TẬP TRUYỆN NGẮN SỢI TÓC Tác giả: Thạch Lam Thạch Lam sinh ngày 7-7-1910 và mất ngày 28-6-1942, ông mất khi…
Tác giả: Thạch Lam
Thạch Lam sinh ngày 7-7-1910 và mất ngày 28-6-1942, ông mất khi mới 32 tuổi vì bệnh lao. Nhà văn tên thật là Nguyễn Tường Vĩnh, sau này khi làm giấy khai sinh lại, đổi tên là Nguyễn Tường Lân. Ông là con thứ sáu trong gia đình có cha ông là Nguyễn Tường Nhu, anh trai ông là Nguyễn Tường Tam – bút danh Nhất Linh, là người sáng lập nhóm Tự Lực văn đoàn. Những buổi đầu, ông tham gia Tự Lực văn đoàn với vai trò biên tập tuần báo Phong Hoá và tờ Ngày Nay. Năm 1935, ông được giao làm chủ bút của tờ Ngày Nay.
Trong lời giới thiệu tập truyện ngắn “Sợi tóc” của Thạch Lam (NXB Đời nay, 1942), được Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2022 có viết “ Vũ Bằng từng nhận xét: “Trong nhóm Phong Hoá, Ngày Nay, Hoàng Đạo là người lý thuyết, Nhất Linh là người thực hành, Khái Hưng là người đả phá nếp sống cũ để tiến đến một đời sống mới tựu trung đều là thương người yêu người cả, nhưng muốn nói đến một người tôn thờ nhân bản thực sự, một người yêu thương xót xa đồng bào từ tâm can tỳ phế thương ra thì người ấy chính là Thạch Lam”, cũng có lẽ bởi thế, nên tôi yêu thích văn Thạch Lam từ cái xót xa chân tình đó.
Tôi thích văn của Thạch Lam, thích cái lãng đãng, nhẹ nhàng và cái chân thực, gần gũi mà ông tả rất tài tình về con người, về cảnh vật làng quê, về đời sống xã hội.
Trong tập truyện ngắn “Sợi tóc”, mở đầu bằng truyện “Dưới bóng hoàng lan” là sự êm ả, nhẹ nhàng, và bình yên của làng quê, của ngôi nhà tuổi thơ, nơi có bà ở đó, có giàn thiên lý xanh mướt, có bể nước mát rượi và có cây hoàng lan toả mùi hương thoang thoảng và câu chuyện gặp gỡ, cảm mến của hai nhân vật Thanh và Nga với những chớm yêu thuở ban đầu. Tiếp theo với truyện ngắn “Tối ba mươi”, “Tình xưa” thì khác, nhà văn khắc hoạ những thân phận đời khác, là cuộc sống bế tắc, lưu lạc của hai cô gái làng chơi, là sự “trơ trọi”, không có nơi để về, không có người thân để thăm, để ngày 30 có cảm giác “về quê ăn tết” mà mỗi người khi tha phương đều mong có nơi để trở về sum vầy. Hoặc là câu chuyện của chàng thanh niên đi học xa nhà, đem lòng yêu mến với cô gái ông chủ trọ, vì vài lời trêu chọc của bạn bè, mà từ yêu anh chuyển sang né tránh, từ chối và làm tổn thương tình cảm chân thành của cô gái.
Đến với “Sợi tóc” có lẽ là truyện ngắn “đỉnh” nhất trong tập truyện, nên nhà văn đã lấy tên truyện ngắn làm tên cho tập truyện. Ở đây nhà văn khắc hoạ tài tình tâm lý nhân vật, dẫn dắt người đọc đi vào ngóc ngách u tối, sâu thẳm nhất trong tâm hồn con người. Là sự đấu tranh, giằn vặt giữa việc ăn cắp hay không ăn cắp, là cái biên giới mong manh giữa cái tốt và cái xấu. Trong tình huống có thể thò tay rút lấy mấy tờ giấy bạc một trăm trong ví người bạn rất dễ dàng, nhân vật đấu tranh nội tâm, hình dung ra mình sẽ hành động thế nào, diễn biến câu chuyện tiếp theo đó, người bạn sẽ than thở ra sao, sẽ nghi ngờ ai có thể lấy mấy trăm bạc trong ví của anh ta và thậm chí cả việc anh sẽ nói gì để xoá đi sự nghi ngờ của người bạn. Tất cả những ý nghĩ ấy thoáng qua rất nhanh trong tâm trí nhân vật và những suy nghĩ khác, giằng xé, đan xen trong nội tâm, đứng ngồi không yên, anh chỉ muốn ra về và thực hiện cái hành động ấy cho xong, vì với anh mấy đồng bạc ấy có giá trị lắm, chả bao giờ anh có đến được một trăm bạc bỏ túi, trong khi anh bạn anh thì chẳng biết làm gì mà lại lắm tiền thế.
Thế rồi, cuối cùng trước khi ra về, trong cái phút giây định mệnh ấy, anh lại hành động ngược lại, quyết định trả lại chiếc áo có cái ví bên trong cho anh bạn và còn nhắc “Anh đếm lại tiền đi. Và để cẩn thận vào trong ấy.” Thế là hết, anh bần thần ngơ ngẩn, không còn cơ hội đụng đến chiếc ví được nữa nhưng anh “cảm thấy một cái thú khoái lạc kỳ dị, khe khẽ và thầm lặng rung động trong người, có lẽ là cái khoái lạc bị cám dỗ, mà cũng có lẽ cái khoái lạc đã đè nèn được sự cám dỗ.” Hôm sau, khi tỉnh dậy, nghĩ lại các sự việc tối hôm trước, chính nhân vật cũng không nhận ra điều gì đã ngăn anh lại? “Tôi ngạc nhiên tự hỏi sao mình hãy còn là người lương thiện, không phải là kẻ ăn cắp. Mà tôi thú thực rằng nếu bấy giờ tôi đã là kẻ ăn cắp, cái đó cũng không khiến tôi lấy làm ngạc nhiên hơn. Mà còn là người lương thiện, tôi tự thấy cũng chẳng có gì là đáng khen. Tôi nhớ rõ lúc ấy không có một ý nghĩ nào về danh dự, về điều phải, điều trái, ngăn cản tôi và khiến tôi đi vào con đường ngay, như người ta vẫn nói. Không, không có một chút gì như thế. Cái gì đã giữ tôi lại?”
Rõ là, nếu như trong anh có “một mệnh lệnh tuyệt đối” làm cơ sở đạo đức cho các hành vi của anh thì hẳn trong tình huống đó, anh đã không có những ý nghĩ và đấu tranh nội tâm như vậy, anh sẽ có thể nhanh chóng “gạt phăng” đi ngay cái ý nghĩ “ăn cắp” hiện ra trong đầu đó mà không có những ý nghĩ về kế hoạch hành động phía sau. Nhưng cuối cùng, vì không có cái “mệnh lệnh tuyệt đối” đó, cái gì đã giữ anh lại? Anh không biết… “Có lẽ chỉ một lời nói không đâu, một cử chỉ nào đấy, về phía này hay về phía kia, đã khiến tôi có ăn cắp hay không ăn cắp. Chỉ một sợi tóc nhỏ, một chút gì đó, chia địa giới của hai bên… Tôi có tiếc đã không lấy hay không, hay bằng lòng mình vì đã chống giữ lại cái ý xấu? Tôi cũng không tìm biết rõ hơn. Hình như những ý nghĩ ham muốn hay trù trừ tối ấy không phải là của tôi, hình như của ai ấy, của một người nào khác lạ, khác với cái người thường của tôi bây giờ…” Để hiểu được tâm lý nhân vật, ta phải đặt nhân vật vào trong bối cảnh của sự nghèo khó, túng bấn, và sức mạnh cám dỗ của những đồng bạc mà cả đời nhân vật không bao giờ có. Chính cái túng quẫn ấy đã dẫn đến những ý nghĩ ham muốn ấy và nó ghì lấy anh, bủa vây lấy anh làm cho anh không còn là anh nữa, nhưng cũng có cái gì đó mà anh nghĩ “không phải là của anh” đã giữ anh lại, nhưng có thể là “lương tri” của anh đã giữ anh lại, cái phần tốt đẹp ẩn giấu bên trong con người anh đã ngăn anh đúng lúc, giúp anh vượt qua cái cám dỗ đó.
Sự mong manh giữa cái đẹp và xấu, giữa thiện lương, không thiện lương đôi khi chỉ mong manh như một sợi tóc. Cái tài tình của nhà văn nằm trong việc khắc hoạ, mô tả rõ nét, sâu sắc tâm lý của nhân vật. Đọc truyện này tôi nhớ đến bài giảng về “Mệnh lệnh tuyệt đối” của Kant đã được nhắc nhiều ở Doxa này, tôi tự nghĩ, phải tự tìm ra giá trị cốt lõi của riêng mình qua "mệnh lệnh đạo đức tuyệt đối", để mỗi khi rơi vào tình huống cám dỗ như thế, sẽ có cái để ngăn mình lại, cần phải làm dầy lên cái biên giới mong manh ấy, để giữ được mình luôn là mình trong mọi hoàn cảnh. Là điều tôi nhắc nhở mình vậy!
Nhưng, "Cô hàng xén” lại “chạm” đến tôi nhất. Tác phẩm đã gợi lên rất đẹp bức tranh phong cảnh làng quê Việt Nam, cụ thể hơn là làng quê Bắc Bộ, nơi đầu làng có luỹ tre xanh, có cánh đồng, có cây đa, giếng nước, sân đình, miêu tả được cả âm thanh xao xác của tiếng bước chân giẫm lên lá tre khô, mùi bèo ở dưới ao và mùi rạ ướt đưa lên ẩm ướt, làm gợi nhắc lên trong tôi bao nhiêu hình ảnh thân thương, bình dị ở làng quê mà tôi thường thấy trong phim truyện vài ba chục năm về trước. Mặc dù là thế, lúc tôi sinh ra, làng quê đã không còn hình ảnh chiếc cổng làng, luỹ tre xanh hay giếng nước nhưng những hình ảnh ấy lại luôn có một sự gần gũi và thân thuộc với tôi đến lạ, như thể tôi đã sống trong không gian đó, khung cảnh đó từ nhiều năm về trước. Tôi yêu những sự bình dị của làng quê như thế…
Cô hàng xén tên Tâm từng là cô hàng xén xinh nhất chợ, một mình tảo tần quảy gánh hàng xén ngồi chợ để chăm lo, nuôi cả gia đình, có cha mẹ già, đau yếu và hai đứa em ăn học. Làm việc, đối với cô là cái lệ chung, xung quanh cô toàn những đàn bà chịu khó làm ăn vất vả để nuôi chồng, nuôi con. Cô không bao giờ có ý nghĩ cho mình, cho cuộc đời riêng của cô. Thậm chí lúc có người mai mối cô cho anh giáo, người mà cô cũng có cảm mến từ lâu, cô cũng nằng nặc “Con mà đi lấy chồng thì ai kiếm tiền cho các em ăn học? Thôi u cứ để con ở nhà buôn bán và trông nom nhà cửa cho thầy u.” Nghĩ đến mẹ già phải làm lụng vất vả, lòng cô lại không nỡ. Cô đi lấy chồng rồi ai là người hầu hạ thầy và săn sóc các em…
Về nhà chồng, nhà chồng cô cũng nghèo, nhà cửa không có gì, anh giáo dạy học trong làng được dăm bảy đồng bạc lương, bao nhiêu chi tiêu trong nhà lại trông cả vào cô. Bây giờ gánh hàng trở nên nặng quá trên đôi vai nhỏ bé, đã nặng càng nặng thêm. Ngoài chăm lo cho gia đình nhà chồng, cô còn phải lo kiếm đủ tiền để gửi cho các em ăn học. Cô lầm lũi, tảo tần đi chợ trong sương muối sớm, giá lạnh và trở về lúc trời đã tối. “Đời nàng lại đi như trước, chẳng khác gì. Những ngày khó nhọc và cố sức lại kế tiếp nhau.”… những câu chữ của Thạch Lam khiến người đọc không khỏi xót xa trước thân phận, cuộc đời của các nhân vật. Sự nghèo khó, quẩn quanh và bế tắc giữa hiện thực tăm tối và khắc nghiệt không thể trốn chạy. Cô Tâm cũng như bao người phụ nữ khác, cũng như Bà Tú vợ ông Tú Xương, “quanh năm buôn bán ở mom sông – nuôi đủ năm con với một chồng”, không phải các ông không cố gắng, mà lựa chọn nghề nghiệp “con chữ”, “ông giáo” của các ông vốn đã gắn với chữ “nghèo”, mà có riêng gì giới tri thức thời đó, những người xung quanh cũng nghèo khổ như thế, và vì thế mọi chi tiêu, lo toan trong gia đình lại dựa vào đôi vai gầy người vợ. Nhưng cái đáng nói là các bà vẫn luôn thương, luôn yêu chồng, thương sự bế tắc của chồng mình, nhà mình mà không bao giờ phàn nàn, ca thán. Các bà chỉ cố gắng, cố gắng và lầm lũi sớm hôm, mong chăm lo cho người thân của mình.
Dưới ngòi bút của Thạch Lam, các thân phận, mảnh đời vừa nhiều xót thương nhưng vẫn lấp lánh tâm hồn thiện lương và mộc mạc. Văn chương của ông nhẹ nhàng, sáng trong và đầy tinh tế và văn chương Thạch Lam vẫn có sức sống mạnh mẽ và có sức hút kỳ diệu đối với nhiều thế hệ người đọc. Hẳn thế mà có Thầy Đạo sĩ nào đó nói “đọc Thạch Lam rồi thì tu Tịnh Độ Tông chắc dễ đi đôi phần”
Thân mến chia sẻ đến quý bạn tập truyện ngắn Sợi Tóc của Thạch Lam!
Cr: hư không