nghĩ khác, trường ấy lại trở thành đối tượng của suy tư cấp hai, khi ta nói rằng có một trường siêu việt so với các đối tượng và không nằm trong số chúng.SOCRATES: Vậy thì ở cấp suy nghĩ thứ hai này, cái gọi là “trường”—vốn là siêu nghiệm trong suy nghĩ thứ nhất—lại trở thành một đối tượng siêu nghiệm kiểu “tiền-Copernicus”, một đối tượng siêu hình mà ông từng bảo là không thể có. Nhưng… nhưng…KANT: Sao thế, Socrates, ông trông có vẻ không khoẻ? Có bệnh tật ở thế giới này sao?SOCRATES: Chỉ là trong đầu tôi thôi. Và tôi e rằng cả thế giới của ông cũng như vậy. Tôi nghĩ cái máy tính nội tâm của tôi đã nhiễm virus từ quyển sách của ông rồi.KANT: Chúng ta nên làm gì đây?SOCRATES: Tôi nghĩ ta nên ngưng suy nghĩ về Phê phán lý tính thuần tuý lại, nếu đúng là tôi bị nhiễm virus từ quyển đó. Hãy nghỉ một lát và rồi bắt đầu cuộc trò chuyện về quyển khác của ông – Nền tảng cho siêu hình học về đạo đức, cuốn dễ đọc hơn.
Cr: Nyxar