HỒN BƯỚM MƠ TIÊN Tác giả: Khái Hưng “Cúi nhìn xuống cái vườn con bên cạnh cửa sổ, bỗng chàng chú ý đến một…
Tác giả: Khái Hưng
“Cúi nhìn xuống cái vườn con bên cạnh cửa sổ, bỗng chàng chú ý đến một vật, khiến mắt chàng đăm đăm không chớp: Trong hai khoảng tròn, đất mới xới, bên cây đại cành khô khan, da mốc thếch, có hai cây ngọc lan nhỏ mềm mại, ai vừa trồng, mỗi cây ngọn nở một bông hoa trắng muốt. Chàng chú ý đến là vì tâm trí đương bị cái tên Lan đẹp đẽ thôi miên… Chàng ngây người, ngẫm nghĩ: “Ngọc Lan! Có lẽ thế chăng? Âu yếm mà kín đáo lắm!”.
Những lời văn nhẹ nhàng, tinh tế này là của Khái Hưng trong tác phẩm đầu tay của ông mang tên “Hồn Bướm Mơ Tiên”. Tác phẩm được viết vào năm 1933, cũng là năm Tự Lực Văn Đoàn được Nhất Linh thành lập, vì vậy, đây cũng là tác phẩm đầu tiên của nhóm, truyện ngắn này cũng làtác phẩm nổi tiếng nhất và thành công nhất của nhà văn Khái Hưng. Bút danh Khái Hưng này được hình thành khi ông dùng phép đảo chữ để sắp xếp lại các chữ cái trong tên thật Khánh Giư của ông.
Hồn Bướm Mơ Tiên là truyện tình lãng mạn, cao thượng và trong sạch của Ngọc và Lan trong bối cảnh không gian ở một ngôi chùa vùng Bắc Bộ. Ngọc là chàng thanh niên Tây học được nghỉ hè, về chùa để thăm sư Cụ, người nhà của chàng. Còn Lan là chú tiểu đang sống và tu học ở nơi đây, Lan là một cô gái vì hoàn cảnh phải cải trang là nam để đi tu, nương nhờ chốn cửa Phật.
…..
Ngọc đã cảm nhận được cái tình kín đáo của chú tiểu Lan hay là Ngọc đang thầm mơ tưởng trước, rồi vô tình hai chữ “Ngọc lan” lại chạm đến chàng bởi Ngọc là tên chàng và Lan là tên nàng. Hai chữ Ngọc Lan được ghép đôi lại, như một sự ghép đôi tình yêu giữa hai người. Nhà văn đã rất khéo léo và tinh tế lồng ghép chi tiết này vào trong truyện, khiến cho người đọc cũng dễ bị rung động theo thứ tình cảm nhẹ nhàng, lãng mạn của Ngọc. Bởi khi người ta thầm thương một ai đó, người ta cũng thích ghép tên mình với tên người mình thương. Ngọc Lan trong “Hồn Bướm Mơ Tiên” hay Trương Thu trong cuốn tiểu thuyết “Bướm trắng” của nhà văn Nhất Linh cũng vậy. Họ cũng thích thú khi ghép chữ tên mình và người thương cách lãng mạn, dung dị như thế; Trương đọc trong cuốn sổ tay của mình “30 Tết. Thu không dám đương nhiên nói một câu mời rất tự nhiên: một chứng cớ là Thu yêu mình. Tại sao Thu lại thấy chiều ba mươi Tết là buồn: hai chứng cớ là Thu yêu mình.” Trương mỉm cười về câu chua có ý nghĩa khôi hài. Chàng rút bút máy biên thêm: "Trương Thu bắt đầu yêu nhau. Chàng sung sướng khi có ý viết hai chữ “Trương Thu” liền sát thành một chữ.”
…..
Nhưng đó là thứ tình cảm rất sáng trong và cao thượng, hai người “yêu nhau trong linh hồn, trong lý tưởng”. Ngọc nhớ đến một câu Kiều “Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau”. “ừ phải, người ta tu hành. Tội nghiệp!”. Ngọc vì thương Lan nên Ngọc cố cất giấu thứ tình cảm ấy trong lòng, nhưng thứ tình cảm ấy mỗi ngày mỗi lớn trong Ngọc. Chàng đã dốc hết can đảm để viết lá thư cho Lan, nhưng cuối cùng lại xé đi không dám thổ lộ, mà vô tình Lan lại nhặt được lá thư đã xé, Lan đã ghép từng mảnh và đọc được tâm tư trong lòng Ngọc mà hai dòng nước mắt tuôn trào:
“Cô THI
Nam mô A Di Đà Phật! Tôi bắt đầu bức thư của tôi bằng một câu niệm Phật, để xin Phật độ trì cho kẻ khổ sở này, như Phật đã độ trì cho hết thẩy các chúng sinh. Vì tôi chỉ là một người lạc lối trong rừng người, như một hạt cát bị vùi trong bãi cát sông Hằng Hà.
…
Mấy hôm nay tôi đọc quyển “Phật giáo”, tôi thấy tôi yêu đạo Phật. Tôi yêu đạo Phật thì tôi lại càng yêu cô, tôi yêu một cách chân thành, tôi yêu trong linh hồn, trong lý tưởng. Cô tha thứ cho, tôi không thể cứ mãi yêu chú Lan, phải cho phép tôi yêu cái linh hồn thực của chú Lan mới được: Cái linh hồn ấy, là cô Thi.
Cô xem thư mà xét thấu cho lòng này, thì tức là cô vâng ý Phật cứu vớt được một linh hồn đương bị đắm đuối ở cõi nhân gian.”
Còn Lan, ngỡ mình đã rũ sạch bụi trần mà lòng còn chút vấn vương, xao động, Lan quỳ lạy trước ban thờ Phật, cầu khấn đến Phật Tổ từ bi, xin chứng dám cho lòng nàng, mong Đức Phật từ bi, xám hối, nâng đỡ dìu dắt Lan thoát khỏi mê lầm. Nàng xin nguyện đoạn tận những ô nhiễm trong tâm để bước theo con đường của Phật: “Phù hộ cho đệ tử… đủ nghị lực… xa chốn trầm luân…” “Đệ tử đã dốc lòng tin mộ đạo, không ngờ nay mới biết lòng trần tục vẫn chưa rũ sạch. Nhưng đệ tử xin thề ở trước đức Từ bi…”
….
“-Vâng, tôi là gái. Tôi biết thế nào cũng chẳng giấu nổi ông. Nhưng còn câu chuyện vì sao tôi phải cải trang, thì tôi chưa thể thổ lộ cùng ông được. Chỉ xin ông buông tha kẻ tu hành này, kẻ tu hành khốn khổ này ra mà thôi.
Ngọc thở dài:
- Thưa ni cô, ni cô không ngại. Tôi xin thú thực với ni cô rằng tôi yêu ni cô, tôi yêu ngay từ lúc còn tưởng ni cô là trai. Ni cô là một người thông minh dĩnh ngộ, xinh đẹp như thế thì ai lại không yêu được… Mà lạy Phật tha tội cho, có lẽ ni cô cũng đôi lần cảm động…
- Ni cô chả nên nghĩ ngợi, ni cô nên coi tôi là một người bạn thành thực có thể vì ni cô hy sinh hết mọi sự, cho đến cả hạnh phúc của tôi, cho đến cả ái tình của tôi, ái tình có lẽ tuyệt vọng của tôi.
Rồi Ngọc trở lại Hà Nội, giấu kín bí mật về chú tiểu, để giúp hai người quên đi câu chuyện ái tình tuyệt vọng này, để lại cho Lan bức thư với mấy dòng nhắn nhủ: “Giữ lời hứa hôm qua, tôi xin kính chào chú ở lại tu cho thành chánh quả… Chú có còn tưởng nhớ tới tôi, tới người bạn khốn khổ này, thì xin chú cầu nguyện cho linh hồn tôi chóng được lên cõi Nát Bàn.”
Đây chưa phải đến hồi kết của câu chuyện, liệu tình yêu đó của Ngọc và Lan sẽ diễn biến ra sao, xin mời bạn đọc và cảm nhận. Xin thứ lỗi vì đã mải mê kể lể nhiều, nhưng hi vọng sẽ không làm ảnh hưởng đến sự hân thưởng của bạn với tác phẩm…
Cr: hư không