Nguyên lý Schopenhauer: Chủ nghĩa bi quan có thể dẫn dắt đời bạn thế nào [Dịch từ bài viết tiếng Anh, ghi…

Catholic Net · · Đối luận Triết học
Nguyên lý Schopenhauer: Chủ nghĩa bi quan có thể dẫn dắt đời bạn thế nào

[Dịch từ bài viết tiếng Anh, ghi chép lại buổi phỏng vấn giữa Jonny Thomson - nhà sáng lập câu lạc bộ Mini Philosophy, và phó giáo sư David Bather Woods — chuyên gia về Schopenhauer tại Đại học Warwick.]
Tôi đã trò chuyện với phó giáo sư David Bather Woods về tôn giáo, nhân cách và lòng trắc ẩn. Với Bather Woods, chủ nghĩa bi quan của Schopenhauer không phải là một vết nhơ đáng xấu hổ thuộc về quá khứ xa xưa. Nó vừa đúng đắn lại vừa không thể tránh khỏi. Và thậm chí nó có thể mang lại lợi ích theo nhiều cách nhất định.
Dưới đây là ba lợi ích triết học của chủ nghĩa bi quan:
Bạn sẽ trắc ẩn hơn...
Khởi điểm cơ bản của Schopenhauer là: không hề có cái gọi là hạnh phúc, mà chỉ có những khoảnh khắc tạm thời được giải phóng khỏi khổ đau. Điều tốt nhất mà chúng ta có thể hy vọng đó là ta không phải trải qua quá nhiều đau đớn hay quá nhiều khát vọng không thành. Ông có một câu viết nổi tiếng rằng “Cuộc sống dao động như một quả lắc, qua lại giữa đau đớn và nhàm chán.” Không phải ngẫu nhiên mà ông được gọi là nhà triết học bi quan.
Nhưng Schopenhauer không dừng lại ở đó. Chính ông cũng nhận ra rằng nếu thể hiện cuộc sống chỉ tốt hơn địa ngục trần gian một chút, thì ông sẽ khó lòng có được độc giả trung thành. Bi quan không dễ bán lắm đâu. Trước ông đã từng có những tiếng nói u ám, bi quan, nhưng chúng chưa bao giờ phổ biến được lâu.
“Thành thật mà nói,” Bather Woods chia sẻ, “tình yêu là vô cùng quan trọng. Triết học của Schopenhauer sẽ khó tiếp nhận hơn rất nhiều nếu ông không tin vào một dạng tình yêu nào đó. Bi quan có thể trông giống như một triết lý lạnh lùng, ghét loài người… nhưng nó có thể đi đôi với lòng trắc ẩn. Trắc ẩn với ai đó tức là tin vào thực tại khổ đau của họ, chấp nhận khổ đau ấy như nó là. Việc nhìn nhận nỗi đau của người khác một cách nghiêm túc và phản ứng bằng tình yêu và lòng trắc ẩn — đó có vẻ là cốt lõi.”
Schopenhauer lập luận rằng lòng trắc ẩn là cội nguồn của đạo đức, và chúng ta chỉ có thể trắc ẩn với người khác nếu ta xem trọng
việc rằng ai cũng đang khổ đau — và rằng khổ đau của họ là nghiêm túc. Khi ta chấp nhận những tư duy nguyên bản bi quan này, ta mới có thể hiện diện vì người khác.
...Với tất cả sinh thể
Chủ nghĩa bi quan không phân biệt đối xử. Khổ đau là vô biên. Với Schopenhauer, sống tức là khổ đau, và tất nhiên con người không phải là những sinh thể duy nhất đang sống. Bather Woods nói: “Bất kỳ sinh thể nào cảm nhận được, với Schopenhauer, sinh thể đó đều khổ đau. Và bất kỳ sinh thể nào đó khổ đau đều là đối tượng phù hợp của lòng trắc ẩn.”
Schopenhauer “căm ghét việc đối xử tàn nhẫn với động vật cùng một niềm đam mê”, và “những người tiên phong trong phong trào bảo vệ động vật đã lấy cảm hứng trực tiếp từ Schopenhauer.” Nếu ta chấp nhận rằng mọi sinh thể đều khổ đau, và gốc rễ của đạo đức là lòng trắc ẩn trước khổ đau, thì không có lý do gì để ngừng thể hiện lòng trắc ẩn khi vẫn còn khổ đau hiện hữu.
Đây không phải là một lập luận sinh học. Nó không dựa trên việc vẽ sơ đồ hệ thần kinh của bạch tuộc hay tranh luận về các mức độ tri giác trong vương quốc động vật. Đây là một lập luận triết học. Nó khẳng định rằng khổ đau là biểu hiện trực tiếp của cái mà Schopenhauer gọi là “ý chí” — một lực mù quáng, không ngừng nghỉ, thúc đẩy mọi sinh thể sống khát khao, vẫy vùng, và rồi tất yếu là khổ đau. Nơi nào có ý chí, nơi đó có khổ đau.
“Và với Schopenhauer,” Bather Woods nói, “bất cứ sinh thể nào khổ đau đều là đối tượng phù hợp của lòng trắc ẩn, dù là sự nhẫn nại đầy trắc ẩn — như là để người hay vật sống theo cách của họ — hay là sự tử tế thực sự, như chủ động tìm cách giảm nhẹ khổ đau ấy.”
Và bạn có thể trân trọng nghệ thuật hơn
Nếu chủ nghĩa bi quan có nghĩa là ta thể hiện lòng trắc ẩn với bản thân, với người khác và với mọi sinh thể sống, thì làm sao lòng trắc ẩn có thể làm giảm đi khổ đau — dù chỉ trong một khoảnh khắc, một khoảng thời gian tạm thời, không đáng kể về mặt hiện sinh?
Phần lớn sự giảm thiểu khổ đau là đạt được điều bạn muốn. Bạn khổ khi bạn khát; cái khổ giảm đi khi bạn uống nước. Bạn khổ khi bạn cô đơn; bạn đỡ hơn khi bạn có một người bạn. Nhưng Schopenhauer — có lẽ chịu ảnh hưởng bởi làn sóng tư tưởng Ấn Độ đang lan truyền lúc đó — cho rằng đây là một trò chơi vô ích. Chu kỳ vô tận giữa ham muốn và thỏa mãn chỉ đôi lúc mang lại sự khuây khỏa, chứ không bao giờ là thứ giá trị.
Với Schopenhauer, người không phải là một Phật tử, cách duy nhất để thực sự giảm thiểu khổ đau là đánh mất bản ngã trong trải nghiệm thẩm mỹ. Là nhảy múa trong cơn mộng mị nơi hộp đêm, đắm chìm trong thế giới văn chương, hay vung cọ màu trong cơn vô ngã xuất thần.
“Sau khi ông mất, Schopenhauer được các nghệ sĩ đánh giá rất cao,” Bather Woods chia sẻ, “đặc biệt vì ông cho rằng trải nghiệm thẩm mỹ về vẻ đẹp tự nhiên trong nghệ thuật là một dạng giải thoát tạm thời khỏi ý chí sống. Tìm thấy một ốc đảo của tĩnh tại và thanh bình bên trong nghệ thuật là điều con người thật sự có thể áp dụng. Dẫu rằng ‘nghệ thuật’ có thể rất khép kín, tất nhiên chúng vẫn còn dễ tiếp cận hơn so với việc từ bỏ tất cả để vào tu viện và trở thành một nhà sư Phật giáo hay gì đó.”
Cuộc đời là khổ đau, rõ ràng đó là một tuyên bố đầy bi quan. Nhưng bi quan cũng chính là động lực lớn nhất cho hành động. Mọi sinh thể sống đều khổ đau, và tất cả đều muốn giảm thiểu khổ đau. Chúng ta có thể làm điều đó theo ba cách: bằng cách thể hiện lòng trắc ẩn với người khác, thể hiện lòng trắc ẩn với mọi sinh thể, và tận hưởng nghệ thuật.

Cr: Hiền