Trang tử Nam hoa kinh - Sống nhẹ nhàng trong một thế giới nặng nề Tổng hợp và trích dẫn từ cuốn “Trang tử Nam…
Tổng hợp và trích dẫn từ cuốn “Trang tử Nam hoa kinh - Nguyễn Duy Cần” và “Đạo, nguyên lý sống hòa hợp và quân bình - Annellen Simpkins”Mục lục1.
Trang tử2.
Tác phẩm Nam hoa kinh3.
Đôi nét về tư tưởng Trang tửa.
Tự do tự tạib.
Hạnh phúc tuyệt đốic.
Thiên và Nhând.
Vong ngôn (quên lời)e.
Vô dụng và hữu dụng
g. Mộng và thực4.
Lời kết
“Có nơm là vì cá; được cá hãy quên nơm.Có bẫy là vì thỏ; được thỏ hãy quên bẫy.Có lời là vì ý; được ý hãy quên lời.Ta tìm đâu được người biết quên lời, hầu cùng nhau đàm luận” - Vong ngôn
1.
Trang tửTrang Tử (Chuang- tzu: 369 - 286 TCN), một trong những đại hiền triết của Đạo gia nguyên thủy, là người thừa kế và góp phần phát triển toàn bộ tư tưởng của Lão Tử (571-? TCN) thành một hệ thống học thuyết hoàn chỉnh.Theo Sử Ký Tư Mã Thiên, ông tên là Trang Chu, người xứ Mông (không nói rõ là người thuộc nước nào). Xét niên đại, ông sống cùng thời với nhà Khổng học danh tiếng Mạnh Tử (372-289 TCN)Về mặt học thuật, mặc dù tinh thông học thuyết của các triết gia danh tiếng đương thời, Trang Tử tự có triết thuyết riêng với tư tưởng cốt lõi thiên về đạo Lão. Bằng ngòi bút của mình, ông xiển dương học thuyết của Lão Tử và, với phong cách trào lộng rất ý vị, phê phán học thuyết của các triết gia khác, đặc biệt là Nho gia. Các thiên Nam Hoa Kinh trình bày rất nhiều mẩu chuyện mà trong đó các bậc thánh triết thuyết giảng lẽ Đạo (theo tinh thần của đạo Lão) cho các học giả thuộc trường phái khác.2.
Tác phẩm Nam hoa kinhTư tưởng, học thuật và ngôn hành của Trang Tử được người đời sau biết đến qua bộ Nam Hoa Kinh, tác phẩm duy nhất của ông. Được liệt kê vào một trong bảy kiệt tác văn chương của Trung Hoa (Thất tài tử thư), tác phẩm ấy lúc đầu có tên là Sách Trang Tử, về sau vua Huyền Tôn nhà Đường ra chiếu đặt lại tên sách là Nam Hoa Chân Kinh, người đời thường gọi là Nam Hoa Kinh (Nam Hoa là tên của ngọn núi nơi Trang Tử sống đời ẩn dật, viết sách và tạ thế tại đó).Sách gồm 33 thiên, phân làm ba phần: Nội Thiên (7 thiên), Ngoại thiên (15 thiên) và Tạp thiên (11 thiên). Hiện nay nhiều nhà nghiên cứu cho rằng phần lớn nội dung trong Ngoại thiên và Tạp thiên do người đời sau mượn ý Trang viết ra.Văn ông rất hồn nhiên như hơi mây trong núi bay ra, như nước trong nguồn chảy. Bàn về một lẽ cao siêu tuyệt đích, có thể cảm mà không thể nói ra được bằng những lời nói thông thường nhị nguyên, cho nên ông phải dùng đến “ngụ ngôn” rồi mượn “trùng ngôn” mà làm cho sáng tỏ thêm. Trong đó sự tích tuy có thật mà câu chuyện giả thác lạ lùng. Đó là cách dùng cụ thể để mà giải thích trừu tượng. Khi lại dùng đến “chi ngôn”, tức là buột miệng nói ra, bất kể là đúng hay không với lịch sử. Cho nên văn chương của ông huyễn tướng như hoa gương, trăng nước: hư mà thực, thực mà hư...như lẽ Đạo muôn màu.3.
Đôi nét về tư tưởng Trang tửTư tưởng của Trang Tử xoay quanh việc tìm kiếm sự tự do tuyệt đối, vượt qua các ràng buộc của xã hội, đạo đức, và ngay cả ngôn ngữ. Ông khuyến khích con người hòa hợp với tự nhiên, sống tự tại, và không chấp vào đúng-sai, được-mất.a.
Tự do tự tạiTrang Tử sống một đời theo nguyên tắc triết lý của ông: sống vui và tự do tự tại. Ông giữ một chức lại ở quê nhà, có nhiều thời gian để chiêm nghiệm và hưởng thụ cuộc sống. Về sau, ông ở ẩn và hẳn là đã thu nhận một số môn sinh, những người ưa thích nghe những bài thuyết giảng ngẫu hứng của ông.
b.
Hạnh phúc tuyệt đốiTrang Tử cho rằng “hết thảy vạn vật đều do Đạo
道 mà ra, và mỗi vật đều có cái Đức
德
của nó, nghĩa là, hết thảy vạn vật, mỗi vật đều có cái tánh tự nhiên của nó. Nếu biết thuận theo tánh tự nhiên mà sống, thì hạnh phúc có ngay trong lúc đó, không phải cầu cạnh đâu khác ở ngoài”.Thiên Tiêu Diêu Du,
sau khi bàn về hạnh phúc tiêu diêu của chim Bằng, cũng như của chim cưu, có nói đến Liệt Tử cỡi gió mà đi. “Liệt Tử cỡi gió mà đi, đi một cách êm ái nhẹ nhàng, đi trọn mười lăm hôm mới về. Đó sống trong chỗ chí phúc và người như ông dễ thường thấy có. Tuy khỏi phải đi, nhưng còn phải chờ. . .”. Chờ cái gì? Gió.Như vậy, thì cái hạnh phúc của Liệt Tử cũng chưa gọi được là tuyệt đối, là vì còn phải tùy một điều kiện khác ở ngoài.Chỉ có những ai
“Thuận theo cái chánh của Trời Đất, nương theo cái biến của lục khí mà dong chơi trong cõi vô cùng: thì đó đâu còn phải đợi cái gì nữa. Cho nên nói rằng: bậc chí nhân không thấy có mình, bậc thần nhân không nhớ đến công trạng của mình, bậc thánh nhân không nghĩ đến tên tuổi của mình”. (Tiêu Diêu Du)Trang Tử, trên đây, tả hạng người hoàn toàn giải thoát, tức là người đã đạt đến hạnh phúc tuyệt đối, bậc “chí nhân” đã huyền đồng cùng tạo vật, nên không còn thấy mình nữa. Họ là người đã vượt lên trên những cặp mâu thuẫn mà thế nhân thường nhận thấy: phải quấy, vinh nhục, trước sau, cao thấp, lớn nhỏ, sanh tử...Họ là người đã giải quyết được sự mâu thuẫn to tát nhất nơi họ: tình và lý, tâm và trí, nội và ngoại, nhĩ ngã. Không còn thấy có “nhĩ”, tức là không còn thấy có “ngã”, họ là người đã đạt đến trạng thái “vô ngã”. “Vô ngã”, nên cũng “Vô công” và “Vô danh”.c.
Thiên và NhânTrang Tử có nói: “Bò ngựa bốn chân, đó là Trời (Thiên). Khớp đầu ngựa, xỏ mũi bò, đó là Người (Nhân) (...) Đừng lấy Người mà giết Trời (...) Giữ cẩn thận, đừng để mất Thiên chân, thế gọi là trở về cái chân của mình.” - Thu ThủyNhân, tức là nhân tạo, là ám chỉ những ước lệ giả tạo của xã hội để ràng buộc con người vào một khuôn khổ, tức là những cái mà Khổng học gọi là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín...Luân lý, đạo đức, pháp độ, dù rất có lợi cho con người trong giai đoạn “tri thị phi, tri thiện ác” (biết đúng-sai, biết thiện-ác), nó trở lại thành một chướng ngại vật cho giai đoạn giải thoát, tức là giai đoạn “vong thị phi, vong thiện ác” (quên đúng-sai, quên thiện-ác), giai đoạn mà “chân thể” đã đến lúc trưởng thành, đủ sức “tự sinh, tự hóa”.Vì thế Trang Tử mới có nói: “Tri vong thị phi, tâm chi thích dã”, biết quên sự phải quấy, đó là cái tâm của mình thông suốt rồi vậy. Bảo rằng: Biết quên, tức là phải có Biết, rồi sau mới vượt lên trên sự hiểu biết mà quên đi.d.
Vong ngôn (quên lời)Cái mà người đời quý trọng và hay nói đến là sách. Sách, bất quá chỉ là lời.Lời mà quý là nhờ nơi ý. Ý, phải căn cứ theo chỗ không thể dùng lời mà truyền. Vậy mà người đời lại quý lời truyền trong sách vở.Người đời tuy quý nó, nhưng lại quý cái không đủ để mà quý. Vì cái mà họ quý, chẳng phải là cái quý.Nhìn mà thấy được là hình và sắc. Lóng mà nghe được là danh từ và tiếng nói. Thương thay, người đời lại cho rằng hình và sắc, danh từ và tiếng nói đủ để tả được cái chân tánh của sự vật. Mà hình và sắc, danh từ và tiếng nói làm sao để tả được chân tánh của sự vật. Nên kẻ biết thì không nói, kẻ nói là không biết, người đời há biết được như thế ư? (Thư)e.
Vô dụng và hữu dụngHuệ Tử gọi Trang Tử mà nói: “Lời của ông vô dụng”.Trang Tử nói: “Biết cái chi sao là vô dụng, thì cũng đã biết nó sao là hữu dụng. Như đất rộng, người ta cho nó là hữu dụng, vì nhờ nó mà đi được. Nhưng, nếu trật chân té chìm tận suối vàng, người ta còn gọi nó là hữu dụng nữa không?”Huệ Tử nói: “Vô dụng.”Trang Tử nói: “Vậy thì rõ vô dụng là hữu dụng đó.” (Ngoại Vật)
g. Mộng và thực
Xưa Trang Châu chiêm bao thấy mình là bướm, vui phận làm bướm, tự thấy thích chí, không còn biết có Châu nữa. Chợt tỉnh giấc, thì lại thấy mình là Châu. Không biết Châu chiêm bao là bướm, hay bướm chiêm bao là Châu? Châu và bướm ắt phải có tánh phận khác nhau. Đó gọi là vật hóa. (Tề Vật Luận)4.
Lời kếtTrang Tử không chỉ là một nhà hiền triết, mà còn là người kể chuyện phiêu diêu, dùng những hình ảnh giàu biểu tượng để dẫn dắt người đọc thoát khỏi ràng buộc của xã hội và chính mình. Qua Nam Hoa Kinh, ông đưa ra những tư tưởng sâu sắc về tự do, vong ngôn, sự hòa hợp giữa Thiên và Nhân, hay nghịch lý giữa vô dụng và hữu dụng.Tuy nhiên, tư tưởng Trang Tử không dừng lại ở đó. Ông còn bàn về sinh tử, Đạo, Đức, và hình tượng bậc chí nhân – người vượt qua mọi nhị nguyên để hòa mình vào sự tự tại tuyệt đối. Nhưng có lẽ, để hiểu hết những ý tưởng ấy, ta phải tự mình phiêu lưu qua Nam Hoa Kinh, như cách Trang Tử đã nói:"Ta tìm đâu được người biết quên lời, hầu cùng nhau đàm luận?"
Cr: Vinh