LẠNH LÙNG Tác giả: Nhất Linh “Nhung lấy khăn lau nước mắt nhìn vào trong giường, lắc đầu.

Catholic Net · · Đánh giá sách
LẠNH LÙNG
Tác giả: Nhất Linh

“Nhung lấy khăn lau nước mắt nhìn vào trong giường, lắc đầu. Nàng lên giường nằm, kéo chăn trùm kín không muốn nghe tiếng nói chuyện ở ngoài nhà. Vì đêm trước thức khuya nên Nhung ngủ thiếp đi. Lúc nàng tỉnh giấc, trời đã về chiều. Nàng ngồi dậy, nhìn ra mấy ngọn tre gió đưa lắc lư lên nền trời mây xám mờ mờ. Nhung như vừa tỉnh một giấc mơ đau đớn, và trong người thấy nhẹ nhàng vì sự đau đớn đó đã qua rồi.”
Trên là trích đoạn ngắn trong tiểu thuyết “Lạnh lùng” của Nhất Linh – cây bút chủ lực của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Tiểu thuyết được đăng dài kỳ trên báo Ngày Nay, từ số 16 (ngày 12-7-1936) đến số 37 (ngày 6-12-1936) - NXB Đời Nay, được xuất bản lần đầu năm 1937. “Lạnh lùng” là câu chuyện về Nhung, một thiếu phụ trẻ, xinh đẹp, lòng đầy khát khao yêu đương nhưng bị trói buộc trong nghĩa vụ thủ tiết thờ chồng. Cô lấy chồng năm hai mươi tuổi và tiếc rằng cuộc hôn nhân với người chồng mà cô “chỉ kính chứ không yêu” chỉ kéo dài ngắn ngủi trong vài năm, chồng cô mất vì bệnh và để lại cho cô một cuộc đời dang dở, cô liêu với bốn chữ vàng “TIẾT HẠNH KHẢ PHONG” mà cô bị trói buộc và phải có trách nhiệm giữ lấy “danh thơm” cho hai bên gia đình, không chỉ gia đình chồng mà cả cho gia đình nhà mẹ đẻ của cô nữa.
Nhung sống phần đời lẻ loi của mình với sự giữ gìn, bằng lòng và cam chịu với số phận của mình. Người ta nể trọng cô với sự thủ tiết, trung trinh với chồng mình – nghĩa là, nếu cô vẫn chấp nhận ở vậy nuôi con đến suốt đời, cô sẽ được người đời ca ngợi mà không tiếc thương cho người phụ nữ hẵng còn trẻ, hẵng còn “dang dở” với cảm nhận hạnh phúc của mình. Rồi Nghĩa xuất hiện, Nhung mới nhận ra sự trống trải, cô đơn và lẻ loi của cuộc đời mình. Những khát khao yêu thương thầm kín được bừng dậy, Nhung đã biết yêu và muốn được yêu. Nhung muốn được cởi trói cho chính mình, muốn được kết hôn với người mình yêu, nhưng liệu Nhung có đủ mạnh mẽ để chống đỡ với luân lý chật hẹp, với tục lệ và thành kiến của xã hội, với những gì mà những người xung quanh đều coi đó là bổn phận tự nhiên “ở vậy nuôi con mới phải đạo” mà cô phải giữ lấy, giữ lấy cái danh cho gia đình.
Trong tình yêu với Nghĩa, ban đầu Nhung cũng dằn vặt, băn khoăn với tình cảm của mình. Nhung muốn được yêu Nghĩa, đến bên Nghĩa, nhưng Nhung cũng nghĩ về hậu quả của chuyện này nếu sự việc bị bại lộ, người ta sẽ khinh rẻ cô, coi thường cô, chỉ vì “người phụ nữ đã goá chồng lại không chịu ở vậy nuôi con, mà lại dám đi bước nữa, dám có tình cảm với người đàn ông khác không phải người chồng đã khuất của mình”. Và hơn hết, cái danh thơm của hai họ sẽ không còn, dẫn đến sự đau khổ cho cha mẹ cô, mẹ chồng cô – bà Án. Vì thế mà lúc Nghĩa không còn dạy học ở nhà cô, phải rời đi nơi khác (do mẹ chồng cô đã tình cờ phát hiện bí mật giữa hai người), Nhung dù buồn khổ thì cô cũng đã tưởng mình “như vừa tỉnh một giấc mơ đau đớn, và trong người thấy nhẹ nhàng vì sự đau đớn đó đã qua rồi.”, cô cảm thấy chút “nhẹ nhàng” vì từ nay cô sẽ không còn phải sống trong sự vụng trộm hẹn hò, lén lút và nỗi sợ bẽ bàng nếu như một ngày chuyện của cô bị phát hiện… Nhưng chính khát vọng tình yêu mạnh mẽ, sau đó, đã giúp cô quên đi những nỗi lo sợ, dám quyết tâm, can đảm đến với tình yêu của mình. Cô muốn cuộc sống mới, hạnh phúc bên Nghĩa. Cô đã gom hết sự can đảm của mình, quyết định về nhà thổ lộ, thú nhận với mẹ và xin mẹ đồng ý cho mình. Nhưng mẹ cô, một người phụ nữ phong kiến cũ, dù có thương con thì cũng không thể nào “thoát ra” được cái suy nghĩ, định kiến về cái hủ tục, lề thói mà xã hội đã trói buộc vào người phụ nữ.
Rốt cuộc cái danh thơm ấy là gì mà người ta phải cố giữ đến thế?
“Nhung ơi.
Thấy mẹ gọi mình bằng tên tục, Nhung rùng mình vì tự nhiên nàng nhớ đến những khi có người ngất đi réo tên tục để gọi cho tỉnh.
- Con phải nghĩ lại thương mẹ và thương thằng Giao nó còn bé nhỏ. Con nỡ nào đầy đoạ nó như thế, nó đã tội tình gì cho cam. Bao nhiêu người khổ vì con… lại còn thầy nữa. Thầy đã già yếu lắm. Thầy mà biết tin này thì thầy chết mất, Nhung ạ.
- …..
- Con không biết, chứ tiếng con to lắm. Không phải mẹ không biết thương con, nhưng người ta ở đời không gì quý hơn cả tiếng thơm. Mẹ không nỡ nào để con trong một lúc dại dột mà làm mất cả công trình của con, của thầy mẹ dạy dỗ con.”
Vì thương thầy mẹ, Nhung đã quay đầu, chấp nhận nghe lời mẹ, từ bỏ ý định bỏ trốn theo Nghĩa, tiếp tục sống với đời goá phụ, nhưng mặt khác Nhung từ nay không còn cảm thấy áy náy với tình yêu của mình nữa, ngược lại, Nhung đã “dấn thân” vào sự giả đạo đức của mình. Nhung vẫn qua lại với Nghĩa, thậm chí còn không thèm giấu giếm mẹ chồng về mối quan hệ của mình.
Còn bà Án, mẹ chồng Nhung thì sao? Mặc dù biết mối quan hệ của Nhung và Nghĩa, nhưng bà vờ như không biết, thậm chí để che giấu cho hành động của con dâu mình, bà đã tạo ra cớ cho Nhung đi thu hồi nợ trên tỉnh để có dịp gặp Nghĩa mà không bị ai khác nghi ngờ. Bà vì muốn “giữ” con dâu ở lại, giữ lấy cái danh có con dâu dù còn trẻ, đã goá chồng năm năm nay vẫn giữ tiết hạnh với chồng, một mặt vừa thể hiện sự khôn khéo, quan tâm của mình với con dâu, để cho cô sống thoải mái ở nhà mình mà cam phận chấp nhận gắn bó đời mình với nhà chồng, mỗi khi có khách đến chơi bà luôn ca ngợi hết lòng nết na, phẩm hạnh của con dâu mình với khách, nhưng mặt khác bà cũng cay nghiệt với con dâu, trách móc con dâu thông qua việc mắng nhiếc Nhài, người từng hầu hạ trong nhà bà: “Đừng học thói lăng loàn nữa, làng nước người ta cười cho…mày thì còn chết nếu mày không chừa hẳn cái tính đĩ thoã của mày đi”. Những lời này của bà ngoài mặt thì có vẻ lo lắng cho Nhung, cảnh tỉnh Nhung không đi vào con đường lầm lỗi, nhưng thực sự sâu bên trong bà cũng chỉ lo cho “thanh danh, tiếng thơm” của mình. Bà thà chấp nhận “sự giả dối” của Nhung, nhưng miễn là cô vẫn ở đây, cùng hợp tác với bà, che đậy hành vi của mình, miễn là cô không bỏ đi lấy chồng, thì bốn chữ “Tiết hạnh khả phong” vẫn còn vững vàng, sừng sững trong nhà bà.
Những sự vờ vĩnh ấy của bà Án, Nhung có biết không? Nhung biết chứ, Nhung biết mẹ chồng, em chồng cố tỏ ra tốt với cô để cô không có cớ mà bỏ đi, cô nhận ra họ đối với cô chỉ như người xa lạ. Lúc quyết định bỏ nhà ra đi, chỉ có hai bàn tay không, cô “mới biết bấy lâu ở nhà chồng chỉ sống như một người ở gửi, mà đồ đạc bao nhiêu thứ bây lâu nay nàng dùng không phải đồ đạc của nàng”. Chỉ khi nào về nhà mẹ, cô mới có cảm giác được “ở trong nhà mình”. Cô chỉ như một người xa lạ, đến ở gửi nhà chồng, cô không có cảm giác mình “thuộc về” nơi đó. Nhung cũng biết bà Án biết mối quan hệ của mình với Nghĩa, cũng biết phối hợp với bà để trọn vai mà cô cần phải diễn trong vở kịch mà cô và mẹ chồng cô là nhân vật chính. Cái danh thơm kiểu như “Danh gia vọng tộc”,”nề nếp, gia giáo”, cái tấm áo mà mẹ chồng cô, cha mẹ cô muốn khoác lên mình, dù bên trong hiện thực có ra sao thì nhất định, nhất định họ phải giữ lấy, giữ cho bằng được, không thể nào bị kéo xuống.
Câu chuyện của Nhung đã qua gần một trăm năm nay. Nếu như Nhung của thời hiện tại, có lẽ Nhung đã cởi trói được cho mình khỏi những ràng buộc, sức nặng của luân thường. Nhung đã có thể có được tự do yêu đương, tự do hôn nhân và tự do tìm kiếm hạnh phúc, tự do quyết định cuộc đời mình. Thương Nhung, thương người, nhưng may mắn thay, vì giờ đây “Người đã biết thương người”, “người biết yêu người”!

Cr: hư không