BÀI DỊCH: ĐẠO ĐỨC LUẬN VÀ CHÍNH TRỊ LUẬN TRONG TRIẾT PHẨM CỘNG HOÀ – PLATO (Eric Brown - Stanford…

Catholic Net · · Đối luận Triết học
BÀI DỊCH: ĐẠO ĐỨC LUẬN VÀ CHÍNH TRỊ LUẬN TRONG TRIẾT PHẨM CỘNG HOÀ – PLATO (Eric Brown - Stanford Encyclopedia of Philosophy)

Triết phẩm Cộng Hoà của Plato xoay quanh một câu hỏi đơn giản: “Phải chăng công chính luôn tốt hơn bất công bất chính?” Những tình huống đánh đố trong Phần I đã khai mào cho câu hỏi trọng tâm này, về sau Glaucon và Ademantus làm rõ nó hơn ở đầu Phần II. Để trả lời, Socrates không đi thẳng mà chọn một đường vòng, ông phác hoạ một thành quốc lý tưởng trên nền tảng rằng thành quốc ấy hẳn phải công chính, từ đó mà việc định nghĩa công chính như một đức hạnh của thành quốc sẽ hỗ trợ chúng ta định nghĩa công chính như một đức hạnh của cá nhân. Socrates cuối cùng đã đến rất gần với việc trả lời cho câu hỏi này sau khi ông chỉ ra được công chính là một đức hạnh của cá nhân ở cuối Phần IV, nhưng rồi ông bị cắt ngang và bị thách thức phải bảo vệ những đặc điểm khác, tranh cãi hơn, về thành quốc lý tưởng mà ông phác hoạ. Từ Phần V đến Phần VII, ông đáp lại thách thức này bằng cách lý luận rằng thành quốc công chính và cá nhân công chính mà ông vẽ nên về cơ bản là khả thi và tốt đẹp. Sau sự lan man dài dòng này thì trong Phần VIII và IX, Socrates cuối cùng cũng đưa ra ba “chứng minh” rằng việc sống công chính luôn tốt hơn bất công bất chính. Về sau, vì Socrates không chỉ muốn chứng minh rằng sống công chính luôn tốt hơn bất công bất chính mà ông còn muốn thuyết phục Glaucon và Adeimantus đồng thuận với quan điểm này, hơn nữa, các luận điểm của ông trước đó đi ngược lại với những nhà thơ cũ, nên ông củng cố lập luận của mình trong Phần X bằng cách chỉ trích những tuyên bố cho rằng họ (những nhà thơ) là đại diện cho sự thật và đề xuất một câu chuyện ngụ ngôn mới dựa trên những chứng minh của mình.Như phần tổng quan trên đã làm rõ, trọng tâm của triết phẩm Cộng Hoà của Plato là một cống hiến cho đạo đức học: một thảo luận cho câu hỏi công chính là gì và tại sao con người phải sống công chính. Tuy nhiên, khi Socrates liên kết tính công chính của cá nhân với nền tảng công chính của thành quốc và đưa ra những khẳng định về cách vận hành của những thành quốc tốt và thành quốc xấu, Cộng Hoà vì thế cũng bao hàm những suy tư về chính trị. Điều này cũng không có nghĩa rằng đạo đức luận và chính trị luận là tất cả những gì mà Cộng Hoà chứa đựng. Từ Phần V đến Phần VII, mô tả về tính khả thi của một thành quốc công chính và một cá nhân công chính cũng đóng vai trò như một mô tả về cách tri thức có thể trị vì, nó cũng bao gồm những thảo luận về bản chất và mục đích của tri thức. Qua đó, việc chỉ trích những nhà thơ cũ cũng đi cùng với một thảo luận rộng rãi về nghệ thuật. Tuy nhiên, bài viết này tập trung vào đạo đức luận và chính trị luận của triết phẩm Cộng Hoà. Để hiểu thêm về bản chất và mục đích của tri thức, mời bạn đọc trang Plato: Siêu hình học và nhận thức luận trung kỳ (Plato: middle period metaphysics and epistemology), và để hiểu thêm về thảo luận về các nhà thơ, mời bạn đọc Plato: thuật hùng biện và thi ca (Plato: rhetoric and poetry).Nỗ lực của bài viết này là cung cấp một hướng dẫn mang tính xây dựng về những vấn đề cốt lõi của đạo đức luận và chính trị luận trong Cộng Hoà. Bài viết sẽ được xây dựng dựa trên hai giả định. Đầu tiên, nó giả định rằng những mô tả về đạo đức và chính trị trong Cộng Hoà yêu cầu một hiểu biết sơ bộ về câu hỏi mà Socrates phải đối mặt và chiến lược mà ông dùng để trả lời câu hỏi đó. Tiếp theo, nó giả định rằng chính trị luận trong Cộng Hoà dựa trên tâm lý đạo đức trong triết phẩm này; vì vậy, sẽ thuận lợi hơn nếu ta thảo luận về chính trị sau khi đã hiểu về tâm lý đạo đức. Với những giả định này, ta có dàn ý sau:
Dẫn luận: Câu hỏi và Chiến lược.1.1. Bản chất của Câu hỏi1.2. Các chiến lược đã bị loại bỏ1.3. Chiến lược được chọnDẫn luận: Câu hỏi và Chiến lược1.1. Bản chất của Câu hỏiTrong Phần I, câu hỏi trọng tâm của Cộng Hoà trỗi dậy lần đầu thông qua nhân vật Cephalus. Sau khi Socrates hỏi gia chủ cảm tưởng như thế nào khi vừa già (328d-e) vừa giàu có (330d) - có thể thấy rằng đây một câu hỏi khá khiếm nhã - Cephalus đã trả lời rằng điều tuyệt vời nhất về của cải là nó có thể cứu rỗi ta khỏi việc phải trở nên bất công bất chính, và từ đó mà con đường đến với một hậu kiếp êm đẹp trở nên bằng phẳng hơn (330d-331b). Chỉ cần điều này thôi đã đủ để dấy lên nhiều câu hỏi, vì Socrates muốn biết công chính là gì. Quá dễ đoán, ta có thể thấy trước được rằng Cephalus và sau đó là Polemarchus đã thất bại trong việc định nghĩa công chính một cách thoả đáng đối với Socrates, nhưng họ vẫn tiếp tục cho rằng công chính là một phần có giá trị trong một cuộc đời đáng sống. Thrasymachus phẫn nộ khi anh ta tham gia vào cuộc trò chuyện (336a-b), và anh ta cũng thách thức giả định rằng việc sống công chính là một việc tốt. Dưới góc nhìn của Thrasymachus (chú ý 343c-344c), công chính được quy ước bởi kẻ mạnh, cốt là để kẻ yếu phải phục vụ quyền lợi của kẻ mạnh. Chính kẻ mạnh, dưới góc nhìn này, sẽ tốt hơn nếu hắn bỏ qua công chính và trực tiếp theo đuổi quyền lợi của riêng cá nhân mình.Socrates thấy trong thách thức “vô luân” này một câu hỏi rõ ràng rằng một người có nên sống đời công chính hay không (344d-e), và ông liên tục kháng cự sự công kích từ Thrasymachus (Xem phần mở đầu bài viết Callicles và Thrasymachus). Cuối cùng, Thrasymachus hậm hực rút lui, như cách Callicles đã làm trong triết phẩm Gorgias, nhưng “chiến thắng” của Socrates không thoả mãn Glaucon và Adeimantus. Hai huynh đệ tiếp nối thảo luận từ nơi Thrasymachus bỏ dở, họ đưa ra những lý do tại sao đa số mọi người nghĩ rằng công chính không có giá trị nội tại mà chỉ đáng bận tâm khi và chỉ khi người đó chưa đủ mạnh (hoặc không đủ vô hình) để thoát tội bất chính. Họ muốn Socrates chứng minh cho họ thấy rằng hầu hết mọi người đã sai, rằng công chính phải được chọn vì lợi ích mà nó mang lại. Hơn thế nữa, Glaucon và Adeimantus muốn thấy rằng công chính luôn đáng chọn hơn bất kể phần thưởng hay hình phạt mà những người khác hay các vị thần ban cho người công chính, và họ chỉ chấp nhận kết luận này nếu Socrates có thể thuyết phục họ rằng sống công chính luôn luôn tốt hơn. Từ đây, Socrates phải chinh phục hai huynh đệ rằng một người nghèo khó cùng cực và bị khinh bỉ triền miên nhưng công chính sẽ có một cuộc đời tốt hơn một kẻ thành công và được chiêu đãi như thể hắn đã sống một đời hoàn toàn công chính nhưng thật ra bất công bất chính.Thách thức mà Glaucon và Adeimantus đặt ra gây không ít bối rối với những đọc giả hiện đại, những người đã quen với với việc phân chia đạo đức học thành các triết thuyết nghĩa vụ luận (deontology) vốn trình bày “cái đúng” tách biệt với “cái tốt” và hệ quả luận (consequentialism) vốn định nghĩa “cái đúng” dựa trên những thứ thúc đẩy “cái tốt” (tham khảo Foster 1937, Mabbott 1937, Prichard 1912 và 1928). Việc triết phẩm nhấn mạnh rằng công chính phải được ca ngợi “vì chính nó” đã gợi ý cho một số đọc giả rằng Socrates sẽ đưa ra một lý luận theo hướng nghĩa vụ luận. Nhưng đồng thời, việc nhấn mạnh rằng công chính phải được chứng minh là có lợi cho người công chính lại gợi ý cho một số đọc giả khác rằng ông sẽ biện minh cho công chính bằng cách quy chiếu về các hệ quả mà nó mang lại.Thực chất, cả hai cách hiểu này đều đã bị biến tướng đôi phần, do nó thuận theo thứ mà những triết gia hiện đại suy tư hơn thứ mà Plato suy tư. Socrates chấp nhận thách thức này vì ông quan tâm đến mối liên hệ giữa công chính với thành công hay hạnh phúc (eudaimonia trong tiếng Hy Lạp) của người công chính. Trong Phần I, ông lập luận rằng công chính, như là một đức hạnh, cho phép tâm trí thực hiện chức năng tốt đẹp và người có cuộc đời tốt đẹp sẽ sống “hạnh phúc, sung sướng” (352d-354a, trích từ 354a1). Trong đoạn đầu Phần II, ông tiếp tục tập trung vào một người muốn sống hạnh phúc. Ông nói, “Theo thiển ý, [công chính thuộc vào] loại cao nhất trong số có lợi, loại ai muốn sung sướng sẵn sàng đón nhận cả nó lẫn hậu quả của nó.” (358a1-3). Theo góc nhìn này, Socrates phải chỉ ra rằng việc theo đuổi hạnh phúc một cách thông minh ưu tiên việc sống công chính (thứ yêu cầu phải hành động công chính vào mọi lúc) hơn việc sống bất công bất chính (thứ dung túng cho cám dỗ của bất công bất chính và những thứ tồi tệ hơn) bất kể những hệ quả đi kèm với vẻ bề ngoài của công chính hay bất công. Tuy vậy, ông không cần phải chứng minh rằng việc sống công chính hay hành động công chính tạo ra hạnh phúc. Chức năng luận trong Phần I gợi ý rằng sống công chính cũng tương tự như sống hạnh phúc. Nếu Socrates tiếp tục giữ vững quan điểm này, ông có thể chứng minh công chính có giá trị “vì chính nó” song cũng đồng thời chứng minh công chính là hạnh phúc hơn.Nhưng chức năng luận này kết luận rằng công chính vừa là điều kiện cần, vừa là điều kiện đủ cho hạnh phúc (354a), đây là một luận đề mạnh hơn đáng kể so với khẳng định người công chính luôn sống hạnh phúc hơn người bất công bất chính. Sau thách thức mà Glaucon và Adeimantus đặt ra, Socrates có lẽ đã không còn mạnh dạn như trước. Kể cả khi ông thành công bảo vệ luận điểm sống công chính tương đương với sống hạnh phúc, có lẽ ông cũng nghĩ rằng có những trường hợp mà không một cá nhân công chính nào có thể hành động một cách công chính và từ đó đạt được hạnh phúc. Tuy nhiên, điều này vẫn thoả mãn Glaucon và Adeimantus nếu họ thấy rằng người công chính sẽ tốt hơn (nghĩa là, gần với hạnh phúc hơn) người bất công bất chính.
1.2. Các chiến lược đã bị loại bỏSau thách thức của Glaucon và Adeimantus, Socrates đi theo một hướng khá lạ thường (từ 367e). Ông đề xuất khảo sát công chính như một đức hạnh của mỗi thành quốc trước khi định nghĩa công chính như một đức hạnh của mỗi cá nhân vì ông dựa trên nền tảng thiếu thuyết phục rằng công chính của một thành quốc sẽ lớn và rõ ràng hơn công chính của một cá nhân (368c-369b), điều này dẫn đến việc Socrates lan man lạc đề về vài điểm đặc trưng của một thành quốc tốt đẹp (369b-427c). Có vẻ rắc rối. Nhưng cách tiếp cận gián tiếp này của Socrates không phải vô lý. Những luận điểm trong Phần I cùng với thách thức của Glaucon và Adeimantus đã loại bỏ một số hướng đi trực tiếp.Đầu tiên, Socrates có lẽ đã cố gắng truy xét xem rằng phải chăng công chính luôn là một lợi ích cá nhân ngay sau khi ông đã bằng lòng với khái niệm công chính đã được chấp nhận rộng rãi bởi cộng đồng. Nhưng Phần I đã loại đi chiến lược này bằng việc hoài nghi chính khái niệm công chính đó. Socrates bắt buộc phải định nghĩa công chính là gì để có thể trả lời cho câu hỏi được đặt ra cho ông, và những điều ông nói có lẽ cũng bị giới hạn trong những hướng đi quan trọng. Rõ ràng rằng, ông không thể định nghĩa công chính là hạnh phúc mà không mắc phải lỗi nguỵ biện lặp vấn (begging the question). Tuy nhiên, ông cũng phải đưa ra một định nghĩa về công chính mà người nghe cũng đồng ý là công chính: Giả như định nghĩa công chính của ông đòi hỏi việc tra tấn trẻ em tóc đỏ để giải trí thì ông cũng sẽ thất bại trong việc trả lời câu hỏi mà Glaucon và Adeimantus đặt ra.Hơn nữa, Socrates không thể định nghĩa công chính bằng cách liệt kê ra những loại hành động mà công chính yêu cầu hoặc cấm đoán. Chúng ta có thể phản đối chiến lược này vì lý do sau: Vì những loại-hành-động có thể được xác định bằng rất nhiều cách cũng như rất nhiều mức độ khác nhau, không một danh sách nào có thể liệt kê toàn bộ những loại-hành-động công chính hay bất công bất chính. Nhưng có một luận điểm cụ thể trong Phần I gợi ý lý do vì sao Socrates không tận dụng chiến lược này. Khi Cephalus mô tả công chính là giữ lời hứa và trả lại bất kể cái gì mượn của người khác, Socrates phản đối bằng cách viện dẫn một trường hợp trả lại cái đã mượn không phải là hành động công chính (331c). Phản đối này có tác động rất rộng, vì ta luôn luôn có thể tìm thấy rất nhiều ngoại lệ cho bất kỳ loại-hành-động nào mà trong mô tả của nó không bao gồm những từ như “sai trái” hay “công chính”. Giết chóc tàn bạo thì luôn luôn sai, nhưng bản thân việc giết chóc thì sao? Đền bù một cách công chính luôn luôn đúng, nhưng bản thân việc đền bù thì sao?Vì vậy, Phần I khiến Socrates gặp khó khăn trong việc xem công chính là điều hiển nhiên. Thậm chí tệ hơn, các điều kiện trong thách thức của Glaucon và Adeimantus dành cho Socrates cũng gây khó khăn cho ông trong việc xem hạnh phúc là điều hiển nhiên. Nếu Socrates tiếp cận vấn đề như một nhà hệ quả luận (consequentialist), ông có thể đưa ra một mô tả toàn thể về hạnh phúc và từ đó đưa ra một mô tả về công chính có thể thoả mãn cả hai điều kiện: phù hợp với quan niệm chung và chứng minh cách mà công chính mang lại hạnh phúc. Tuy nhiên, Socrates không tiếp cận như vậy. Ông thậm chí không làm nhiều việc như cách Aristotle sẽ làm trong Luân Lý Học (Nicomachean Ethics); ông không đề xuất những tiêu chuẩn chung cho khái niệm hạnh phúc là gì. Ông tiếp tục như thể khái niệm hạnh phúc chưa được thoả mãn. Nhưng nếu công chính là một phần trong hạnh phúc và công chính chưa được thoả mãn, thì Socrates đã đúng khi tiếp tục như thể khái niệm hạnh phúc chưa được thoả mãn.Tóm lại, Socrates cần xây dựng đồng thời một mô tả về công chính và một mô tả về hạnh phúc, và từ những mô tả này phải dẫn đến kết luận (thay vì giả định) cho thấy một cá nhân sống công chính luôn hạnh phúc hơn một cá nhân sống bất công bất chính.
1.3. Chiến lược được áp dụngSự khó khăn của nhiệm vụ này giúp ta giải thích vì sao Socrates lựa chọn con đường truy vấn thông qua thảo luận về công chính của công dân và hạnh phúc của công dân. Socrates có thể giả định rằng một thành quốc công chính sẽ luôn thành công và hạnh phúc hơn một thành quốc bất công bất chính. Giả định này sẽ không phải là một lặp vấn, và cũng được Glaucon cùng Adeimantus sẵn lòng chấp nhận. Nếu Socrates sau đó có thể giải thích cách mà một thành quốc công chính sẽ luôn thành công và hạnh phúc hơn một thành quốc bất công bất chính bằng việc đưa ra một mô tả về công chính của công dân và hạnh phúc của công dân, ông sẽ có một mô hình để biểu đạt mối liên hệ giữa công chính của cá nhân với sự thịnh vượng.Chiến lược của Socrates phụ thuộc vào phương pháp loại suy từ một thành quốc đến một con người. Phải có một mối liên hệ khả hiểu giữa thứ làm nên thành công của một thành quốc và thứ làm nên thành công của một con người. Nhưng để trả lời cho câu hỏi trong Cộng Hoà, Socrates không cần một diễn giải cho lý do vì sao phép loại suy này là hợp lệ, hoặc liệu rằng phép loại suy này có hợp lệ trên diện rộng hay không (nghĩa là, đúng với nhiều đặc điểm khác). Ngay cả khi nó chỉ giới thiệu qua một diễn giải về công chính và hạnh phúc cá nhân mà ta có thể đã bỏ lỡ, thì nó vẫn hiệu quả.
Mặc dù đây là tất cả những gì mà phép loại suy “thành quốc-con người” cần phải làm, Socrates ở thời điểm đó khẳng định nhiều hơn thế, và một trong những mối bận tâm dai dẳng về Cộng Hoà là bản chất chính xác và nền tảng của toàn bộ phép loại suy trong tuyên bố của Socrates. Ở thời điểm đó, Socrates có vẻ đã nói rằng mô tả về công chính phải áp dụng cho cả cá nhân và thành quốc vì các diễn giải có cùng vị ngữ “F” thì cũng phải áp dụng cho tất cả những thứ có tính chất F (ví dụ: 434d-435a). Ở những thời điểm khác, Socrates có vẻ đã nói rằng diễn giải về công chính phải được áp dụng trong cả hai trường hợp vì tính-F (F-ness) của một toàn thể được dựa trên trên tính-F của những bộ phận cấu thành nên nó (ví dụ: 435d-436a). Một lần nữa, có lúc thì Socrates có vẻ đã nói rằng những nền tảng này đã đủ vững chắc để cho phép ta lập luận quy nạp: Nếu tính-F của một thành quốc là-như-thế-này, thì tính-F của một cá nhân cũng phải là-như-thế-này (ví dụ: 441c). Trong những lúc khác, Socrates lại chuộng cách sử dụng tính-F của một thành quốc như một khải pháp (heuristic) nhằm xác định vị trí tính-F của con người. Plato chắc chắn đã đúng khi nghĩ rằng có một liên kết thú vị và không-phải-ngẫu-nhiên giữa những đặc tính cấu trúc và giá trị của xã hội với các đặc tính tâm lý và giá trị của con người, nhưng vẫn tồn tại nhiều tranh cãi về mối quan hệ này, rằng có thể nó không đủ vững mạnh để làm nền tảng cho những khẳng định của Socrates trong Cộng Hoà (Williams 1973, Lear 1992, Smith 1999, Ferrari 2003).Tuy vậy, triết phẩm Cộng Hoà chủ yếu đòi hỏi một câu trả lời cho câu hỏi của Glaucon và Adeimantus, và câu trả lời này không phụ thuộc (một cách logic) vào bất kỳ khẳng định vững mạnh nào cho mối liên hệ giữa thành quốc và cá nhân. Thay vào đó, nó phụ thuộc vào một diễn giải thuyết phục về công chính như một đức hạnh cá nhân và những lý do thuyết phục tại sao một người luôn hạnh phúc hơn khi họ sống công chính thay vì bất công bất chính. Vì vậy, chúng ta có thể chuyển sự tập trung đến những vấn đề này trước khi quay lại với những tư kiến của Socrates về một thành quốc thành công.

Cr: Nam Tước Tín