Logic phải tự lo liệu bản thân hay còn phải chăm lo cho ngôn ngữ? Rằng có một trương lực trong quan niệm sơ…

Catholic Net · · Đối luận Triết học
Logic phải tự lo liệu bản thân hay còn phải chăm lo cho ngôn ngữ?

Rằng có một trương lực trong quan niệm sơ kỳ của Wittgenstein về logic giữa việc cho rằng logic và ngôn ngữ tự thân vận động và quan điểm kế thừa từ Russell và Frege rằng logic là ‘người chăm sóc’ ngôn ngữ. Phần lớn phê bình của Wittgenstein đối với chủ trương về logic của Frege và Russell dựa trên một quan niệm khác biệt về logic và ngôn ngữ của ông, vốn được thúc đẩy bởi mối bận tâm về ‘bản chất & ý nghĩa của mệnh đề’. Quan niệm này đã được dự đoán trước trong cái nhìn ban đầu của Wittgenstein rằng “logic phải tự thân vận động” và ngày càng được nhấn mạnh hơn khi ông viết Notebooks. Tuy nhiên, ta cũng có thể cũng lập luận rằng vào thời điểm đó, những suy nghĩ của Wittgenstein về tính “tự vận động” của logic chưa đủ cơ sở để thoát khỏi ‘ý tưởng phân tích’ của Russell, do đó khả dĩ gợi ý rằng động lực chính cho ‘lý thuyết miêu tả logic’ của Wittgenstein sau này có lẽ đã được kích hoạt bởi cái mà ta sẽ gọi là ‘nhu cầu của Russell’: nhu cầu ‘biện minh cho quá trình phân tích’. 1. Trương lực cơ bản trong quan niệm ban đầu của Wittgenstein về logic, mà ông đã nhận thức được vào thời điểm bắt đầu với Notebooks (1914-19162), xuất hiện trong câu hỏi được nêu trong mục thứ hai: “Làm thế nào nó có thể dung hòa được với nhiệm vụ của triết học: rằng logic có nên tự thân vận động không?” (Notebook, 2). Có vẻ rằng ‘nhiệm vụ của triết học’ đề cập đến ý tưởng ‘phân tích đầy đủ’ (phân tích túc lý) vốn là trọng tâm trong các nghiên cứu của cả Frege và Russell. Phần tái tạo ngắn gọn sau đây sẽ phác thảo một số giả định cơ bản làm nền tảng cho khái niệm ngôn ngữ ý tưởng về mặt logic cũng như ‘phân tích logic’ trong khuôn khổ các công trình nghiên cứu của Frege và Russell. Thứ nhất, quan niệm này đòi hỏi sự phân chia rõ ràng giữa ‘tư duy’ và ‘biểu hiện của tư duy’ trong ngôn ngữ – tư duy là điều mà logic quan tâm chứ không phải là biểu hiện của tư duy trong ngôn ngữ đời thường (đây thường là vấn đề của tâm lý học). Do đó, ta có sự tách biệt giữa “hình thức logic” - thứ mà logic đặc biệt quan tâm và ‘hình thức ngữ pháp’ – vốn không có tầm quan trọng đối với 'khoa học logic' ngoại trừ nguồn gốc của ‘tạp chất và nhầm lẫn’ (“Thay vì tuân theo ngữ pháp một cách mù quáng, nhà logic học đúng hơn, nên coi nhiệm vụ của mình là giải phóng chúng ta khỏi xiềng xích của ngôn ngữ” Frege 1997 [1897] 244). Logic xử lý các mệnh đề - nghĩa là xử lý các cách diễn đạt đúng đắn các suy nghĩ - chứ không phải các câu của ngôn ngữ thông thường. Chủ nghĩa tượng trưng hoặc ngôn ngữ lý tưởng về mặt logic (được mô phỏng theo các dạng thức toán học), trái ngược với các câu của ngôn ngữ thông thường, có thể trình bày rõ ràng hình thức logic của suy nghĩ của chúng ta (“Ngôn ngữ thuộc loại đó sẽ hoàn toàn mang tính phân tích, và sẽ hiển thị nhìn thoáng qua cấu trúc logic của các sự kiện được khẳng định hoặc phủ nhận” Russell 1956 [1918], 197-98). Mỗi câu (khẳng định) trong ngôn ngữ của ta phải có thể dịch được sang biểu tượng - điều đó có nghĩa là câu đó phải được phân tích. Ý tưởng đằng sau chủ nghĩa tượng trưng là “một từ và ‘không còn gì nữa’ cho mọi đối tượng đơn giản” như Russell đã nói, hoặc theo cách nói của Frege: “mọi biểu thức được xây dựng như một tên riêng… trên thực tế là chỉ định một đối tượng”. Sự kết hợp của những từ hoặc tên đơn giản này (trong một mệnh đề) được giả định là đề cập đến một sự kiện hoặc một phức hợp được tạo thành từ các đối tượng đơn giản (“Trong một ngôn ngữ hoàn hảo về mặt logic, các từ trong mệnh đề sẽ tương ứng từng cái một với các thành phần của mệnh đề.”- Rusell). Phân tích được hoàn thành khi ta mổ xẻ mệnh đề sao cho các đối tượng đơn giản cấu thành một sự kiện được thể hiện rõ ràng bằng những cái tên đơn giản đại diện cho chúng. Điều này cũng có nghĩa là hình thức logic của một mệnh đề được thể hiện rõ ràng và nhiệm vụ của triết học, xét về mặt mệnh đề được đề cập, đã được hoàn thành. Lưu ý rằng đây là một phiên bản khá đơn giản của câu chuyện, ta phải nhớ rằng nhiều khác biệt nhỏ sẽ trở nên rõ ràng nếu ta tập trung chặt chẽ hơn vào mối quan hệ giữa quan niệm phân tích logic của Russell và của Frege. Một quan niệm khác về điều này cũng được đưa ra trong Tractatus, và ở đây ta chỉ thử phác họa xem mục tiêu của ‘phân tích đầy đủ’ liên quan như thế nào đến nhiệm vụ của triết học và những giả định cơ bản chung về mục tiêu đó. 2. Bây giờ ta cần đưa ra lý do căn bản đằng sau “cái nhìn sâu sắc và quan trọng cực kỳ sâu sắc” rằng “logic phải tự thân vận động” (Notebook, 2), cũng là phần quan trọng trong triết lý ban đầu của Wittgenstein được cô đọng trong một vài mục đầu tiên của Notebook. Các trích dẫn được trình bày trong phần này phần lớn dựa trên những đoạn mở đầu và dựa trên một số nhận xét trước đó trong “Dictations to Moore (1914)”. Đầu tiên, ta được mời gọi xem xét ý tưởng về một cái gì đó giống như tính tự cung tự cấp của cú pháp (logic) – nghĩa là ta phải có khả năng thiết lập các quy tắc cú pháp bằng cách chỉ nhìn vào các ký hiệu, cũng nghĩa là, mỗi lần đề cập đến ý nghĩa của một dấu hiệu đều là một nước đi trống rỗng; điều này hoàn toàn không cần thiết vì không có gì được nói mà người ta chưa thấy (“Nếu các quy tắc cú pháp cho hàm có thể được thiết lập chút nào thì toàn bộ lý thuyết về sự vật, tính chất, v.v., là lặp thừa” (Notebook, 2). Điều này đặc biệt liên quan đến lý thuyết về các loại: bất kỳ lý thuyết nào như vậy đều là thừa, trùng lặp và vô nghĩa - vì nó cố gắng làm điều gì đó mà luôn luôn được thực hiện theo cách tầm thường hơn trong ngôn ngữ của chúng ta (“Ngay cả khi có những mệnh đề thuộc dạng [hình thức] “M là một vật” chúng sẽ là lặp thừa (tautologous) bởi vì điều này cố nói là điều đã được nhìn thấy khi bạn nhìn thấy “M”” (Dictations to Moore, 110). Những gì được đưa ra bởi các câu thông thường là đủ để ta có một ý tưởng khá hay về điều gì có ý nghĩa, tức là điều mà ta hiểu (“Rõ ràng là, ví dụ, với một mệnh đề chủ ngữ-vị ngữ, nếu nó có bất kỳ ý nghĩa nào, bạn sẽ thấy hình thức, ngay khi bạn hiểu được ý nghĩa đó.” mệnh đề, mặc dù không biết nó đúng hay sai” (Dictations to Moore, 110). Đạo đức tương tự được thể hiện trong suy nghĩ rằng bất cứ điều gì có thể xảy ra cũng đều hợp pháp (“Một dấu hiệu khả hữu cũng phải có khả năng biểu đạt” (Notebooks, 2), tức là logic chi phối sự hình thành của bất kỳ dấu hiệu nào có thể có trong ngôn ngữ của chúng ta, khiến nó trở nên hợp pháp, đưa nó vào lưu thông, ví dụ: “Mọi câu có thể đều được hình thành đúng cách” (Notebooks, 2). Thứ hai, ta phải đối mặt với một câu hỏi về sự vô nghĩa: không phải các dấu hiệu chịu trách nhiệm cho sự phá vỡ ý thức – trách nhiệm hoàn toàn thuộc về chúng ta. Một thời gian ngắn sau khi Wittgenstein viết những nhận xét trên, ông đã hình dung ra các điều kiện của ý nghĩa dưới dạng ẩn dụ hình ảnh (mở rộng) như sự thống nhất giữa suy nghĩ, ngôn ngữ của ta và thế giới của ta như thế nào, nhưng cuộc thảo luận đó nằm ngoài phạm vi của bài viết này. Điểm mấu chốt trong cuộc xem xét của ta ở đây là chỉ ra một sự tương phản quan trọng: trong trường hợp của Frege/Russell, chính “ngôn ngữ thông thường” đang được thử nghiệm, “vì rất nhiều sai lầm xảy ra trong lý luận có nguồn gốc từ sự không hoàn hảo về mặt logic của ngôn ngữ” (Frege 1997 [1897] 244), trong khi đó, đối với Wittgenstein, chính ta là những người chưa “đưa ra bất kỳ ý nghĩa nào cho một số phần [câu] của ngôn ngữ. Ngay cả khi ta tin rằng chúng ta đã làm như vậy” (Notebooks, 2). Do đó, bước đầu tiên hướng tới việc làm cho phép ẩn dụ hình ảnh có thể áp dụng được trên diện rộng đã được thực hiện: tất cả các câu phải được xử lý bình đẳng trong khả năng thể hiện các đặc điểm logic; chúng (các câu) đều có thể diễn đạt ý nghĩa. Các câu không phân tích được thì không được coi là có ‘lỗi logic’. Nếu có điều gì đó để phân tích xác định thì đó không phải là tính toàn vẹn logic của các câu, vì chúng vốn có tính toàn vẹn như vậy (“Hãy nhớ rằng ngay cả một mệnh đề chủ ngữ-vị ngữ không được phân tích cũng là một tuyên bố rõ ràng về một điều gì đó khá xác định” (Notebooks, 4). Sự khác biệt giữa dạng câu được phân tích và không được phân tích của một câu phải được tạo ra, chứ không nên phụ thuộc vào khả năng diễn đạt ý nghĩa của nó mà có lẽ phụ thuộc vào một điều gì đó ‘được bổ sung’. 3. Bây giờ chúng ta có thể quay lại câu nói của Wittgenstein: “logic phải tự thân vận động được?”, vậy logic (đó) có dung hoà được với nhiệm vụ của triết học không? Ở đây, ý tưởng cho rằng logic luôn (đã) có tác dụng trong bất kỳ CÂU nào có thể xảy ra xung đột với nhiệm vụ của triết học được hình thành dưới dạng phân tích đầy đủ. Wittgenstein nhận thức sâu sắc về trương lực này khi ông tự hỏi mình “Liệu một phân tích đầy đủ như vậy có tồn tại không? Và nếu không: thì nhiệm vụ của triết học là gì?” (Notebooks, 2) Nghĩa là, nếu mọi thứ ta cần về logic luôn có sẵn trong ngôn ngữ của ta, “được thể hiện bằng sự tồn tại của CÂU chủ ngữ-vị ngữ”, thì tại sao ta lại cần đến sự phân tích? Câu hỏi càng cấp bách hơn, vì rõ là phân tích được coi là nhiệm vụ của triết học, là nhu cầu thực sự của ta (“Vậy thì: nếu mọi thứ cần được trình bày đều được thể hiện bằng sự tồn tại của các CÂU chủ ngữ-vị ngữ, v.v., thì nhiệm vụ của triết học” khác với những gì tôi nghĩ ban đầu” (Notebooks, 3). Với câu hỏi quan trọng đến kinh ngạc này, Wittgenstein lần đầu tiên đã chạm đến trọng tâm của vấn đề – những kỳ vọng của Frege và Russell về những gì triết học sẽ đạt được, tức là sự rõ ràng tối thượng của hình thức logic thông qua việc phân tích đầy đủ các mệnh đề, trong đó phân tích được coi là điều cần thiết.

Cr: thỏ