Những điều tôi học được từ nhiếp ảnh 1. Con người không sáng tạo ra bất cứ điều gì.

Catholic Net · · Đối luận Triết học
Những điều tôi học được từ nhiếp ảnh

1. Con người không sáng tạo ra bất cứ điều gì.
Tất cả mọi thứ đều là của tạo hoá, kể cả con người. Chúng ta chỉ có thể lựa chọn và kết hợp các “nguyên liệu” có sẵn để tạo ra các tổ hợp mà thôi. Ánh sáng, màu sắc và bố cục là những thứ có thể xem là “phần cứng” của ảnh, và để hiểu rõ ba yếu tố này, không gì tốt hơn là quan sát từ tạo hoá. Khi quan sát đủ sâu, tôi thực thấy nhiều hơn một sắc đỏ từ một bông hoa, thấy cả một dải màu với đủ loại sắc xanh, khác nhau, không nhiều nhưng lại vô cùng tách bạch bởi sự màu nhiệm của ánh sáng trong một buổi ngồi nhìn chiều trôi ra biển và núi. Rồi tôi nhìn mọi người cũng theo một cách rất khác. Tôi bỗng thấy được “nhiều” hơn trên gương mặt của một ai đó qua việc quan sát các khối trên mặt, trong mỗi hướng và kiểu ánh sáng khác nhau. Có lẽ đó là lý do những người được tôi chụp chân dung hay cùng một phản ứng ngạc nhiên thích thú khi xem ảnh, khi nhìn được bản thân họ - chính họ, ở một “góc” hay phiên bản mà họ chưa từng nhận ra hay thấy rõ trước đó. Và, phần còn lại là bố cục, mà mọi tên gọi cho các nguyên tắc trong nhiếp ảnh như 1/3, tỷ lệ vàng, đối xứng,… cũng chỉ là đúc kết của con người qua quan sát từ tự nhiên trong nỗ lực học theo và mô phỏng lại. Ngoài những “nguyên tắc” đó ra, còn rất nhiều dạng “bất quy tắc” trong bố cục mà ta chỉ có thể hiểu được qua học hỏi về sự hài hoà của tự nhiên và cuộc sống, bởi, bố cục - không gì hơn là sự sắp xếp hài hoà nhằm tạo ra cảm giác dễ chịu khi trải nghiệm mà thôi. Từ những quan sát và học hỏi đó, tôi thấy được sự kỳ diệu trong bình thường, sự biến đổi trong tuần hoàn, sự sinh sôi trong nỗi chết, thấy được mối tương quan giữa hữu hạn ta và vô hạn của tạo hoá.
Trước khi tạo ra bức ảnh đẹp ta phải biết thế nào là đẹp, và khi xem một bức ảnh đẹp ta cũng phải biết nó đẹp vì sao. Nghệ thuật đích thực phải chăng là thứ làm con người tốt đẹp hơn là vậy, bắt đầu bằng khiêm tốn, nhận ra sự bé mọn và hữu hạn của chính con người.
2. Con người có thể có “phép thuật” hay không?
Có những khoảnh khắc được người cầm máy ghi lại một cách chừng như hy hữu, diệu kỳ. Ở đây không thể phủ nhận có những cú bấm hoàn toàn “ăn may”, nhưng hầu hết “phép màu” là khi bạn đủ quan sát, đủ kinh nghiệm và đôi khi cần cả trực giác để có thể biết được khi nào mọi thứ xảy đến và ta góp vào như một yếu tố cuối cùng để làm nên “magic”. Bất kể đối tượng chụp là gì (thiên nhiên, động vật, con người) thì việc quan sát liên tục, đủ lâu, kết hợp với việc hiểu về đối tượng phải luôn là những yếu tố cần sẵn có, để từ đó ta timing chính xác hơn. Khoảnh khắc chính là thời điểm.
Tôi luôn luôn hứng thú với thể loại ảnh phóng sự, vì nó xoay quanh con người - một đề tài vô cùng hấp dẫn. Mọi cặp đôi yêu nhau đều có những cử chỉ, hành động như nắm tay, hôn, âu yếm… chẳng hạn, chẳng có gì mới lạ, nhưng chắc chắn mỗi cái chạm, mỗi ánh nhìn đều là riêng biệt. Hay như trong ảnh phóng sự cưới ở Việt Nam - nơi mà hầu hết mọi đám cưới đều có hình thức như nhau, diễn biến theo “quy trình” chuẩn trong thời buổi của dịch vụ và sự rập khuôn của tư duy xã hội đến nhàm chán, thì vẫn luôn có những khoảnh khắc bất ngờ rất riêng nếu tôi đủ kiên nhẫn và chịu khó quan sát, chờ đợi. Đơn giản, vì chúng ta là con người đó thôi.
3. Công cụ và đích đến.
Phải nhìn nhận đúng về công cụ. Công cụ chỉ là phương tiện, không phải đích đến. Để đến đích ta cần biết sử dụng phương tiện để đi. Đôi khi khởi đầu bằng phương tiện bạn đang sẵn có là tốt nhất để có thể bắt đầu di chuyển. Có thể là xe “hăng cải”, xe đạp, xe máy, ô tô, máy bay,… bất kể phương tiện gì tuỳ xuất phát điểm của bạn, việc cần nhớ là “đi” và “đến đích”. Đa phần người ta sẽ hay bị vướng vào việc vận hành phương tiện, phát triển kỹ năng điều khiển phương tiện mà mải mê đi loanh quanh lạc hướng. Ngược lại, khi bạn luôn hướng đến đích thì đừng quên nâng cấp phương tiện để có thể đi nhanh hơn bất cứ khi nào có cơ hội.
Trong nhiếp ảnh, máy ảnh là công cụ. Không ít người đến với nhiếp ảnh chỉ vì mê cái máy, bị cuốn hút với những kỹ năng, sử dụng các thông số, các kỹ thuật, phần mềm hậu kỳ.
Khi mới bắt đầu học nhiếp ảnh, tôi suýt nghĩ máy ảnh là quan trọng nhất vì là điều kiện tiên quyết để làm ra một bức hình, và đây cũng là trở ngại lớn nhất vì lúc đó tôi không có nhiều tiền lẫn kinh nghiệm để chọn lựa. Rồi mọi thứ trở nên sáng tỏ khi tôi đọc được đâu đó: “chiếc máy ảnh tốt nhất là chiếc máy ảnh bạn đang có”. Vậy là, dựa vào việc phân tích điểm mạnh yếu của bản thân, tôi đã mạnh dạn chọn một chiếc máy với công nghệ mirrorless - một kiểu máy ảnh hoàn toàn mới lạ với tư duy làm nhiếp ảnh của cả nhiếp ảnh gia lẫn khách hàng tại thời điểm đó, nhưng đây lại là giải pháp thích hợp vì nó có thể cover cho tôi khá nhiều về mặt kỹ thuật lẫn thể lực, cho tôi cả sự linh động cần thiết. Bù lại, tôi chỉ có thể sử dụng 1 lens duy nhất theo chung bộ kít của máy (vì hết tiền mua thêm lens). Quả nhiên chiếc máy ảnh đã giải phóng tôi khỏi sự dính mắc vào các con số và dễ dàng linh động để tập trung hoàn toàn vào việc quan sát và cảm nhận khi bấm máy. Không có nhiều lựa chọn về công cụ cũng giúp tôi học cách sử dụng triệt để những gì mình đang có. Đến giờ, khi xem lại những ảnh chụp ở giai đoạn đó, tôi vẫn hài lòng, đôi khi ngạc nhiên vì khả năng xoay trở với sự hạn hẹp về thiết bị vẫn có thể cho ra những bức ảnh thực sự tốt. Mọi thứ cốt lõi, cơ bản, cần thiết đều sẵn có. Tuy nhiên sau một thời gian, khi nhận ra rằng mong muốn và khả năng diễn đạt ảnh của mình đang bị giới hạn bởi công cụ, đó là lúc tôi bắt đầu quay lại nâng cấp thiết bị và hoàn toàn hài lòng về khoản đầu tư đó.
Trong cuộc sống thì con người có một vài công cụ khác, quyến rũ và dễ gây lầm lạc cho số đông, có thể kể đến như tiền, địa vị, sự nổi tiếng …
4. Cái “tôi”
Dù muốn dù không, ta luôn để lại một phần của mình trong mỗi cú bấm máy. Tại sao lại thấy cái này đẹp mà không phải cái kia? Vì sao chọn góc độ này, khía cạnh nọ để khai thác? Điều gì làm rung động và thôi thúc người cầm máy để họ phải tạo ra những bức ảnh như thế? Nhiếp ảnh là ngôn ngữ, vậy hẳn phải diễn đạt điều gì đó từ bên trong. Nhưng bên trong một con người có những gì? Đây hẳn là một câu hỏi lớn. Tôi không thể biết hết những điều bên trong con người hay chính bản thân tôi, nhưng tin rằng có những thứ làm nên cái “bên trong”, đó là tất cả những trải nghiệm và tư duy về cuộc sống, về thẩm mỹ. Đó là đấng sinh thành ra tôi, là những con người, vùng đất tôi đã sống, những con chữ tôi đã đọc, những bộ phim tôi đã xem, những giai điệu tôi đã nghe, những vùng đất đã đến, những ký ức của các giác quan, của não bộ và trái tim. Tất cả tất cả mỗi mọi phút giây tôi đã sống làm nên thứ bên trong đó mà dù tôi có muốn gột bỏ hết để trở nên “không có gì” cũng chẳng thể được. Vậy nên, không cần phải cố ý thêm vào bất cứ gì nữa cho sự hiện diện của một “tôi”, bất kỳ chuẩn mực khuôn mẫu quy tắc điều lệ điều kiện gì để định hình một “phong cách” cho một nhiếp ảnh gia nữa vì tất cả đều dư thừa. Hãy để cho những thứ khác cùng được cất tiếng nói qua ảnh theo cách tự nhiên của nó, chỉ như thế mới có thể đến gần một giá trị lớn hơn, toàn vẹn.
5. Không gì ngoài tình yêu!
Nhiếp ảnh là ngôn ngữ, nhưng suy cho cùng, cuộc đời chẳng có bao chuyện đáng để “nói” thành lời. Tôi ghét việc diễn đạt ra với người khác. Tôi ghét bản thân mình.
Tôi luôn có những ngày, những giờ, những phút giây cảm thấy cuộc sống phi lý, trống rỗng đến mức chỉ muốn phá huỷ tất cả. Tôi ghét cái đẹp. Tôi ghét con người. Tôi ghét cảm xúc. Những thứ bình thường mọi người hay thấy ở tôi, thậm chí nghĩ là thứ mà tôi có thể mang lại cho đời, cho người, với tôi lúc đó hoàn toàn vô nghĩa. Ngay cả những điều đẹp đẽ thiện lành những lúc như vậy cũng trở nên khiên cưỡng và giả tạo giữa sự chán chường của bản thân tôi. Những khi sự chán chường thù ghét đó dâng trào bên trong, khi không thể làm gì khác hơn ngoài tự nhủ chịu đựng chịu đựng chịu đựng cho qua cơn điên (hay tỉnh) này, tôi lại nghĩ đến những con người đang ngụp lặn trong đau khổ xung quanh mình. Tôi cố gắng để không trở nên giống bất kỳ người nào trong gia đình. Rồi lại nghĩ có lẽ cũng phải không giống bất kỳ con người nào lốn nhốn ngoài kia. Hẳn phải có cái đích nào đó đáng để một tạo vật như con người vui khổ mỗi ngày, hẳn là đang thiếu điều gì đó đằng sau tất cả. Tôi đã từng tuyệt vọng cùng cực khi không tìm ra lời giải với chỉ những gì thấy được từ cuộc sống. Tôi không thấy con người biết yêu, không tin vào tình yêu. Cho đến khi, cũng chính cuộc sống phi lý đó mang lại cho tôi câu trả lời, thông qua một vài người. Đôi lúc ta chỉ cần cố “say yes”, thêm một vài chút.
Nếu không có tình yêu đằng sau tất cả, quả thật cuộc sống là không thể chịu đựng nổi vì sự vô nghĩa của nó. Tình yêu là lời biện hộ duy nhất cho mọi sự trong cuộc nhân sinh này. Yêu cái đẹp là chấp nhận cả cái không đẹp, yêu con người là thương xót cả những đớn hèn tối tăm, muốn hạnh phúc là đồng nghĩa với sẵn sàng đau khổ. Tôi bắt đầu tập nhìn và chụp những thứ chẳng liên quan gì đến các quy tắc màu sắc, sáng tối hay bố cục, thẩm mỹ. Tôi không mong đợi sự thuận lợi về thời tiết hay suôn sẻ trong những ngày phải làm việc. Tôi cũng không lựa chọn những con người đẹp đẽ dễ chịu để làm chung. Tôi thấy thích thú hơn với những bức ảnh rung nhoè, out nét hay vô tình có thứ gì ngoài tầm kiểm soát xuất hiện trong những lúc tôi chờ đợi “phép màu”. Vậy có gì khác giữa một bức ảnh “hỏng” do không biết về nhiếp ảnh với một bức ảnh có sự chấp nhận những thứ “hỏng” này hay không? Tôi tin rằng có sự khác biệt, trước hết là ở sự “chấp nhận”, sau thì vì tình yêu sẽ làm thăng hoa mọi sự, mức độ phụ thuộc vào khả năng yêu của tôi được đến dường nào thôi. Tình yêu dạy tôi bắt đầu chấp nhận những thứ không hoàn hảo, khiến tôi muốn và tập làm điều bản thân mình ghét, thông qua việc soi rọi lại chính bản thân mình. Quả là thứ đáng để học cả đời này vậy.

Cr: méo