Luận đề III-IV của học thuyết Thomas Aquinas (1. Ở bài trước, hai luận đề đầu tiên rơi vào phạm trù bản thể…
(1. Ở bài trước, hai luận đề đầu tiên rơi vào phạm trù bản thể luận, không phải vũ trụ học.
2. "[...] vật thể vô linh và hữu linh, con người và thiên thần [...]", không phải "thiên thành".
3. Nguồn của lời bình cho luận đề II: [Summa Theologiae, Iª q. 7 a. 1 et a. 2; Contra Gentiles, lib. 1 cap. 43; Super Sent., lib. 1 d. 43 q. 2])
Bản thể luận:
III. Vì thế, trong lĩnh vực của bản thân sự hiện hữu, chỉ Thiên Chúa hiện hữu độc lập, và chỉ Ngài là hoàn toàn đơn nhất. Tất cả mọi thứ khác thông dự vào sự hiện hữu và có bản thể bị ràng buộc, và được cấu tạo bởi yếu tính và sự hiện hữu là hai nguyên lí thực sự phân biệt.
(Wherefore, in the exclusive domain of existence itself God alone subsists, He alone is the most simple. Everything else, which participates in existence, has a nature whereby existence is restricted, and is composed of essence and existence as of two really distinct principles.)
Lời bình: Nếu có hữu thể nào mà sự thực hữu của sự hiện hữu của nó (vì hiện hữu là thực hữu) không được thu nhận vào khả tính của yếu tính, hữu thể đó lập hữu, vì nó là sự hoàn bị không giới hạn; nó duy nhất, vì nó loại bỏ khả năng tồn tại sự phức hợp trong nó dưới bất kì dạng nào; nó là Hữu thể hoàn toàn đơn nhất: Thiên Chúa. Tất cả mọi thứ khác, mà sự thực hữu của sự hiện hữu của chúng được thu nhận vào khả tính của yếu tính, thông dự vào sự hiện hữu tùy theo khả năng của yếu tính, vì nó giới hạn sự thực hữu của sự hiện hữu theo cách này. Yếu tính và sự hiện hữu chính là Tiềm năng và Hiện thể trong trật tự hiện hữu, và là hai nguyên lí thực và thực sự phân biệt, chúng tự nội tại hữu thể cấu tạo nên sự phức hợp đó là chính hữu thể đang hiện hữu, trong trật tự hiện hữu. [Summa Theologiae, Iª q. 50 a. 2 ad 3; Contra Gentiles, lib. 1 cap. 38 et cap. 52 et cap. 53 et cap. 54; Super Sent., lib. 1 d. 19 q. 2 a. 2; De ente et essentia, cap. 5; De spiritualibus creaturis, a. 1; De veritate, q. 27 a. 1 ad 8]
IV. Hữu thể, mà tên của nó là từ sự hiện hữu mà ra, không được áp dụng cách đơn nghĩa cho cả Thiên Chúa lẫn tạo vật; cũng không theo cách đa nghĩa, mà theo cách loại suy, cả về thuộc tính và tương tỷ.
(Being, which derives its name from existence, is not predicated univocally of God and creatures; nor yet merely equivocally, but analogically, by the analogy both of attribution and of proportionality.)
Lời bình: Nếu sự thực hữu của sự hiện hữu nằm ở trong Thiên Chúa như là Hiện thể Thuần túy và trong tạo vật như là Hiện thể kết hợp với Tiềm năng, Hữu thể không thể được áp dụng cho Thiên Chúa và tạo vật theo cách hoàn toàn như nhau: Thiên Chúa tự hữu, còn tạo vật nhận sự hiện hữu của chúng từ Thiên Chúa. Nhưng, vì kết quả bằng cách nào đó mô phỏng lại nguyên nhân, Hữu thể cũng không thuộc về Thiên Chúa và tạo vật theo cách hoàn toàn khác nhau. Hữu thể, được khẳng định về Thiên Chúa và tạo vật, là một thuật ngữ loại suy. Sự loại suy ấy trước hết là loại suy thuộc tính, vì Hữu thể thuộc về tạo vật do nhận từ Thiên Chúa, và Hữu thể thuộc về Thiên Chúa thông qua yếu tính; và thứ đến là loại suy tương tỷ, vì sự thực hữu của sự hiện hữu nằm ở bên trong Thiên Chúa và tạo vật như là các thực thể hiện hữu. [Summa Theologiae, Iª q. 13 a. 5; Contra Gentiles, lib. 1 cap. 32 et cap. 33 et cap. 34; De potentia, q. 7 a. 7]
Cr: Scholasticae