Quảng cáo cho truyện ngắn "Tiệm Rượu" - phần 2 "…hắn chọn một cái ghế ở góc xa, sẽ là một ngày may mắn nếu…

Catholic Net · · Đối luận Triết học
Quảng cáo cho truyện ngắn "Tiệm Rượu" - phần 2

"…hắn chọn một cái ghế ở góc xa, sẽ là một ngày may mắn nếu chưa có ai ngồi, mà hắn luôn may mắn, vì chẳng ma nào đến vào giấc sớm thế này cả, nên luôn chỉ có hắn và Long, cô Huệ. Thỉnh thoảng thì ông người yêu của cô Huệ có ghé qua, nói gì đó về siêu hình học, ông này dạy triết ở trường trung học, ông Lâm, là ông người yêu của cô Huệ, cho là siêu hình học thật ra là thứ hình học nhất, còn mấy cái như tiệm rượu này thật ra mới là siêu hình học, không có thật đâu. Hắn lúc đó muốn hỏi: vậy cô Huệ có thật không chú? Nhưng lại thôi, hắn sợ cô Huệ hiểu sai ý hắn rồi lại giận. Ông Lâm gầy trơ xương, kính cận dầy cộp, quả là những người như ông Lâm này, là cho cái thị trấn này danh giá lên đáng kể, vì có lẽ, ông Lâm là người duy nhất trong thị trấn mà hắn quan sát được, không nói về giá bất động sản và chứng khoán, thằng bé con bà chủ trọ của hắn, mới học lớp 4 mà cũng nói về bất động sản. Ông Lâm chỉ nói về lý trí và ý chí, rồi thì nói về thời gian và “buổi tối”, có lúc vui vẻ, ổng có nói tới "buổi chiều" nữa, “những buổi chiều muộn”, đó là ngôn từ của ông Lâm, “là thời khắc hay ho nhất của nhân sinh đó”. Ổng cũng nói về chuyện “cây bàng thì khác với cây bàng mồ côi mùa đông thế nào”. Ông Lâm nói về chính trị, tất nhiên: “dân mình cần điều ác hơn điều thiện chứ, người ta nói gì ngược đời vậy, chẳng thế thì tại sao lại có nhiều chùa chiền, nhờ thờ đến vậy.” Hắn lôi ra một quyển sách đọc dở: Nhật Ký Kẻ Mị Tình của Kierkegaard, nhìn chung, theo hắn, mấy tay triết gia viết chán trừ Camus, khi mới đọc vài chục trang đâu, hắn nghĩ, tay Kierkegaard này ắt hẳn phải kiên nhẫn lắm, hoặc giả bị mắc chứng chậm chạp, cũng có thể lão viết quyển này vào mùa đông, hoặc giả nữa là lão viết khi đói, không hiểu sao viết về kẻ Mị Tình mà lại có thể viết ê a như vậy nữa. Hắn thi thoảng cũng cho rằng, chậm chạp là thứ hay ho nhất của con người, chứ không phải nhanh nhẹn chi đâu, thậm chí, trong những giây phút thông thái nhất của mình, hắn nghĩ có lẽ tốt nhất là không nên làm chi cả, nghĩa là, không những chỉ là chậm mà cứ lặng thinh, ngồi yên, là hay ho nhất nếu xét trên bình diện là một con người. Hắn đọc được khoảng vài chục trang thì không thể đọc hơn được, đành thôi, vì hắn còn nhanh quá.
Lại nói về ông linh mục, dĩ nhiên là ở thị trấn chỉ có một ông linh mục duy nhất, nghe nói từ La Mã về, hắn thấy tội nghiệp ông, vì xác suất có người hiểu ông nói gì ở thị trấn này cũng thấp như xác suất người ta chịu nghe hắn tư vấn về sách vậy. Có lần, hắn nói gì đó với một tay đeo kiếng cận, vẻ trí thức về “Zarathustra đã nói như thế”, tay này nghiêm sắc bảo: “chết người là chỗ cứ nghe thần tượng, ông này đã nói như thế, bà kia đã nói như vậy. Tôi rất hạn chế con tôi đọc self-help anh ạ.” Không hiểu được khi ông linh mục này nói gì đó về mặc khải hay ơn cứu độ, các cư dân đáng kính ở thị trấn này có nghĩ gì được được chuyện trúng số, tiền nhà và tiền chợ không nữa. Dù gì thì ông linh mục cũng có ông bồ cô Huệ để bàn về hữu thể và logic.
Cửa xịch mở, không khí lạnh ùa vào cùng với một đôi trai gái, trai thì có vẻ như một thợ sửa gì đó, nghĩa là kiểu như một người thợ sửa bóng đèn, xe đạp, bếp lò gì đó, không hiểu sao hắn lại nghĩ vậy nữa, có lẽ là do ánh mắt anh chàng này ít đề phòng do tiếp xúc nhiều với đồ vật, cô gái thì rõ là tuýp tiếp xúc nhiều với người, mắt đảo nhanh mọi người trong tiệm và cũng rất nhanh quyết định nên ngồi ở đâu, anh chàng theo sau ngay cô gái. Họ gọi hai ly chua với rượu nền là gin. Tiệm rượu này theo lối mấy quán bar nhỏ của Nhật Bản sau chiến tranh, chỉ phục vụ mấy món cocktail vị ngọt và chua, nền là gin hay vodka thôi, chẳng có món thức uống nào cụ thể cả. Gã thanh niên liếc quyển sách trên tay hắn, có vẻ thán phục, trong một giây, hắn có cảm giác tay thanh niên này đang bị bắt làm con tin, cố tìm cách nói cho hắn biết để cứu gã, hắn rất thường có những cảm giác lạ lùng như vậy. Hắn cũng đã gọi một ly chua và gin rồi, hắn không chịu được vị ngọt. Tiệm được bày biện theo lối cũ, màu tối đặc trưng của mấy quán bar nhỏ, đèn vàng mờ, đầy mùi thuốc lá, trên tường có treo tranh tĩnh vật và 2 cái đồng hồ cuckoo, tất cả đều ám bụi, ghế bành bọc da, bàn gỗ, có khoảng sáu, bảy bàn như vậy, mỗi bàn ba ghế, không khí làm người ta nghĩ đến tiệm rượu nơi nhân vật “tôi” gặp Zorba. Trong đầu hắn bỗng bật ra “nếp môi xưa tĩnh vật mấp máy đùa”, hắn cũng không rõ là thơ của hắn hay của ai nữa. Vì cửa tiệm cũng hướng ra bến sông, bến sông này cùng với bến sông lối vào nhà thờ và một bến nữa là ba bến sông của thị trấn, có vẻ như con sông bao phủ quanh thị trấn, hắn cũng không rõ nữa, hắn nghĩ, may rủi thì hẳn là có thật rồi, vì như một thị trấn mà được bao phủ bởi một con sông duyên dáng như ở đây, thì rõ là, so với quê hắn là quá may mắn rồi, thị trấn quê hắn, như mô tả về Nazareth trong một quyển sách mà D. tặng hắn lúc nào đó, là Chúa đã quên hẳn Nazareth khi tạo nên vùng Galliea, thị trấn của hắn cũng vậy, khô cằn, trơ trọi, không sông hồ, không cây cỏ nào ra hồn, và bao đời cư dân cũng học Chúa quên hẳn thị trấn của chính mình…
Chỗ hắn luôn ngồi trong góc, nhìn ra bến sông, hắn luôn ngồi đó, ly cockail trước mặt, và lần nào cũng vậy, hắn luôn phân vân là không biết có nên uống một mạch hết cốc nước nhỏ này hay không, và hắn luôn không động đến món thức uống cho đến khi rời đi, hắn chỉ ăn một bữa mỗi ngày vào buổi tối, đơn giản là hắn không thèm ăn, cơ thể hắn vẫn rất khoẻ mạnh và minh mẫn, nên chi tiêu đủ để hắn làm khách thường xuyên ở tiệm rượu này, mà vốn giá thức uống không nhỉnh hơn ở các tiệm cafe trong thị trấn bao nhiêu. Ngoài bến sông có vài lão già đang ngồi chuyện gẫu, những lão già ở đây không giống các lão già ở quê hắn, ở quê hắn, người già họ rất già và hôi hám, cho hắn cảm giác thoải mái quen thuộc và dễ gần, còn ở đây, mấy lão già trông trẻ trung và chỉn chu pha chút bất lương, làm hắn thấy rất chán. Vấn đề của người già là, theo hắn, là phải già, nếu không thì buồn nôn lắm. Mấy lão này và một ít các bà hay tụ ở bến sông này vào khoảng sáu giờ chiều và rời đi về nhà cho bữa tối khoảng một giờ sau đó, họ ở đây để tán tỉnh nhau như các cặp trai gái khác, mắt đưa qua lại, sáng lên dục vọng, chứ không mờ đục, nhìn thẳng và chậm như mấy lão ở quê hắn. Nước sông trong, cái trong trẻo đối nghịch với không khí đặc quánh bên trong quán rượu làm hắn thấy khoan khoái, thêm vài người nữa bước vào, có một cô gái hắn chưa thấy bao giờ, hắn cũng không nghĩ cô gái là người địa phương, trong lúc hắn đang bận bịu với những lão già thì cô gái đã kịp ngồi đối diện chỗ của hắn, lưng quay lại bến sông, ánh sáng cuối ngày bên ngoài hắt vào làm hắn không rõ được mặt cô gái, nhưng hắn biết cô đẹp, có lẽ cái đẹp của phụ nữ là thứ phi logic nhất hắn được biết, hắn biết ngay cô đẹp ngay cả trước khi biết mặt cô. Tóc, bờ vai, cánh tay…hắn không rõ nữa, nhưng hắn biết cô gái này đẹp…"

Cr: Sao La