Nguồn cội của nền Dân chủ: Athen cổ đại và Cộng hòa La Mã | Uriel Kantor Chào mọi người, hôm nay Sodom tui…
Chào mọi người, hôm nay Sodom tui quyết định "đổi gió" một chút, quay sang tìm hiểu cái chủ đề mà trước đây bản thân chả mấy quan tâm đó là chính trị và các thể chế chính trị. Thêm phần nữa cũng là do đã nghe quá đầy tai cái chữ "dân chủ" nên mới quyết định tìm hiểu xem dân chủ nó là cái gì, món gì, hay là... ai. Nếu bạn nào cũng có những thắc mắc tương tự thì mời các bạn cùng đọc bài viết bên dưới nhé.
Đến cuối thế kỷ thứ 6 trước CN, Athens và Rome đã thiết lập các hệ thống chính trị mà sau này đã định hình cho những nền tảng phổ biến nhất trên thế giới.
Vào năm 508 trước CN (BCE), một chính khách Athen là Cleisthenes đã ban hành một loại cải cách nhằm biến một thể chế chính trị tập quyền thiểu số thành một nhà nước dân chủ kiểu mới. Từ dân chủ (democracy) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là “demokratia”, là kết hợp của demos (people – nhân dân) và kratos (power – quyền lực), do đó mang ý nghĩa quyền lực của nhân dân. Đồng thời, năm 509 BCE, do không hài lòng với sự cai trị của chính quyền lâm thời, giới tinh hoa La Mã đã lật đổ giới cầm quyền trong một cuộc nổi dậy lịch sử và thành lập nền Cộng hòa La Mã bền vững. Từ cộng hòa (republic) xuất phát từ tiếng Latin của chữ “res publica” – nghĩa là vấn đề công cộng, biểu thị rằng chính trị là một vấn đề của chung.
Mặc dù các chính phủ này xuất hiện đồng thời và tạo thành nền tảng cho các nền dân chủ hiện tại, nhưng chúng lại có sự khác nhau sâu sắc về hình thức.
*Solon: người sáng lập thể chế Dân chủ Athen*
Sinh năm 630 BCE, Solon được nhiều người xem là ông tổ của nền Dân chủ. Ông được bổ nhiệm làm người đứng đầu Athen vào năm 594 BCE, chịu trách nhiệm giám sát những quan lại khác – những người phụ trách các vấn đề như lập pháp, tư pháp, và các vấn đề chính phủ khác. Trong thời gian đảm nhiệm vị trí, Solon đã ban hành nhiều cải cách đa dạng như xóa bỏ chính sách nộ lệ hóa do nợ nần và chuyển đổi sang một hệ thống pháp luật công bằng hơn, phân chia dân cư thành bốn tầng lớp dựa trên sự thịnh vượng, mỗi tầng lớp có quyền lợi và đặc ân khác nhau.
Đóng góp to lớn nhất của Solon cho sự tiến bộ của nền dân chủ chính là việc đưa ra một bản hiến pháp mới. Trong đó, chính phủ sẽ bao gồm một Hội đồng bốn trăm người – quyết định về luật pháp; Hội đồng Areopagus – có vai trò như tòa án tối cao, và một Quốc hội Nhân dân mà qua đó mọi công dân đều có quyền tham gia vào quá trình lập pháp. Sự ra đời của ba cơ quan này ở Athen đã đặt nền móng cho chế độ dân chủ. Ngày nay, mọi nền hiến pháp dân chủ đều bao hàm các khái niệm về hành pháp, tư pháp, và lập pháp được định hình từ những cải cách của Solon. Nhưng nền dân chủ của Solon chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn. Vào năm 561 BCE, một năm trước khi Solon qua đời, một chính khác giàu có kiêm tướng quân Athen là Peisistratus đã tước quyền trong một cuộc đảo chính và thành lập chế độ chuyên do ông nắm quyền. Đến năm 526 BCE, Peisistratus qua đời nhưng chế độ chuyên chế vẫn được duy trì dưới sự nắm quyền của con trai ông là Hippias.
Mãi đến năm 508 BCE, Athen mới được quay lại nền dân chủ khi hiến pháp của Cleisthenes được thi hành.
*Cleisthenes: sự trở lại của nền Dân chủ*
Trong những năm trước khi Cleisthenes lên nắm quyền, Hippias đã cai trị Athen bằng nắm đấm sắt. Gia tộc quyền quý Alcmaeonids của Cleisthenes phần lớn đã bị trục xuất bởi phe phái của họ mang yếu tố dân chủ, vốn là mối đe dọa với sự chuyên chế của Hippias. Cleisthenes với sự trợ giúp của người Sparta và tiên tri đền Delphi (Orracle of Delphi) đã chiêu mộ lực lượng để lật đổ triều đại của Hippias – và ông đã thành công. Cleisthenes cũng trở thành ứng cử viên chủ chốt cho tân chính phủ tại Athen.
Tuy nhiên, Isagoras đã đứng ra tranh giành quyền lực. Sau khi giành được sự ủng hộ của vua Sparta là Cleomenes đệ nhất, Isagoras đã giành được quyền lực và cho trục xuất Cleisthenes. Trong thời gian nắm quyền, Isagoras đã cho trục xuất hàng trăm người Athen và cố gắng giải tán Boule – một hội đồng cơ sở giúp trao quyền cho nhân dân trong việc vận hành những công việc hàng ngày của thành phố. Động thái trên sau đó đã vấp phải sự phản kháng gây gắt của hội đồng và nhiều người dân Athen. Kết quả là chính Isagorat và những kẻ ủng hộ ông lại bị trục xuất. Cleisthenes được triệu hồi về và trao quyền lãnh đạo Athen.
*Những cải cách của Cleisthenes*
Trong thời gian nắm quyền, Cleisthenes đã cho tiến hành nhiều cải cách mang tính cách mạng. Một trong những động thái quan trọng nhất đó là chuyển đổi cơ sở tổ chức chính trị từ chuyển giao quyền lực trong nội bộ gia tộc sang địa phương hóa. Quyền và nghĩa vụ được phân bổ dựa trên tư cách thành viên trong một khu vực địa lý với bộ máy quan lại riêng biệt thay vì theo quan hệ gia đình và dòng tộc. Hình thái mới này đã tái tổ chức địa lý sinh sống của người đân thành mười khu dựa trên vị trí địa lý. Hơn nữa, Cleisthenes còn cho thành lập một hệ thống mà trong đó, vai trò của chính phủ được bổ nhiệm thông qua lựa chọn ngẫu nhiên hoặc dân chúng bầu thay vì tiêu chuẩn cha truyền con nối.
Cleisthenes cũng cho cải tổ hội đồng Boule, mở rộng hội đồng 400 của Solon thành hội đồng 500. 500 công dân này được chọn lựa từ 10 khu vực địa lý, mỗi khu bầu ra 50 người. Một cải cách khác của Cleisthenes là ban bố chính sách lưu đày (ostracism), cho phép người dân Athen bỏ phiếu quyết định lưu đầy những cá nhân mà họ cho rằng là mối đe dọa với nền dân chủ. Đối với nền dân chủ, chính sách lưu đầy được xem như một biện pháp bảo hộ, ngăn ngừa sự trỗi dậy những kẻ bạo chúa. Cuối cùng, Cleisthenes cho mở rộng quyền công dân cho những người nước ngoài và cả nô lệ, điều này đã làm gia tăng số lượng người tham gia vào hệ thống dân chủ.
Nhìn chung, việc xem Cleisthenes như là cha đẻ của nền dân chủ cũng không phải là không có lý. Những cải cách của ông đã tái tạo các ý tưởng chưa được phát triển đầy đủ của Solon thành một nền dân chủ hoàn chỉnh mà trong đó người dân đóng vai trò trụ cột cho xã hội. Dĩ nhiên, vẫn còn một chặng đường dài để hình thức này trở thành một nền dân chủ hiện đại, ví dụ như, dù đã có bầu cử nhân dân nhưng dân nhân ở đây chỉ là nam giới, trưởng thành, và có tự do.
*Cách mạng La Mã và nền tảng của chế độ Cộng hoà*
Theo ghi chép, Rome được thành lập vào năm 753 BCE và được cai trị bởi những vị vua cho đến năm 509 BCE, khi vị vua cuối cùng bị lật đổ. Vị vua cuối cùng của La Mã, Lucius Tarquinius Superbus (hay Tarquin kiêu hãnh) đã bị cáo buộc một loạt hành vi bạo lực và bất công khiến người dân phẫn nộ. Đỉnh điểm là khi con trai của Tarquin đã cưỡng hiếp một nữ quý tộc đức hạnh là Lucretia khiến cô tự sát. Cái chết của cô gái trở thành chất xúc tác cho một cuộc nổi dậy chống chế độ quân chủ. Cuộc nổi dậy được lãnh đạo bởi những quý tộc nổi tiếng ở Rome, gồm có Lucius Junius Brutus – tổ tiên của Brutus, người sau này được biết đến với vai trò đứng đầu cuộc ám sát Julius Caesar. Cuộc nổi dậy đã nhận được sự ủng hộ từ tầng lớp quý tộc cũng như thường dân. Cuối cùng, quân nổi dậy đã thành công đẩy bật Tarquin và gia đình ông ra khỏi Rome.
Theo sau sự sụp đổ của chế độ quân chủ, một nền Cộng hòa cũng được thiết lập. Quyền lãnh đạo được chia ra cho hai cơ quan lãnh sự thông qua bầu cử, mỗi cơ quan có thời hạn nắm quyền là một năm. Những cơ quan này chịu trách nhiệm về các mặt quân sự và quản lý thành phố. Hơn nữa, mỗi cơ quan còn có quyền phủ quyết lẫn nhau, một cơ chế mạnh mẽ có khả năng kiểm tra và giúp cân quyền lực chống lại tính độc tài. Hai cơ quan này lại được tuyển chọn thông qua một hội được gọi là Comitia Centuriata – bao gồm thành viên là công dân nam trưởng thành. Hội đồng được chia thành các nhóm nhỏ xếp theo mức độ giàu có và quyền lực quân sự. Những công dân giàu có nhất sẽ nắm nhiều quyền lực và tầm ảnh hưởng nhất. Song, giai cấp nghèo không phải là không có ảnh hưởng chính trị và vẫn có thể tác động đến những vấn đề chính trị.
Kể từ sau năm 509 BCE, Cộng hòa La Mã đã thể hiện được nhiều đặc tính dân chủ mặc dù sự tham gia của người dân vào hoạt động chính trị vẫn còn rất hạn chế. Nó đã phát triển thành một hệ thống toàn diện thông qua một quá trình chuyển biến kéo dài hàng thế kỷ.
*Bước phát triển của Cộng hòa La Mã*
Ban đầu, Rome được quản lý bởi những người mang tinh thần ái quốc (trong đó quý tộc là một phần của giai cấp thống trị). Tuy nhiên, giới thường dân đã sớm bắt đầu đấu tranh cho quyền tham gia chính trị của họ. Quá trình giành quyền bình đẳng đã thật sự chính muồi trước sự căng thẳng của những cuộc đấu tranh chính trị và xung đột giữa thường dân với quý tộc. Cuộc đấu tranh này được gọi với cái tên “Cuộc xung đột mệnh lệnh”, diễn ra từ năm 500 BCE đến năm 287 BCE.
Những sự kiện trọng đại đầu tiên trong cuộc xung đột diễn ra vào năm 494 BCE. Trong năm này, Rome đang có cuộc chiến với ba bộ tộc Ý ở vùng lân cận. Tuy nhiên, những binh lính thuộc tầng lớp thường dân đã kháng lệnh chiến đấu của quân đội và ly khai đến vùng Núi thiêng bên ngoài Rome. Giới lãnh đạo La Mã trở nên tuyệt vọng và phải chọn giải pháp thương lượng, cho phép người dân có quyền thành lập hội đồng của riêng mình gọi là Hội đồng Pleb, được bầu chọn người đại diện, cụ thể là tòa án Pleb. Dù sự kiện Núi thiêng được xem như bước giải phóng quan trọng nhất của giới thường dân, nhưng trên thực tế, giai cấp này vẫn chưa có quyền lực thực thụ. Ban đầu, tòa án Pleb được bầu vào Hội đồng Gíam sát (Curiate Assembly), một hội đồng chỉ dành riêng cho tầng lớp cao cấp trong các cuộc bỏ phiếu. Bộ luật Lex Publilia được ban hành năm 471 BCE, quyết định chuyển quyền bầu cử của Hội đồng Gíam sát sang cho Hội đồng Các bộ lạc (Tribal Assembly). Hội đồng mới có sự tham gia của mọi công dân La Mã được tổ chức theo vùng sinh sống hoặc khu vực địa lý. Từ đó, tầng lớp thường dân đã đạt được đòn bẩy quan trọng trong việc bầu ra các cơ quan đại diện cho mình.
Sau cùng, những cơ quan của giới thường dân cũng đã giành được quyền lực sâu rộng, bao gồm cả khả năng phủ quyết các thủ tục của thượng viện. Vậy là, chính cuộc xung đột mệnh lệnh đã dẫn đến sự nhượng bộ đối với giai cấp thường dân, cho phép họ tổ chức các cơ quan lãnh sự. Dưới hệ thống này, sự phân chia chính trị và thường là phân chia kinh tế tùy thuộc theo tầng lớp giữa quý tộc và thường dân đã bị xóa bỏ. Cộng hòa La Mã đã trở thành một hình ảnh diện cho những công dân nam – ít nhất là trên lý thuyết.
*Di sản nền dân chủ của Athen và Rome*
Cho đến ngày nay, La Mã và Athen vẫn là đại diện cho sự nổi lên của những chế độ dân chủ sẽ phát triển và đặt nền móng cho những hệ thống tự do hiện đại. Có một điều cực kỳ quan trọng cần phải xem xét đó là ban đầu, tính dân của những hệ thống này vẫn còn rất hạn chế. Phụ nữ không được xem là công dân và do đó không có quyền tham gia chính trị. Các thành bang vẫn tràng ngập nô lệ và họ không có quyền gì cả. Dù về lý thuyết, bất kỳ công dân nam nào cũng có quyền tham gia bầu cử và các hoạt động chính trị khác, nhưng những giới hạn của hệ thống đã ngăn không cho các tầng lớp thấp hơn bầy tỏ nguyện vọng. Dẫu vậy, đây vẫn là các nền dân chủ đầu tiên thử nghiệm đầy đủ ý tưởng rằng chính trị là vần đề công và nhà nước là tiếng nói của người dân.
*So sánh nền Dân chủ Athen và nền Cộng hòa La Mã*
Một trong những khác biệt quan trọng giữa Athen và La Mã là ở chỗ Athen chỉ là một thành bang còn La Mã sau cùng đã phát triển thành một đế chế rộng lớn. Trong khi Athen chỉ tập trung bảo vệ lãnh thổ thì La Mã nuôi hy vọng mở rộng lãnh thổ. Kết quả là số lượng cử tri tham gia bầu cử của Rome tăng lên đông đảo, đòi hỏi một chính phủ ngày càng phức tạp hơn. Hơn nữa, Athen mang tính dân chủ trực tiếp nơi công dân có quyền tận tay bỏ phiếu cho những quyết định chính trị và luật pháp. Còn Rome lại theo cho một nền dân chủ đại diện – nghĩa là những các quan chức sẽ được bầu ra để đưa ra quyết định cho những vấn đề của đất nước.
Cuối cùng, nền Dân chủ Athen bắt đầu như một phản ứng đối với những sự kiện kinh tế - xã hội xảy ra vào thế kỷ thứ 5 BCE rồi giữ nguyên tính ổn định mà không cần cải cách. Ngược lại, Cộng hòa La Mã đã liên tục thay đổi trong suốt nhiều thế kỷ cho đến khi nó nổi lên thành một đế chế vào năm 27 BCE.
Cr: Sodom