Doxa và ...Plato "...mối quan tâm chính của triết học Plato là sự phân biệt giữa thế giới khả giác và một thế…
"...mối quan tâm chính của triết học Plato là sự phân biệt giữa thế giới khả giác và một thế giới khác mang tính nền tảng hơn. Ta đã thấy rằng quan trọng là phải suy tư về cả sự phân ly lẫn sự không phân ly của thế giới khả giác khỏi cái Plato gọi là - do thiếu một thuật ngữ tốt hơn - thế giới tinh thần hay “thế giới khả niệm”. Nhưng vì những lý do sư phạm, sự phân biệt này cũng có thể được minh hoạ để cho biết bằng cách nào có một lớp các sự vật ta có thể phấn đấu đạt tới thông qua tư duy nhưng lại không thuộc về thế giới khả giác cũng như không thể quy giản vào cấp độ của diễn ngôn (bởi nếu có thể quy giản như thế ắt các Biện giả đã được biện minh và chân lý ắt là một ảo tưởng). Mục tiêu sư phạm này khá rõ ràng trong quyển VI của đối thoại Cộng hoà, trong đó Plato phân chia một đường thẳng thành hai phần đại diện cho hai khu vực của sự Tồn tại, khu vực khả kiến và khu vực khả niệm, tương ứng với hai loại nhận thức: tư kiến (HL: doxa) và khoa học (HL: episteme). Ta có thể dễ dàng tưởng tượng “giáo sư” Plato vẽ đường thẳng lên bảng đen để giải thích cho những gì ông cố gắng giúp ta hiểu được. Sự minh hoạ này, vốn không xuất hiện trở lại theo bất kỳ cách thức có hệ thống nào trong những đối thoại khác của ông, có lẽ đại diện cho sự ra đời của siêu hình học trong chừng mực nó ngụ ý một cấp độ thực tại khác với thế giới vật lý đồng thời giải thích tính quy tắc của thế giới này.
Thực tế thì, hữu thể học nhị nguyên của Plato (khả giác-khả niệm) – cũng như nhận thức luận tương ứng với nó (tư kiến, khoa học) – còn phức tạp hơn thế: thực ra là gấp bốn lần. Từng cái trong hai phần này, cái khả giác và cái khả niệm, lại có thể được phân chia thành hai phần khác vì trong thế giới khả giác, ta có thể phân biệt các sinh vật với những sự khúc xạ và hình bóng có liên quan của chúng. Hiển nhiên, những hình bóng thì kém thực tồn hơn các đối tượng mà chúng là những phản chiếu và hình ảnh của những đối tượng ấy. Ẩn dụ về sự phản chiếu rất quan trọng, ít nhất vì hai lý do. Không chỉ vì mỗi cấp độ cần được hiểu như là sự phản chiếu hay sự soi bóng của cấp độ ưu việt nào đó, mà ý niệm về một sự phản chiếu như vậy lại cũng tiền giả định một nguồn ánh sáng vốn không thuộc về bản thân các đối tượng. Giống như hình bóng là những phác hoạ mờ nhạt của các đối tượng tự nhiên thực tồn hơn chúng, bản thân những đối tượng thực tồn này không gì khác hơn là sự phản chiếu của một thực tại căn nguyên hơn tự nó được quang chiếu bởi một ánh sáng mạnh mẽ hơn ánh sáng của chúng ta.
Plato đặt nền móng cho ý niệm này bằng cách phân biệt hai lớp bên trong thế giới khả giác: thứ nhất là những hình ảnh, hình bóng hay những sự phản chiếu, và thứ hai là bản thân các đối tượng. Rồi ông gán cho chúng hai loại tư kiến (HL: doxa). Ông sử dụng eikasia (thường được dịch là “trí tưởng tượng”, nhưng ở đây, ta sẽ nói về những tư kiến gắn liền với các hình ảnh) nhằm biểu thị việc nắm bắt những sự phản chiếu và những hình bóng, và pistis (“niềm tin cảm tính”) nhằm biểu thị một xác tín mạnh mẽ với thực tại của các sự vật khả giác. Từ Pistis đã từng có một tiểu sử riêng biệt trong Kinh Thánh Tân Ước nơi nó được dịch ra là đức tin (La-tinh: fides). Mặc dù một số dịch giả không phải lúc nào cũng tránh làm như vậy, nhưng ắt sẽ là một diễn giải sai lầm, và một sự sai niên đại, nếu nói về đức tin trong văn cảnh các đối thoại của Plato. Ở đây, pistis tương ứng với niềm tin dành cho thế giới khả giác bởi hầu hết những người cho rằng các đối tượng khả giác là tất cả và là chỗ kết thúc của mọi sự vật. Tuy vậy, đối với Plato, niềm tin này chẳng là gì khác ngoài một sự xác tín (động từ tiếng Hy Lạp peitho và peithomai, vốn cùng một gốc như pistis, có nghĩa tương ứng là “xác tín” và “bị thuyết phục”) vốn thuộc về một cấp độ nhận thức thấp.
Giống như không gian khả kiến (HL: topos horatos) được chia cắt thành hai phần, thế giới khả niệm (HL: topos noétos) cũng có thể được phân chia thành hai phần. Các giả thiết toán học thuộc về cấp độ đầu tiên của lĩnh vực tinh thần, và các Ý niệm thuộc về cấp độ thứ hai. Một năng lực nhận thức riêng biệt được gán cho từng cấp độ: nhận thức suy lý (HL: dianoia) dành cho các giả thiết toán học và trí tuệ thuần tuý (HL: nous) dành cho sự nắm bắt trực tiếp các ý niệm.
Nhanh thôi, ta sẽ trở lại với sự phân chia này của thế giới khả niệm, nhưng trong lúc này, có lẽ ta đã có thể phân bố những sự phân chia trong Tồn tại và nhận thức trên một đường thẳng. Đường thẳng này là phương thẳng đứng và được phân chia thành những đoạn không bằng nhau, vì rõ ràng, có một số lượng vô tận các hình ảnh, các bản sao và những vật thế vì (simuclara) của các đối tượng sống giống như vô số các bản sao khả giác của các ý niệm..."
Cước chú:
1. HL: Tiếng Hy Lạp
2. HL: eikasia: Trí tưởng tượng, tư kiến gắn liền với các hình ảnh, các đối tượng khả giác, động vật, thực vật,...
3. HL: pistis: Niềm tin cảm tính / Các giả thiết toán học
4. HL: dianoia: Nhận thức suy lý / Các Ý niệm
5. HL: nous: Trí tuệ
6. HL: doxa: Tư kiến
7. HL: episteme: Kiến thức khoa học
Cr: đạo sĩ