BIỆN CHỨNG PHÁP CỦA TÌNH YÊU TRONG NHẠC TRỊNH -Cảm nghĩ Doxa day 21/5 “Chiều 21 tháng Năm, mưa đổ xuống như…
“Chiều 21 tháng Năm, mưa đổ xuống như trút nỗi lòng của trời.”
TÌNH ĐẸP LÀ TÌNH CÒN ĐANG DANG DỞĐó là thời điểm dịch bệnh lan rộng khắp nơi. Sự sống mong manh như tờ giấy, và cái chết, vốn xa xôi mịt mùng, bỗng trở nên gần gũi một cách kỳ lạ. Trong những ngày người người đóng cửa, lòng người mở ra, diễn giả bắt đầu buổi chia sẻ bằng một câu chuyện riêng – một mối tình đơn phương trong sáng mà sâu lắng.
Anh kể về một cô gái, người cùng anh yêu âm nhạc. Giữa họ không có những đam mê bùng cháy, mà là sự đồng điệu mảnh mai như tiếng đàn vọng từ xa. Cô không biết rằng với anh, cô là một thiên thần – một người đến đúng lúc để xoa dịu nỗi cô đơn kéo dài suốt những năm tháng trẻ tuổi. Và anh, trong niềm tin thành thật đến vụng về, đã ngỡ rằng đó chính là tình yêu.
Anh thổ lộ. Và bị từ chối.
Trời không sập xuống, nhưng một cánh cửa khẽ khàng khép lại trong lòng người trẻ tuổi. Không oán trách, không giận dữ – chỉ là một nỗi buồn dịu, như ánh chiều tà sau cơn mưa. Những cảm xúc ấy, anh chia sẻ không phải để tiếc nuối hay tự thương, mà để thừa nhận rằng: tình yêu không phải lúc nào cũng cần được đáp lại để trở nên thật.
Chúng ta – bất kỳ ai từng yêu – đều từng bước đi trong ánh sáng mờ nhạt của một tình cảm chưa kịp thành hình. Có khi ta gọi đó là tình đầu, có khi là mối tình sai lầm. Diễn giả gọi nó bằng một cái tên trầm lặng: “ngụy tín”. Nhưng anh không nói điều đó để phủ nhận, mà để gợi mở: rằng tất cả chúng ta, trong những khoảnh khắc yếu mềm và tin tưởng, đều đã từng đi theo cái bóng của một tình yêu chưa rõ mặt. Và chính điều ấy cũng làm nên con người ta – đầy đủ, đẹp đẽ và dễ tổn thương.
Anh không vội đưa ra khái niệm hay định nghĩa. Phần lớn buổi nói chuyện, người nghe chỉ cảm thấy sự im lặng ngân lên sau mỗi câu nói, như những khoảng trống trong nhạc Trịnh – nơi tình yêu không được giải thích, chỉ được gợi ra. Để rồi chính từ trải nghiệm rất người ấy, anh đưa người nghe đến một điều tưởng như xa xôi: tình yêu lý tưởng trong âm nhạc Trịnh Công Sơn – nơi tình yêu không cần trọn vẹn để trở nên đẹp, và sự dang dở đôi khi lại là phép màu cuối cùng để giữ lại nét trong nguyên sơ của cảm xúc.
HỢP ĐỀ GIỮA TÌNH YÊU KHẢ NIỆM VÀ KHẢ GIÁC
Một số thính giả, như anh Ất, băn khoăn về biện chứng pháp được sử dụng trong bài hát Để gió cuốn đi. Cùng lắm, người ta có thể cảm nhận một sự xác tín – như lời bài hát đã nói: sống trong đời sống “cần có một tấm lòng”. Diễn giả gợi ý rằng, ở đây, tình yêu không còn bị quy định bởi điều kiện hay lý do thực dụng nào, mà mang một tính “tiên thiên”, như một nghĩa vụ đạo đức vượt lên trên mọi mục đích vị lợi.Tình yêu dành cho mối tình đầu – liệu có phải là một loại cảm thức thuần lý, có tính “khả niệm” (intelligible)? Giả như ta biết trước rằng tình cảm ấy không được đáp lại, liệu ta vẫn yêu? Câu hỏi này đặt ra khả thể rằng tình yêu không luôn phụ thuộc vào kết quả của cảm xúc trong thế giới khả giác. Người ta có thể trải qua nhiều tình yêu, nhưng luôn có một dạng tình đầu – không theo thứ tự thời gian, mà theo cường độ ý nghĩa.
Trịnh Công Sơn, qua trải nghiệm cảm tính và những thất vọng tình trường(ý kiến cá nhân, hay cái cảm riêng của diễn giả), đi đến một xác tín tương tự Kant hay Schiller – rằng có những nghĩa vụ đạo đức vượt lên khỏi những hệ quả thực nghiệm. Khi ông viết: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”, đó không phải là một khuyến nghị có điều kiện, mà là một khẳng định mang tính nội tại. Hướng đến một tình yêu vô điều kiện không phải là phủ định tình yêu cụ thể, mà là cố gắng thực hiện một dạng tình yêu nằm giữa hai thế giới – vừa thuộc về khả giác, vừa mở ra với cái bất khả tri.
Câu hỏi về biện chứng trong bài hát được diễn giả trả lời không bằng một lý luận, mà bằng một đoạn ngân nga. Điều này gợi rằng âm nhạc – giống như tình yêu – không hướng đến việc trình bày, mà gợi mở. Những gì “không thể biết” mà anh Ất từng nói, không nằm ở lời hát, mà ở những khoảng lặng giữa các nốt nhạc – ở cái không thể nói được nhưng vẫn khiến tim ta thổn thức.
CHẤP NIỆM VÀ BUÔNG BỎ
Khi nghe diễn giả nói về chấp niệm và buông bỏ, mình luôn suy tư về câu chuyện trong bộ phim A Phi chính truyện. Giữa detachment-attachment và giữa separation-participation trong triết học lẫn tình yêu.Trong mối quan hệ giữa lý tưởng và thực tại, tình yêu luôn ở giữa trạng thái chấp niệm và buông bỏ. Schiller, trong những bức thư về giáo dục thẩm mỹ, đã nói về nhu cầu hòa giải giữa hai xung năng – cảm tính (sinnliche Trieb) và hình thức (Formtrieb) – như một con đường để con người đạt đến tự do. Tình yêu, dưới ánh nhìn đó, không phải chỉ là xúc cảm bản năng, cũng không thuần là mệnh lệnh đạo đức, mà là một chơi đùa thẩm mỹ (Spieltrieb) nơi con người được tự do yêu mà không bị trói buộc bởi cả dục vọng lẫn bổn phận.Nhưng tình yêu trong đời thực, cũng như trong phim Tâm trạng khi yêu (In the Mood for Love), lại hiện ra như một nghịch lý không dễ hòa giải: hai con người – ông Châu và bà Tô – yêu nhau trong khi không thể yêu nhau. Họ sống trong một trạng thái không thể thực hiện, như thể đang tham dự (theo nghĩa methexis trong truyền thống Plato) vào một thứ tình yêu lý tưởng, nhưng lại bị phân ly (chorismos) khỏi chính điều họ mong muốn do những ràng buộc xã hội, đạo đức, hôn nhân, và cả những lằn ranh do chính họ dựng nên.
Tình yêu của họ không có hành động, không có kết quả, không có cao trào. Nhưng chính vì thế mà nó lại trở nên thuần khiết, thẩm mỹ, gần như siêu nghiệm. Họ yêu nhau không phải như hai cá thể đang chiếm hữu lẫn nhau, mà như hai tâm hồn hiện diện cạnh nhau trong một vùng giao thoa của im lặng, ánh nhìn, những bước chân, những điếu thuốc tàn và cơn mưa bất chợt. Một thứ tình yêu không cần hiện thực hóa, vì chính sự không thể của nó lại làm nên vẻ đẹp.
Tình yêu ấy là một biểu hiện của tình yêu khả niệm, nơi lý tưởng không thể chạm đến lại trở thành động lực sống. Giống như trong nhạc Trịnh, khi ta “chỉ lặng nhìn không nói năng, để buốt trái tim,” con người không còn yêu vì một điều kiện cụ thể nào, mà yêu vì tình yêu đã trở thành một nghĩa vụ hiện sinh. Họ không cần ai chứng nhận cho mối quan hệ ấy, không cần gọi nó là "tình yêu" – vì chính sự không tên của nó mới là điều làm nó sống dai dẳng trong lòng.
Schiller từng nói rằng chỉ khi con người có thể chơi đùa với cả bản năng và lý trí, họ mới đạt tới tự do thẩm mỹ – nơi tình yêu không còn bị kìm hãm bởi dục vọng cũng như không bị cưỡng chế bởi đạo đức. Nhưng trong phim của Vương Gia Vệ, trò chơi ấy bị giới hạn: cả ông Châu và bà Tô đều quá có văn hóa, quá biết giữ mình, quá sợ làm tổn thương người khác, nên họ không dám vượt qua lằn ranh của hình thức. Họ là hiện thân của một Platonism buồn: nơi cái đẹp lý tưởng càng lung linh, càng trở nên xa cách với đời sống.Ở đây, biện chứng giữa chấp niệm và buông bỏ trở nên rõ nét. Chấp niệm là khi ta vẫn còn tham dự vào một điều gì đó đã không còn ở đây – như ông Châu thì thầm vào lỗ đá để chôn vùi tình yêu của mình. Buông bỏ là khi ta chọn lùi lại một bước khỏi cái đẹp không thể có – như bà Tô lặng lẽ rời đi, không mang theo gì ngoài một ký ức chưa từng xảy ra.
Tình yêu ấy là một nghịch lý sống động giữa tính hữu hạn của tình yêu và tính vô hạn của cô đơn. Trong hôn nhân, có thể không còn tình yêu. Ngoài hôn nhân, tình yêu có thể tồn tại, nhưng không được phép thành hình. Vậy thì, điều con người còn giữ lại được, có lẽ chỉ là sự tham dự không trọn vẹn – một thứ tình yêu không trọn, nhưng thật hơn bất kỳ lời thề hứa nào.Và cũng như lời ông Châu thì thầm cuối phim: “Tôi tưởng mình khác họ, nhưng tôi đã nhầm.” Không phải vì ông đã thất bại trong việc sống đúng với nguyên tắc của mình, mà vì ông nhận ra: trong tình yêu, ai rồi cũng giống nhau – đều mang trong mình một thứ dở dang không thể đặt tên, nhưng không thể quên.
LỜI KẾTKhi anh Ất muốn gặng hỏi diễn giả về việc thế nào là buông bỏ trong Để gió cuốn đi. Một thính giả khác đùa rằng: Buông bỏ cuộc đời. Mọi người phá lên cười trong không khí của buổi Symposium ở Doxa. Trong xuyên suốt buổi nói chuyện, luôn có những khoảnh khắc như ấy, một chút suy tư kèm một chút cười đùa cùng nhau chia sẻ một cách thoải mái. Mong rằng sẽ có thể được gặp gỡ nhiều người hơn trong những buổi symposium sau.
Cr: Nyxar