SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY (DOXA DAY NGÀY 02/10/2024) Triết học được chia thành…
Triết học được chia thành hai trường phái, dựa theo địa lý, là triết học phương Đông và triết học phương Tây. Do nhiều yếu tố khác nhau tác động, hai nền triết học có nhiều điểm khác biệt với nhau về mọi mặt từ nhận thức luận, siêu hình học, nhân luận,... Trong loạt bài viết này, người viết xin được trình bày một số điểm khác nhau mà người viết biết được trong giới hạn kiến thức của người viết sau khi tham gia buổi Doxa Day ngày 02/10/2024. Lưu ý, khi người viết dùng từ "triết học phương Đông", người viết đang ám chỉ tới nền triết học của Trung Hoa, với Khổng Giáo và Lão Giáo, và Ấn Độ với Phật Giáo và Hindu Giáo. Còn khi người viết nói về "triết học phương Tây", người viết đang ám chỉ tới triết học Hy Lạp - La Mã và truyền thống Do Thái - Ki-tô giáo.
I. Logos và Đạo.
Điểm khác nhau đầu tiên giữa hai nền triết học đến từ hai từ ngữ sâu sắc nhất trong hệ ngôn ngữ của cả hai bên và là hai từ ngữ gói gọn lại nội dung triết học của hai nền văn minh: Logos và Đạo.
1. Logos.
Logos là từ ngữ sâu sắc nhất trong ngôn ngữ Hy Lạp. Nó là gốc của đuôi "-logy" của tên những ngành khoa học trong tiếng Anh:
- Đầu tiên, nó có nghĩa là thực tại tối hậu đằng sau vạn vật. Người Hy Lạp, cũng như tất cả dân tộc thời xưa, đều không nghĩ rằng thế giới vật chất này là một mớ hỗn độn, mà nó có một trật tự nhất định. Trật tự đó thì vượt lên trên thế giới vật chất này và vĩnh cữu, không thay đổi.
- Thứ hai, nó có nghĩa là lý trí, trí tuệ, hay sự hiểu biết. Người Hy Lạp có một tiền giả định rằng con người có thể hiểu biết thực tại bằng lý trí của mình. Đây là nền tảng cho một định nghĩa về con người của người Hy Lạp, rằng "Con người là sinh vật có lý trí". Từ "lý trí" ở đây không hoàn toàn chỉ là "khả năng tính toán" như người hiện đại, bắt đầu từ Descartes, đã quy giản từ này. Nó còn có nghĩa là khả năng nhận biết thực tại và phản tư về nó. Nhưng làm sao để lý trí có thể biết được thực tại tối hậu? Socrates, vị cha chung của triết học phương Tây, cũng như môn đệ của ông là Plato, cho rằng tất cả việc học là việc ta nhớ lại, có nghĩa rằng những tri thức về thực tại tối hậu đã được linh hồn bất tử ghi nhớ từ lâu và in sâu vào bản thể của linh hồn. Khi ta tiếp cận một điều gì đó trong thế giới vật chất, linh hồn bất tử của con người giúp ta nhớ lại ý niệm của điều đó.
- Thứ ba, nó có nghĩa là "lời", "ngôn ngữ". Khi con người có khả năng khả năng nhận biết thực tại tối hậu, người Hy Lạp còn tiến thêm một bước xa hơn khi cho rằng con người có khả năng truyền tải đi những tri thức về thực tại tối hậu. Đây cũng là nền tảng cho một định nghĩa khác về con người của người Hy Lạp, rằng "con người là sinh vật có ngôn ngữ".
Lịch sử triết học phương Tây là lịch sử của những người từ chối hoặc chấp nhận một, hai hoặc cả ba nghĩa của từ "logos". Triết học cổ đại và triết học trung cổ nhìn chung là chấp nhận ba nghĩa của từ logos, cho đến khi các triết thuyết hiện đại, từ thuyết duy danh (nominalism) cho đến chủ nghĩa giải cấu trúc (deconstructionism) chối bỏ cả ba nghĩa của từ logos.
2. Đạo.
Từ "đạo" cũng có ý nghĩa cực kỳ thâm sâu. Ta thường gặp các thuật ngữ trong tiếng Việt như "đạo làm con", "đạo làm người", "đạo hiếu",... Khi được dịch thoát nghĩa, nó có nghĩa là "con đường" và nó là một trong ba chỗ.
- Thứ nhất, nó là "con đường" của thực tại tối hậu, những khuôn mẫu vĩnh cửu của mọi thứ.
- Thứ hai, nó có nghĩa là "con đường" của tự nhiên, cách mà mọi thứ vận hành, cách mà mọi thứ diễn ra. Người phương Đông thường mô tả điều này như một dòng chảy.
- Cuối cùng là, nó có nghĩa là "con đường" của những nhà hiền triết, nhận biết được những khuôn mẫu này vầ quy phục nó, trở thành một phần của dòng chảy đó.
3. Sự khác biệt giữa hai từ ngữ thể hiện sự khác biệt giữa hai nền triết học.
Hai từ ngữ này thể hiện sự giống và khác nhau của hai nền triết học. Nhìn chung, cả Đông và Tây đều nhận biết rằng thế giới vật chất này không phải là một mớ hỗn độn, sinh ra từ sự ngẫu nhiên, mà nó có một trật tự nhất định. Thế nhưng, cả hai nền triết học lại khác nhau ở cách đối diện với thực tại đó. Người phương Tây thì cho rằng con người thể nhận biết được thực tại tối hậu và sử dụng nó cho mục đích riêng của mình, có thể là để quy phục sự thật như Socrates, Plato, Aristotle (điều mà Nietzsche đặt nghi vấn trong Beyond Good And Evil) hoặc để thực hiện những mục đích riêng như để buôn bán như những thương gia, hoặc tranh biện như những nhà ngụy biện thành Athens. Nhìn chung, người phương Tây đề cao vai trò chủ động, tính cá vị, nhân vị của con người đứng trước thực tại tối hậu, có khuynh hướng thực dụng và duy lý. Còn người phương Đông thì cho rằng con người không thể nhận biết được Đạo cao siêu bằng lý trí mà chỉ có thể sống thuận theo nó bằng ý chí. Nhìn chung, người phương Đông có khuynh hướng tâm linh hơn người phương Tây, chủ trương mong muốn con người sống hòa hợp với những gì cao hơn mình như gia đình, nhà nước, thiên nhiên và thực tại tối hậu, chính là Đạo.
II. Quan niệm về tri thức, nguồn tri thức.
Ở triết học phương Tây, hai từ chỉ tri thức là “episteme” và “doxa”. Episteme có nghĩa là tri thức thực sự, là sự thật, doxa có nghĩa là ý kiến cá nhân, chủ quan. Người Hy Lạp xưa không chấp nhận một con người nào có thể nắm giữ episteme vì episteme chỉ thuộc về Chúa, mà mỗi người, với tư cách là những sinh vật có lý trí có thể tiếp cận logos một cách bình đẳng, chỉ có thể đưa ra những doxa của riêng mình. Vậy nên họ, bao gồm cả người cha của triết học phương Tây Socrates, không gọi mình là những nhà minh triết, mà chỉ gọi mình là những người “yêu mến sự minh triết” (philo-sophia). Họ không tôn sùng truyền thống, những người thầy, những người thông thái đi trước mà họ, sau khi tiếp thu được những nguồn tri thức đó, bắt đầu đưa ra những doxa của riêng họ, có khi phản bác lại hoàn toàn những gì họ đã được học. Quan niệm này là nền tảng cho sự ra đời của định chế đại học thời Trung Cổ, nơi tư duy phản biện và ý kiến cá nhân được tôn trọng. Đó là lý do vì sao chúng ta có thể thấy một sự vận động, tiến hóa không ngừng của tư tưởng phương Tây.
Trái ngược lại, ở bên triết học phương Đông, ta không thấy sự phân biệt ra hai loại tri thức này. Chỉ có sự minh triết, episteme và chúng được tích lũy bởi tổ tiên, bởi những hiền giả, những người đi trước và những bậc giác ngộ. Do tri thức về Đạo chỉ có thể được tiếp cận bởi một thiểu số tinh hoa, quần chúng tôn trọng, hay thậm chí là tôn thờ những thiểu số đó. Vậy nên ta có thể thấy được rằng người phương Đông rất tôn thờ truyền thống, tổ tiên của họ, những thầy dạy và những bậc giác ngộ. Trong việc học, trò không dám hơn thầy, chỉ dám được 5, 6 phần của thầy là được rồi. Vậy nên, ta có thể thấy được sự tĩnh tại, không thể phát triển của tư tưởng phương Đông và sự chậm chạp trong việc tiếp thu cái mới của người phương Đông.
III. Quan niệm về thời gian và điều cao quý nhất (summum bonum).
Trong triết học phương Đông, thời gian được quan niệm như một hình tròn lập đi, lập lại. “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua.” (Xuân Diệu) Vũ trụ, thế giới thì tồn tại vĩnh hằng, là một điều tuyệt đối và lịch sử là sự lặp đi, lặp lại của những khuôn mẫu. Chính vì vậy, điều cao quý nhất (summum bonum) đối với người phương Đông chính là việc sống hết mình trong khoảng thời gian hiện tại, hòa mình vào trật tự của Đạo, hòa làm một với Đại Ngã, với cái Vô. Điều này ta có thể thấy rõ nhất ở thuật ngữ Chánh niệm.
Còn triết học phương Tây, dưới sự ảnh hưởng của truyền thống Do Thái - Ki-tô giáo, cho rằng thời gian là một đường thẳng, có khởi đầu và có kết thúc (người Hy Lạp cũng có một quan niệm giống với phương Đông nhưng đã manh nha ý niệm về thời gian là một đường thẳng qua khái niệm về telos của Aristotle). Thế giới này không phải một vị thần mà chỉ là một sàn diễn, con người là những diễn viên ở đó (Shakespeare) và đạo diễn là Thiên Chúa (có thể là duy vật như Marx hoặc duy tâm như Hegel và người Ki-tô hữu). Chính vì vậy, summum bonum đối với người phương Tây là việc nỗ lực hết mình trong giây phút hiện tại để hoàn thiện bản thân, trong niềm hy vọng về sự thành toàn của lịch sử nhân loại trong tương lai. Summum bonum này được chia làm hai loại dưa theo thế giới quan là quy-thần-luận (theo-centrism) và quy-nhân-luận (anthro-centrism). Đối với thế giới quan quy-thần-luận, Thiên Chúa là chủ thể chính của lịch sử và chúng ta cố gắng nên Thánh, hay tuân theo ý chí của Ngài trong niềm hy vọng vào ngày mà Ngài sẽ đến lần thứ hai và kết thúc lịch sử nhân loại. Đối với thế giới quan quy-nhân-luận, con người là chủ thể chính của lịch sử và chúng ta cố gắng phát triển những công nghệ, kỹ thuật từng ngày để chinh phục tự nhiên, phát triển những hình thái xã hội tốt hơn để rồi một ngày nào đó, chính chúng ta sẽ xây nên được tháp Babel của riêng chúng ta, một địa đàng nơi trần gian và đó sẽ là hồi kết cho lịch sử nhân loại.
IV. Nhân luận.
Về mặt nhân luận, triết học phương Đông và phương Tây có sự khác biệt rất lớn. Trong triết học phương Đông, con người không chỉ thuộc về tự nhiên, con người là một phần của tự nhiên, là tự nhiên. Con người không cao cả hơn phần còn lại của tự nhiên và giá trị của con người được tìm thấy khi gắn liền với tự nhiên, với cái toàn thể (dĩ nhiên, điều ngược lại là nếu bạn bị loại trừ khỏi cái toàn thể, bạn không có giá trị).
“Ta làm con chim hót,
Ta làm một bài ca.
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.”
(Mùa Xuân Nho Nhỏ, Thanh Hải)
Ngược lại, trong triết học phương Tây, con người có một vị trí vô cùng đặc biệt. Dưới sự ảnh hưởng của truyền thống Do Thái - Ki-tô giáo, con người được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa, được Thiên Chúa yêu thương ban cho ý chí tự do và quyền làm chủ mọi loài thụ tạo của Ngài. Thiên Chúa còn yêu thương con người đến nỗi xuống thế làm người và chết để cứu độ con người, không phân biệt đó là ai, từ những kẻ độc ác nhất đến những người thánh thiện nhất, từ những đứa trẻ trong bụng mẹ, cho tới những người bệnh tật sắp chết. Chính vì vậy, mỗi người đều có phẩm giá, nhân vị và những quyền cơ bản bất khả xâm phạm như là quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc, những quyền mà không một thế lực trần gian nào có thể tước đi. Đó là nguồn gốc của khái niệm nhân quyền trong các văn bản quốc tế nổi tiếng có nguồn gốc phương Tây như Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc, Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ,… Ngoài khái niệm về con người dựa trên nền tảng hữu thần này ra, người phương Tây còn có một khái niệm con người dựa trên tự do và quyền tự trị (autonomy) của họ. Triết gia ngụy biện Protagoras có một câu nói nổi tiếng: “Con người là thước đo cho mọi sự.”, nghĩa là con người là chủ thể duy nhất của thực tại, không có một Thiên Chúa nào hết (hoặc nếu có thì Ngài không liên quan đến thế giới này vì nếu không sẽ ảnh hưởng đến tự do của con người). Con người có tự do tuyệt đối quyết định vận mệnh của mình, là một man-god. Đó là phản-đề của nhân luận hữu thần và cả hai cùng tạo nên thế giằng co trong tâm thức của người phương Tây từ xưa cho đến nay, đặc biệt thế giằng co này càng mạnh mẽ hơn sau lời tuyên bố “Chúa đã chết” của Nietzsche.
“Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm? Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân.” (Tv 8, 4-7)
“Nếu Chúa không tồn tại, mọi sự đều được phép.” - F.M. Dostoevsky, Anh Em Nhà Karamazov
V. Siêu hình học.
Trong triết học phương Đông, quan niệm siêu hình học về thực tại tối hậu của họ là thuyết nhất nguyên (monism) và phiếm thần (pantheism). Không có sự tách biệt giữa Tạo Hoá và thụ tạo. Tất cả mọi thứ tồn tại bản chất là một tâm trí, một thế lực vô danh nào đó (Brahman, Đạo,…). Và vì Thượng Đế là tất cả mọi thứ, “Ngài” bao gồm cả cái tốt, lẫn cái xấu. Thực ra, “tốt” và “xấu” cũng chỉ là ý niệm của con người. Không có gì gọi là “tốt”, “xấu” đối với thực tại tối hậu. Thực tại tốt hậu chỉ đơn giản “là”.
Còn trong triết học phương Tây, dưới sự ảnh hưởng của truyền thống Do Thái - Ki-tô giáo và triết học Plato (đặc biệt là quan niệm ý niệm của sự Thiện là nền tảng cho thực tại), ta thấy một sự tách biệt giữa Tạo Hoá và thụ tạo. Thượng Đế là một ngôi vị, là sự Thiện tự thân và Ngài đã tạo dựng nên thế giới này từ hư vô. Và vì Thượng Đế là sự Thiện là nguồn mạch của mọi sự thiện, mọi điều xuất phát từ Ngài đều tốt, bao gồm mọi thứ Ngài tạo nên hay mọi thứ tồn tại. Sự dữ, điều trái ngược với Ngài, là sự hư vô, sự thiếu vắng đi sự thiện.
VI. Đạo đức học.
Cả người phương Đông và phương Tây, cũng như toàn bộ những dân tộc cổ đại đều thừa nhận một nền đạo đức khách quan, được mặc khải qua lương tâm và mối quan hệ với thực tại tối hậu (Logos, Đạo), gọi là luật tự nhiên. Thế nhưng, ta lại thấy sự khác nhau của việc lấy cái gì làm quy chiếu, đích đến cho luật tự nhiên đó. Đạo đức học trong triết học phương Đông có xu hướng quy-vũ-trụ-luận (cosmocentrism). Cái toàn thể, theo triết học phương Đông, thì cao cả hơn con người và nó lấy sự phát triển của cái toàn thể, bao gồm gia đình và xã hội, làm kim chỉ nam soi chiếu cho những hành động nào là tốt, hành động nào là xấu. Và mục đích của đạo đức trong triết học phương Đông là sự phát triển của cái toàn thể và sự hài hòa giữa các thành phần trong đó. Ngược lại, triết học phương Tây có xu hướng quy-nhân-luận (anthrocentrism). Đạo đức học của phương Tây được xây dựng trên nền tảng là con người và hướng đến đích điểm là hạnh phúc của con người (eudaimonia). Cái gì tốt cho con người thì tốt cho xã hội vì xã hội nhìn chung chỉ là con người theo nghĩa rộng hơn. Ngoài ra, dưới sự ảnh hưởng của truyền thống Do Thái - Ki-tô giáo, đạo đức học phương Tây còn được gia cố thêm nền tảng, vì tất cả con người được tạo dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa nên đều bình đẳng và có quyền mưu cầu hạnh phúc như nhau, chứ không chỉ là đặc quyền của những người đức hạnh, khôn ngoan nữa.
VII. Kết luận.
Đó là những điểm khác biệt giữa triết học phương Đông và phương Tây mà người viết tìm được. Nếu có gì cần bổ sung thì mong được mọi người chỉ giáo thêm.
Cr: Victor Dostoevsky