'Kant: phủ nhận tri thức để nhường chỗ cho đức tin' Như một câu đố, không có gì trong câu nói này như nó có…
Như một câu đố, không có gì trong câu nói này như nó có vẻ thể hiện. Đằng sau mỗi từ ngữ, mỗi chi tiết ẩn giấu (của câu nói này) đều là chỉ dẫn đến những cốt lõi của triết học Kant. Tại sao Kant lại chủ trương phải nhường chỗ cho đức tin - những kiểm duyệt tôn giáo ép buộc hay 'sự thật đã' ép buộc ông? Tri thức cần bị phủ nhận là gì, vì mục đích gì và mang lại lợi ích cho ai? Rốt cuộc thì ‘phủ nhận tri thức’ là gì, và Kant là ai mà làm như vậy? Thật vậy, ‘tri thức là gì và đức tin là gì?’, và tại sao việc phủ nhận cái này lại nhường chỗ cho cái kia? Đây có thể là một con đường hẹp và quanh co xuyên qua một vũng lầy nhận thức luận nhưng nếu kiên nhẫn một chút, ta cũng có thể biết đôi điều. Giống như những câu chuyện của Kant, câu chuyện của ta có vẻ phải bắt đầu từ “Phê phán lý trí thuần túy” (A: 1781/B: 1787) khi Kant đưa ra tuyên bố rằng tất cả “sự quan tâm đến lý trí của tôi” cuối cùng đều hướng đến việc trả lời ba câu hỏi cốt yếu:
1. Tôi có thể biết được điều gì?
2. Tôi nên làm gì?
3. Tôi có thể hy vọng điều gì?
Để nhấn mạnh tầm quan trọng của những câu hỏi này, Kant lưu ý rằng chúng (ba câu hỏi) cùng nhau tạo thành câu hỏi cơ bản của nhân loại: Con người là gì?
Năng lực lý trí của ta cũng được Kant phân loại theo hai câu hỏi đầu tiên, và trong cả hai cách mà lý trí của ta vận hành: "suy đoán & lý thuyết”, lý trí của ta hướng vào việc xác định “cái gì đang tồn tại?” nhằm để trả lời câu hỏi đầu tiên bằng cách vạch ra bối cảnh của tất cả những tri thức có thể có. Ngược lại, lý trí thực tiễn cũng chính là khả năng lý trí hướng tới việc xác định điều gì phải xảy ra, và nó có nhiệm vụ trả lời câu hỏi thứ hai bằng cách xác định quy luật đạo đức cơ bản phải hướng dẫn mọi hành động của ta. Và cuối cùng, câu hỏi thứ ba là một câu hỏi đặc biệt bởi theo Kant, nó chỉ có thể được trả lời khi cả lý trí lý thuyết và lý trí thực tiễn đều phối hợp với nhau: “Câu hỏi thứ ba […] vừa mang tính thực tiễn vừa mang tính lý thuyết, do đó thực tiễn dẫn đến câu trả lời cho câu hỏi lý thuyết […]. Vì tất cả hy vọng đều liên quan đến hạnh phúc, và đối với các quy luật thực tiễn và đạo đức [… nó] cuối cùng đi đến suy luận rằng điều gì đó là […] bởi vì điều gì đó phải xảy ra […]. (Phê phán lý trí thuần túy, A 805–6/B 833–4.)”. Theo đó (câu hỏi thứ ba), 'hy vọng' gắn liền với cả tri thức và hành động - mặc dù ta chưa bao giờ ở được vị trí để biết thực hiện điều đó như thế nào, hoặc thực sự, đức tin khả dĩ đi vào “một bức tranh” là như thế nào. Vậy chúng ta hãy thử thõng tay áo và xem liệu câu trả lời của Kant cho câu hỏi đầu tiên có thể làm sáng tỏ điều gì đó cho ta hay không.
Để vạch ra những ranh giới của tri thức, “Phê phán Lý trí Thuần túy” của Kant đã đặt nền tảng cho siêu hình học khoa học: phát triển và biện minh cho phương pháp khoa học đúng đắn nhằm xác định chân lý của các mệnh đề siêu hình. Khi biện minh cho siêu hình học, Kant tiến tới phân định ranh giới giữa siêu hình học khoa học và siêu hình học giả khoa học, và tình cờ thay, một số khái niệm siêu hình học cổ điển – chủ yếu trong số đó là về “sự tồn tại của Chúa”, "quyền tự do của ý chí và sự bất tử của linh hồn" – đã được Kant “vạch trần” là Giả Siêu Hình Học. Cuộc truy tầm triết học lâu đời để tìm kiếm tri thức về những khái niệm này đã trở nên vô ích, vì Kant tuyên bố rằng ta không thể biết gì về chúng - ngay cả khi có thể có những thứ như “Chúa, linh hồn hay tự do” ngay từ đầu. Kant đã nói với ta rằng chúng (các tư biện siêu hình học lý thuyết về “Chúa, linh hồn hay tự do”) chỉ là những ảo ảnh, dẫn dụ ta mạo hiểm và cuối cùng đánh mất bản thân vượt ra ngoài ranh giới của những gì có thể biết được. Hãy thử nghĩ về sự phản chiếu đằng sau bề mặt của một tấm gương, tiêu điểm xuất hiện phía sau gương là một ảo ảnh quang học phát sinh khi ta tuân theo các quy luật phối cảnh vốn rất hữu ích cho chính ta theo cách: ta theo dõi những tia sáng này chiếu đến điểm được cho là xuất phát của chúng bên ngoài bề mặt và chiếu vật thể đó vào nơi nó thực sự xuất hiện, điều mà ta biết trên thực tế, là bất khả. Tương tự, Kant lập luận rằng bởi nguồn gốc của những ý niệm về “Chúa, linh hồn và ý chí tự do” nằm ở chính bản chất và quy luật lý trí của ta, đặc biệt là trong nỗ lực khám phá những cơ sở vô điều kiện biện minh cho mọi thứ khác. Lấy ví dụ về “nguyên nhân” - bất kỳ nguyên nhân nào: vì là những sinh vật có lý trí, ta biết rằng “nguyên nhân” không chỉ có tác dụng “gây ra” mà còn có còn nói về “nguyên nhân khác nữa” khiến nó (nguyên nhân) xảy ra, rồi ngược lại, nguyên nhân này còn có một nguyên nhân khác và cứ thế lý trí của ta dẫn ta ngày càng đi sâu hơn vào chuỗi nguyên nhân. Khi đó, xuất hiện một giả định tự nhiên và hợp lý rằng phải có đâu đó một nguyên nhân đầu tiên, một cái gì đó neo giữ chuỗi nguyên nhân nhưng, Kant lập luận rằng điều này không gì khác hơn là một ảo tưởng hợp lý không thể tránh khỏi, và chỉ để phóng chiếu mà thôi, ví dụ: “Chúa vượt ra ngoài thế giới kinh nghiệm với tư cách là nền tảng tối thượng của thế giới và điều này rất giống việc chiếu một hình ảnh phản chiếu ra ngoài bề mặt của nó.”
Bây giờ, điều quan trọng là Kant không chỉ nói: “ta không thể biết liệu có Chúa hay không, do đó chúng ta phải bằng lòng với đức tin của ta”, vì với sự lập luận loại suy của mình, ông không chỉ phủ nhận tri thức về các khái niệm siêu nhiên về “Chúa, tự do và sự bất tử”, mà thậm chí còn có thể xem đó là những đối tượng (của) mà tri thức có thể bắt đầu: theo bản chất của “ý niệm về Chúa”, đối tượng của nó là không phải là điều mà ta thậm chí nên cố gắng để biết. Nếu tấm gương hiện ra một chiếc bình đằng sau bề mặt của nó, và nếu ta hiểu được cách một tấm gương hoạt động như thế nào, thì liệu có hoàn toàn sai sót khi hỏi rằng có thực sự có một cái bình đằng sau gương không? Cũng có khả năng nhờ may mắn nào đó mà có, nhưng điều đó chẳng quan hệ gì đến hình ảnh phản chiếu. Tương tự, quan điểm của Kant là nếu ta hiểu ngay từ đầu những ý niệm về lý trí thuần túy này nảy sinh như thế nào, thì chúng ta sẽ thấy rằng việc “hỏi liệu các đối tượng của chúng có tồn tại trên thực tế hay không?” là một câu hỏi sai về mọi phương diện.
Vậy, ta đi đến manh mối ẩn giấu đầu tiên trong câu trích dẫn đang được đề cập: từ “phủ nhận” - có lẽ là một nỗ lực chuyển ngữ của một khái niệm phức tạp trong tiếng Đức: aufheben (cũng là một trong những khái niệm trung tâm của logic học Hegel.) Thuật ngữ này có nghĩa là hủy bỏ, bãi bỏ, loại bỏ hoặc đình chỉ - theo nghĩa cụ thể, nó có nghĩa là nâng một cái gì đó lên, vậy theo đó, Kant không chỉ muốn nói rằng ta không biết là, ví dụ như: “liệu Chúa có tồn tại hay không?” nhưng ta nên loại bỏ – aufheben – chính câu hỏi đó ra khỏi phạm vi tri thức. Nghĩa là, coi nó như một vấn đề của cái gọi là “Tôi có thể biết gì để bắt đầu”. Trong khi việc ta không thể biết đến Chúa hay không biết về tự do ý chí hay sự bất tử đã rõ ràng giải thích tại sao Kant phủ nhận 'tri thức về điều này', thì nó vẫn chưa giải thích được tại sao ông phải dành chỗ cho 'đức tin vào điều đó'. Để làm được điều này, ta cần tham khảo quan điểm của Kant về “câu hỏi thứ hai […]. Mặc dù Kant đã có thể loại bỏ những khái niệm này khỏi siêu hình học nhưng rõ là ông đã không loại bỏ hoàn toàn, vì như có thể thấy trong Phê phán lý trí thực tiễn (1788), chúng sẽ nhận được vai trò đúng đắn của chúng không phải trong siêu hình học mà là trong đạo đức học, như cái gọi là “các định đề về lý trí thực tiễn thuần túy”, cũng tức là những giả định đề mà ta, với tư cách là những sinh vật có lý trí, buộc phải đưa ra, để hành động như những sinh vật có đạo đức. Theo Kant, quy luật đạo đức được gọi là mệnh lệnh nhất quyết nêu rõ rằng có những việc ta nhất định phải làm, nhưng ta chỉ có thể bị buộc phải làm điều gì đó nếu ta được tự do làm điều đó: “ta không thể bị buộc phải hủy bỏ lực hấp dẫn, vì điều đó là bất khả”. Chỉ khi ta được tự do lựa chọn thì việc yêu cầu ta phải chọn cái này thay vì cái kia mới hợp lý, vì vậy Kant đặt ra định đề đầu tiên của mình, đó là định đề về tự do. Vì - nếu ta được trao điều này - là ta mặc nhiên có những nghĩa vụ đạo đức - thì ta phải cho rằng ta được tự do, nếu không thì nghĩa vụ này sẽ vô nghĩa.
Vì vậy, ta có một dạng bằng chứng thực tiễn về tự do, như Kant đã nói: thực tế là chúng ta không thể trực tiếp chứng minh “tự do” tồn hữu, như đã nêu trong "Phê phán lý trí thuần tuý", nhưng giờ đây ta không thể không tin vào “tự do”. Nói cách khác, ta không thể chứng minh rằng ta tự do và cũng không thể chứng minh rằng ta không tự do, nên ta cũng, cách mặc nhiên, được phép tin vào một trong hai. Và rồi, tự thân đạo đức thực tiễn đòi hỏi ta phải tin rằng ta tự do - đó là một dạng niềm tin hợp lý vào sự tự do của ta. Do đó, việc Kant phủ nhận kiến thức về "Chúa, ý chí tự do và linh hồn" - tức là loại bỏ chúng khỏi lĩnh vực lý trí phán đoán - cho phép ông khôi phục chúng thông qua lý trí thực tiễn, thông qua những gì lẽ ra “phải có, phải làm”. Vì vậy, ta thậm chí không thể thừa nhận "Chúa hay tự do và sự bất tử" vì mục đích sử dụng lý trí của mình một cách thực tế cần thiết trừ phi ta đồng thời tước bỏ khả năng của lý trí phán đoán trước những hiểu biết sâu sắc quá mức; bởi vì để đạt được những hiểu biết sâu sắc như vậy, lý trí phán đoán sẽ phải tự giúp chính mình đạt được những nguyên tắc mà trên thực tế chỉ tiếp cận được những đối tượng của kinh nghiệm khả hữu.
Chính sự tái hiện các ý niệm về Chúa, tự do và sự bất tử thông qua nền tảng của lý trí thực tiễn đã giải thích tại sao ta cần dọn chỗ cho “hy vọng”. Trước hết, Kant loại bỏ “Thiên Chúa, tự do và sự bất tử” khỏi phạm vi câu hỏi đầu tiên, và với sự trợ giúp của lý trí thực tiễn và cùng với câu trả lời của nó cho câu hỏi thứ hai, Kant đã đặt chúng vào phạm vi câu hỏi thứ ba: “đó không phải là điều ta biết mà là điều ta hy vọng”. Ta hy vọng - thực sự ta phải hy vọng, theo Kant, rằng “ta tự do, ta có Chúa, và linh hồn của ta là bất tử”, vì nếu không như vậy, ta không thể trở thành những tác nhân đạo đức. Nghĩa là, về mặt lý thuyết, lý trí của chúng ta giả định rằng "Chúa, tự do và linh hồn tồn tại" bởi vì lý trí thực tiễn của ta khẳng định rằng có điều gì đó phải tồn tại.
Để biết tại sao Kant phải phủ nhận tri thức để nhường chỗ cho đức tin và đức tin tạo nên hy vọng như thế nào, ta cần hiểu “tri thức và đức tin” là gì. Trong vấn đề này, điều quan trọng nhất là phải nhận ra rằng, trước hết, đức tin hay niềm tin theo Kant (Glaube) không phải là một mức độ tri thức mà là một cái gì đó thực sựckhác biệt, kế đến là, đó là tri thức nhường chỗ cho đức tin vì đức tin chân chính chỉ có thể tồn tại khi không có kiến thức. (Cần chỉ ra rằng tiếng Đức của Kant không phân biệt giữa Faith và Belief - vì cả hai đều được diễn ngôn là “Glaube”, do đó, khi Kant nói về đức tin, ta không thể hiểu nó chỉ nói tôn giáo vì thuật ngữ của ông bao gồm cả tôn giáo và phi tôn giáo, điều này quan trọng vì câu trích dẫn này cũng áp dụng cho thuật ngữ “tự do”, vốn cũng không phải là một thuật ngữ tôn giáo.)
Vậy Kant đã phân biệt giữa ý kiến, đức tin và tri thức thế nào?
1. Tôi có 'ý kiến' nếu tôi cho rằng nhận định của mình là đúng trong khi ý thức được sự thiếu sót cả về cơ sở chủ quan lẫn cơ sở khách quan để làm như vậy.
2. Ngược lại, đức tin có cơ sở chủ quan nhưng không đủ cơ sở khách quan.
3. Cuối cùng, tri thức có đủ cơ sở cả về mặt chủ quan lẫn khách quan.
Kant còn gọi sự đầy đủ chủ quan là sự chắc chắn. (Lưu ý rằng Kant không hiểu đức tin theo cách mà logic nhận thức luận đương đại hiểu: đức tin theo nghĩa này không phải là một thành phần của tri thức – như trong “đức tin thực sự được biện minh”. Vai trò này ở Kant được thực hiện bằng cách coi đó là sự thật ( Fürwahrhalten) và “ý kiến, đức tin và tri thức” là những biến thể hoặc phương thức để nói về “điều-là-đúng”). Bây giờ, nếu phạm vi của tri thức không bị hạn chế về nguyên tắc, thì sẽ không có đức tin đích thực. Mọi đức tin đích thực nhất chỉ là “tri thức chưa đầy đủ” và có thể được khắc phục kịp thời, theo Kant, đức tin đích thực, khác với tri thức không đầy đủ, chỉ có thể thực hiện được khi ta có đức tin chủ quan và đồng thời nhận ra sự thiếu sót khách quan của các căn cứ của chính ta. Hoặc tương tự, đức tin đích thực chỉ có thể có được khi không có khả năng hiểu biết và, mấu chốt nằm ở đây: đức tin đích thực vào "Chúa, tự do và linh hồn" chỉ có thể thực hiện được với sự chắc chắn rằng ta không thể biết “liệu có Chúa, tự do hay linh hồn hay không.”
Do đó Kant - nhận thức rõ về sự xung đột giữa khoa học và tôn giáo - dường như đã lường trước việc Kierkegaard sau này đã tạo ra một vai trò khép kín và tích cực cho đức tin vốn hàm chứa một phần độc lập với tri thức: “Ngược lại [với giả thuyết duy lý suy đoán], đức tin hợp lý cần dựa trên nhu cầu sử dụng lý trí với mục đích thực tiễn, có thể được gọi là định đề của lý trí - không phải như thể đó là một cái nhìn sâu sắc công bằng cho tất cả các yêu cầu logic về sự chắc chắn, nhưng bởi vì điều này được cho là đúng [đức tin hợp lý] và không hề sai khác so với tri thức, mặc dù nó hoàn toàn khác về phương diện bản thể. (Trong: Kant gesammelte Schriften vol. 8: 141–2.)
Đức tin cũng không thể thay thế tri thức, nhưng nó có thể - thực sự phải có thể - bước ra để hướng dẫn ta mỗi khi ta mạo hiểm vượt ra ngoài tri thức. Nhưng vai trò tích cực của đức tin hay niềm tin là gì nếu nó không phục vụ cho tri thức? Và mấu chốt quan trọng của câu trả lời cho câu hỏi này là: đức tin phục vụ cho hành động chứ không phải tri thức. Giả sử một vận động viên cố gắng phá kỷ lục thế giới, nếu ta hỏi rằng làm sao anh ta biết mình sẽ phá kỷ lục thì ta đã hỏi sai câu hỏi, vì anh ta không những không thể biết điều này mà còn hoàn toàn không liên quan đến việc anh ta không biết. Điều liên quan là (A) anh ta biết rằng kỷ lục có thể bị phá vỡ, và (B) anh ta tin hoặc có đủ niềm tin rằng mình có thể làm được điều đó. Nếu vận động viên này cần phải có tri thức về thành công để thử thì anh ta sẽ mãi mãi do dự để thực hiện nỗ lực đó. Đúng hơn, chính niềm tin và ước muốn đã thúc đẩy anh ta hành động.
Hoặc có thể xem xét bất kỳ mối quan hệ nào dựa trên sự tin tưởng: quả thực, nền tảng của một mối quan hệ có thể được xây dựng dựa trên niềm tin: ta rủ ai đó đi chơi vì ta biết họ sẽ đồng ý (hoặc ít nhất, một người đang chờ đợi sự chắc chắn khách quan về điều này trước khi hỏi sẽ phải đợi mãi) nhưng vì ta hy vọng họ sẽ làm như vậy và tin rằng họ có thể làm được. Niềm tin ở đây không phải là một ý tưởng cao cả nào đó như đức tin vào Thiên Chúa, mà là một biểu hiện một sựu tin tưởng rất thực tế và cụ thể hàng ngày. Không có hành động nào trong cuộc sống của ta lại “trần tục” đến mức không được xây dựng trên niềm tin, dù thậm chí rằng ta có thể không nghĩ rõ ràng rằng ta có niềm tin vào hệ thống tàu điện ngầm khi ta đến ga, và nếu ai đó có thể hỏi làm sao ta biết tàu sẽ ở đó, thì ta sẽ, như vậy là, bị ép buộc phải thừa nhận rằng ta không biết là: “lẽ ra đoàn tàu phải ở đó”, nhưng trước khi nó dừng lại sân ga và mở cửa cho ta, ta hoàn toàn không thể biết được. Và ta cũng không cần biết - phần lớn các hành động hàng ngày của ta được thực hiện mà không có sự chắc chắn, vì kỳ cùng thì, chỉ trong khoa học và triết học, sự chắc chắn mới được yêu cầu, ít nhất là ở một mức độ nào đó. Do đó, ta thấy rằng việc vượt ra ngoài tri thức không phải là một hành động phức tạp và trừu tượng nào đó của một triết gia mà là điều ta luôn làm. Vì trong khi một nỗ lực tạo ra tri thức về việc “có thành công hay không?”, tại thời điểm lựa chọn kết quả của hành động đó, theo một nghĩa rất thực tế, lại nằm ngoài tri thức của ta.
Tất nhiên, tri thức đóng một vai trò trong việc thúc đẩy hành động của ta, nhưng vai trò đó mang tính tiêu cực vì tri thức đặt ra ranh giới cho điều gì có thể và điều gì không thể, kiểu như: “Để chắc chắn, tôi đi đến tủ lạnh một phần vì tôi biết tôi có thức ăn ở đó, hoặc đến cửa hàng vì tôi biết mình không có thức ăn - nhưng cửa hàng thì có.” Tri thức, bằng cách hạn chế những gì có thể, sẽ thu hẹp những hành động có thể xảy ra, nhưng hành động ta thực hiện không được quyết định bởi tri thức ta có về những gì có thể làm được – nó còn được quyết định bởi khuynh hướng hay ý chí của ta: những gì ta muốn và mong muốn, coi trọng và khao khát. (Người vận động viên cố gắng lập kỷ lục không phải vì anh ta biết điều đó là có thể mà vì anh ta mong muốn phá kỷ lục và anh ta biết điều đó là cũng có thể.) Vì vậy, hy vọng là một trong những thành phần chính của hành động, xét cho cùng, một hành động là một nỗ lực mang lại điều mà người ta hy vọng. Ngược lại, niềm tin là động cơ của hành động: niềm tin tạo thành động lực cho phép ta chuyển từ hy vọng sang hành động, một động lực để hiện thực hóa hy vọng – hiện thực hóa điều lẽ ra phải có. Ở đây, cầu nối giữa câu hỏi thứ nhất và câu hỏi thứ hai cuối cùng đã xuất hiện: bị ràng buộc bởi những lựa chọn thay thế bởi những gì ta biết và mong muốn bởi những gì ta phải làm, ta có thể hy vọng vào những gì ta mong muốn và với đủ niềm tin, ta bị thúc đẩy hành động để biến điều ta mong muốn thành hiện thực. Bằng cách này, lý thuyết và thực tiễncùng nhau trả lời câu hỏi thứ ba của Kant: "Tôi có thể hy vọng điều gì?"
Câu hỏi - Tôi có thể hy vọng điều gì? - không phải là về những hy vọng nhất thời của người này hay người kia, mà nói chung là về điều mà tất cả chúng ta – trong chừng mực đạo đức của chúng ta – có thể hy vọng. Kant tuyên bố rằng đây là điều tốt đẹp nhất (summum bonum), sự hài hòa giữa đức hạnh và hạnh phúc: một trạng thái của thế giới trong đó ta, với tư cách là những sinh vật có đạo đức: hoàn toàn tốt đẹp, và trong đó chúng ta, với tư cách là những sinh vật hữu hình: hoàn toàn hạnh phúc. Bất cứ điều gì mà ta tin là tốt, và bất cứ điều gì mà mỗi một người trong ta mong muốn, không ai trong ta, (nếu ta tốt đẹp), có thể tránh khỏi việc cố gắng đạt đến một thế giới mà cả hai điều đó đều được hiện thực hóa cùng nhau - cho tất cả chúng ta. Mặc dù ta không thể biết liệu điều tốt nhất có thể thực hiện được hay không, nhưng mệnh lệnh đạo đức - nếu Kant đúng ở chỗ có một mệnh lệnh như vậy - thì ta phải nỗ lực hướng tới hiện thực hóa nó ngụ ý rằng điều đó phải khả thi. Do đó, ta đi đến sự cần thiết phải có đức tin vào ba ý niệm “về Chúa, tự do và sự bất tử”. Một biểu hiện của niềm tin lý trí thuần túy vào cái đang có phát sinh từ cái phải có.
Và mặc dù ngày nay ta có thể hoài nghi hơn Kant về việc liệu đức tin này có thực sự nên đặt vào Chúa một cách cụ thể hay không, nhưng triết lý của Kant ở đây đã tiết lộ một mối liên hệ hấp dẫn và sâu sắc giữa “đạo đức, đức tin và hành động”. Ở một khía cạnh nào đó, đức tin là câu trả lời cho câu hỏi tại sao ta phải làm theo yêu cầu của luật đạo đức? Nghĩa là, ta có thể đồng ý với Kant rằng “mệnh lệnh nhất quyết” thể hiện quy luật đạo đức và ta phải tuân theo nó - nhưng nghĩa vụ này có thể vẫn còn trừu tượng và xa vời, vì tại sao ta phải làm điều đó? Trong khi đạo đức có thể tự hào đứng trên đôi chân của mình, thờ ơ với sự nghi ngờ bản thân của ta, thì con người chúng ta với tư cách là những tác nhân đạo đức đang rất cần những động lực tiếp theo: “Do đó, nếu không có [đức tin vào] một Chúa và một thế giới mà chúng ta hiện không thể nhìn thấy nhưng được hy vọng, thì chắc chắn những ý niệm uy nghiêm về đạo đức sẽ là đối tượng để tán thành và ngưỡng mộ chứ không phải là động lực để quyết tâm và hiện thực hóa. - Phê phán lý trí thuần túy, A 813/B 841.), đây cũng là quan điểm mà Kant đã nhắc đi nhắc lại trong triết học của mình: “trong khi bản thân đạo đức không cần đến đức tin, thì chúng ta, với tư cách là những tác nhân đạo đức, lại bị tê liệt nếu không có sức mạnh của nó: Một con người cố gắng hành động theo những nghĩa vụ mà anh ta thấy có căn cứ vào bản chất của chính mình; nhưng anh ta cũng có những giác quan thể hiện điều ngược lại với anh ta với và nếu anh ta không còn động cơ và sức mạnh nào để chống lại nó, thì cuối cùng anh ta sẽ bị mù quáng…” (Các bài giảng về Học thuyết Triết học Tôn giáo, Kant gesammelte Schriften tập 28: 1011–12.)
Cuối cùng, ta thấy rằng vai trò của đức tin đối với Kant là cho phép hành động tự do. Tri thức không thể đóng vai trò là động lực của hành động bởi vì ta hiếm khi có bất kỳ sự chắc chắn nào rằng hành động đó sẽ thành công - tuy nhiên ta thực hiện hành động đó vì niềm tin, và hy vọng rằng nó sẽ mang lại điều ta mong muốn. Nếu tri thức ngự trị tối cao, ta sẽ thất bại với tư cách là những sinh vật có đạo đức, nhưng may mắn thay là không: khi ta bước ra ngoài biên giới của tất cả những gì có thể biết được, đức tin sẽ đảm nhận vai trò chính đáng của nó như một ngọn hải đăng dẫn đường cho ta. Tóm lại, Kant cho rằng ta phải phủ nhận tri thức để nhường chỗ cho đức tin bởi vì:
1. Ta không thể biết liệu có ‘Thiên Chúa, tự do hay bất tử hay không’? Và:
2. Ta được phép giả định trước điều này (‘Thiên Chúa, tự do hay bất tử’) là có tồn tại, vì trong trường hợp không có tri thức về "sự tồn tại này", ta vẫn có thể tự do tin theo một trong hai giả định. Và:
3. Với tư cách là tác nhân đạo đức, ta có trách nhiệm phải giả định trước rằng có sự tồn tại của ‘Thiên Chúa, tự do và bất tử’ như là động lực để thực hành đạo đức.
Cr: thỏ