BÀI 2: TRIẾT HỌC HIỆN SINH
Chữ Existentialisme (chủ nghĩa Hiện sinh) có nguồn gốc xa từ tiếng Latinh Existere [hiện hữu]. Nhà văn phạm Cassiodore cho rằng nghĩa căn bản của từ này là Ex-sistere, nghĩa là trồi ra, thoát ra, ra khỏi mặt đất, trồi lên mặt nước hay ra khỏi lòng mẹ. Như thế, người ta nhận thấy ban đầu từ này có nghĩa về nơi chốn. Nhưng nghĩa nơi chốn này mất dần và từ ngữ existere được dùng để chỉ một sự có mặt thực sự (vere esse), hiện hữu thực sự, đối lập với cái có thể, cái khả hữu.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Sách Tham khảo
1. Lê Thành Trị, Hiện Tượng Luận về Hiện Sinh, Trung Tâm Học Liệu,1974.2. Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, Thời Mới, xuất bản lần 2, 1968.3. R.Campbell, Tìm hiểu Chủ Nghĩa Hiện Sinh, Nguyễn Văn Tạo dịch, Tao Đàn, 1968.
4. P. Foulquié, L’ Existentialisme, Que Sais-je, bản dịch của Thụ Nhân, Nhị Nùng xuất bản,1965.
5. Encyclopédie de la foi, Les Éditons du Cerf, Paris 1967, t. II, từ "Existence".
***
1. Từ ngữ
Chữ Existentialisme (chủ nghĩa Hiện sinh) có nguồn gốc xa từ tiếng Latinh Existere [hiện hữu]. Nhà văn phạm Cassiodore cho rằng nghĩa căn bản của từ này là Ex-sistere, nghĩa là trồi ra, thoát ra, ra khỏi mặt đất, trồi lên mặt nước hay ra khỏi lòng mẹ. Như thế, người ta nhận thấy ban đầu từ này có nghĩa về nơi chốn. Nhưng nghĩa nơi chốn này mất dần và từ ngữ existere được dùng để chỉ một sự có mặt thực sự (vere esse), hiện hữu thực sự, đối lập với cái có thể, cái khả hữu.
Thánh Augustin sử dụng từ ngữ này theo nghĩa là một sự hiện hữu thuần túy, không kể tới nội dung hữu thể hay những đặc tính của nó. Rồi ngài cũng nói tới danh từ hiện hữu trong mối liên hệ với nguồn gốc làm phát sinh ra hiện hữu.
Thánh Thomas không hay dùng từ ngữ existentia; thay vào đó, ngài dùng từ ngữ esse[ Theo Gilson, cần tinh tế phân biệt giữa ens và esse trong từ ngữ của thánh Thomas, ], và ngài "rửa tội" cho học thuyết Aristote bằng cách nhấn mạnh tới tầm quan trọng của esse như là tác động hiện hữu mà thụ tạo được lãnh nhận nhờ tham dự vào hiện hữu thuần túy là chính Thiên Chúa. Theo thánh Thomas, tầm quan trọng của esse còn vượt quá essentia (yếu tính) nữa.
Trong triết học cận đại, đặc biệt trong khuynh hướng duy lý, người ta lại giản lược hiện hữu vào những ý tưởng; chẳng hạn, đối với Descartes hiện hữu là những "ý tưởng rõ ràng và phân minh"...
Nói lên nguồn gốc của từ ngữ như thế để chúng ta nhận thấy tính chất riêng biệt của từ ngữ này trong triết học hiện đại: existentia trong triết học hiện đại bỏ mất ý nghĩa nguồn gốc như thấy trong thánh Augustin, và cũng mất đi ý nghĩa về một sự liên lạc với Đấng làm nên tác động hiện hữu như thánh Thomas, để chỉ nói tới con người hiện diện ở đó, trong vũ trụ, trước người khác, như một sự tình cờ hay như một sự kiện có đó. Hiện hữu của con người là hiện hữu tại thế, trong những giới hạn cụ thể của hoàn cảnh. Đó là một hiện hữu thiết yếu thể hiện bằng tự do chọn lựa, tạo do sáng tạo của mình, và đây là ý nghĩa của từ "hiện sinh" ngày nay.
2. Ý nghĩa
Cách chung, triết học hiện sinh là một phản ứng chống lại cả truyền thống triết học tây phương cho tới lúc đó. Một đàng, triết học cổ truyền chỉ "nhìn lại đàng sau", nghĩa là tìm cách hiểu con ngườì, con người như một cái gì đã xong, như một đối tượng và là một đối tượng tĩnh để khảo sát; đàng khác, triết học cận đại lại chỉ tìm cách giải thích chính sự kiện con người muốn "hiểu" đó; nghĩa là lại lùi xa thêm một bước nữa, phản tỉnh thêm một cấp độ nữa. Tất cả truyền thống triết học, như vậy, giống như người mẹ còn mải lo tìm hiểu xem nghĩa vụ của người mẹ là thế nào, phải nuôi con thế nào, mà không nhận thấy rằng đức trẻ đang khóc thét lên vì thiếu sữa.
2.1. So với triết học Thượng cổ
Triết học thời thượng cổ, nói chung, chưa làm sáng lên sự hiện diện độc đáo của con người trong vũ trụ. Các triết gia thời thượng cổ cũng có nói đến đời sống luân lý, hoặc hơn nữa, nói đến đời sống thần bí, nhưng tất cả những điều đó luôn được đặt trên một nền tảng siêu hình, mà nền tảng này thì chung cho tất cả vũ trụ và con người. Với Platon chẳng hạn, con người cũng vẫn nằm trong thế giới phù ảo của thiên nhiên, cần có một con người mẫu trên thế giới ý tưởng để giải thích sự kiện con người. Aristote thì đưa ra một hệ thống những ý niệm siêu hình như : tiềm thể-hiện thể, chất thể-mô thể, lý thuyết bốn nguyên nhân..., là những định luật cấu tạo chung của tất cả thế giới trần gian này. Đến thời trung cổ, với quan điểm Kitô Giáo, vị trí của con người rõ ràng được nâng cao hơn; nhưng nhìn chung, nền tảng siêu hình của con người và thế giới vẫn là một.
Có lẽ cách nhìn như thế, có vẻ gọn gàng như thế, dễ dàng hơn để các triết gia "qui về một mối" tất cả vạn sự; và nó phản ảnh một tham vọng muốn làm một lần cho xong. Khuynh hướng này biểu lộ trong cách thức đề cao yếu tính hơn là hiện hữu. Platon cho rằng muốn có hiểu bíết đích thực thì phải hiểu biết các ý tưởng trên thế giới Ý Tưởng. Tri thức cái "mô thể thuần túy" (yếu tính) của sự vật như vậy mới có thể làm cho người ta vượt qua được những biến đổi như những ảo ảnh trong thế giới trần gian này. Như thế là, với Platon, hiện hữu chẳng những không quan trọng mà lại còn có tác dụng làm giảm đi giá trị đích thực của yếu tính. Hiện hữu che mờ yếu tính. Aristote không công nhận thế giới Ý Tưởng, vì đó là một cách giải thích thừa, để chỉ công nhận có những sự vật cụ thể. Nhưng nẻo đường lòng vòng của Aristote cuối cùng cũng không đưa ông thoát ra khỏi nhãn giới của thầy mình: tri thức khoa học phải là tri thức cái tổng quát, tức cũng là tri thức giống loại của sự vật (yếu tính) chứ không phải chính sự vật (hiện hữu).
Nói chung, lối nhìn của triết học cổ truyền đặt ưu tiên cho việc xác định yếu tính một sự vật, khi đã xác định được yếu tính con người thì coi như suy tư về con người đã xong. Triết học hiện sinh thì lại thấy rằng con người chưa là gì cả nếu chỉ mới có "yếu tính" kiểu như vậy. Con người cần hoàn thành vận mạng của mình với tất cả những vấn đề của cuộc sống, cuộc sống cụ thể và hiện tại của mình. Triết học hiện sinh cũng không xét tới cái khả hữu, là những khái niệm trừu tượng hoặc chỉ là những ý niệm của tâm trí, như toán học chẳng hạn, nhưng chỉ nhận sự kiện hiện hữu như cái gì đã có đấy rồi.
2.2. So với triết học Cận đại
Chúng ta có thể qui chiếu vào khởi điểm của triết học cận đại, Descartes, để hiểu được sự thay đổi não trạng của triết học hiện đại. Các triết gia hiện sinh như Jaspers, Marcel, Heidegger và Sartre đã nặng lời phê bình Descartes để, từ đó, làm sáng lên ý nghĩa của triết học hiện sinh.
Chẳng hạn Jaspers nói : "Chúng ta còn có cái phận sự thực hiện một nền triết học từng trải qua các sai lầm cơ bản của Descartes và được phát huy tương đối với ông và nhờ ông, lại chống đối ông và đưa ra cái toàn thể: nhân loại và sử tính như là những nguồn thiết thực do đó mà chúng ta sống thực sự và nhờ đó mà chúng ta có thể sống thực....".
Triết học cận đại đã theo chân Descartes để đi vào nẻo đường của cái Cogito. Nền triết học này có cái hay là làm nổi bật lên chủ thể tính của con người đối với thế giới; nhưng cách thức giải thích chủ thể tính của con người đối với thế giới lại chỉ giản lược vào vấn đề nhận thức, và rồi biến hóa thành những thứ duy lý hay duy nghiệm, duy tâm hay duy vật. Vấn đề được nhìn như vậy làm cạn kiệt mất sinh hoạt cụ thể của con người, người ta suy tư thay vì sống và lấy việc giải thích tương quan con người với vũ trụ làm nên tất cả triết học. Lối suy tư ấy, qua nhiều nhánh của nó, đều dẫn tới việc hợp lý hóa đời sống theo một khuôn khổ nào đó có sẵn. Điểm đối lập giữa triết học cận đại và triết học hiện sinh là một bên dùng lý trí "hợp lý" để xây dựng những hệ thống lý thuyết về thế giới và con người; bên kia thì lại nhấn mạnh tới tính cách phi lý hay huyền nhiệm của cuộc đời con người. Chúng ta không lạ gì khi thấy tinh thần của triết học cận đại được thể hiện trong thế kỷ XIX, với những hệ thống giải thích lịch sử nhân loại như những khuôn khổ đã xong rồi.
Tóm lại triết học hiện sinh nhằm tới con người, con người trong sinh hoạt cụ thể của mình, với trách nhiệm nặng nề về chính vận mạng của mình. con người đó không thể sống một cách dễ dãi như sự vật, không thể ăn sẵn với những khuôn khổ sống.
3. Trào lưu Hiện sinh
Cái nhìn đó của triết học hiện sinh mở ra một lãnh vực còn rất bao la của vận mạng con người mà triết học trước đây đã bỏ quên, chẳng hạn : tự do, nhân vị, độc lập, tha nhân như người đối diện.... Như thế, triết học hiện sinh không thể không gắn liền với nhưng sinh hoạt thường nhật của con người, và nhờ đó mà tạo nên cả một trào lưu hiện sinh có lúc rầm rộ khắp nơi, ảnh hưởng trên cuộc sống của con người hiện đại.
Thật ra, cũng đã có nhiều triết gia hay hệ thống triết học để ý đến vấn đề con người như thế nầy. Nhưng trong trào lưu triết học hiện sinh, người ta coi mối ưu tư về con người và vận mạng của con người là điều chính yếu, hoặc là điều duy nhất. Mối ưu tư ấy được thể hiện trong cả một trào lưu chung, chi phối toàn bộ giai đoạn lịch sử triết học hiện đại.
3.1. Lịch sử
Ngược dòng lịch sử, các học giả nhìn thấy nhiều đường nét hiện sinh nơi một vài triết gia mang nặng niềm băn khoăn về kiếp sống con người, như Socrate, phái Khắc kỷ, thánh Augustin, Pascal. Nhưng chính Soren Kierkegaard (1813-1855) mới thực sự là người đã khởi xướng phong trào hiện sinh. Sau đó, chúng ta thấy xuất hiện một nhân vật độc lập và độc đáo, được kể như ông tổ của hiện sinh vô thần, đó là Frederic Nietzsche (1844-1900). Husserl (1859-1938) thì được coi là Ông tổ của văn chương Hiện sinh nhờ phương pháp hiện tượng luận.
Nhưng phong trào hiện sinh chỉ thực sự phát triển ở Âu châu sau đệ nhất thế chiến. Tiêu biểu nhất, ta thấy ở Đức, có Heidegger (1889-1976) và Jaspers (1883-1969); ở Pháp có Gabriel Marcel (1889-1973) và Jean Paul Sartre (1905-1980). Các triết gia nầy đã bày tỏ lập trường qua các văn phẩm thuộc nhiều thể loại. Đầu năm 1927, Marcel cho xuất bản cuốn Nhật Ký Siêu Hình (Journal métaphysique); Heidegger với "Hữu thể và Thời gian (Sein und Zeit,1927); năm 1932, Jaspers cho xuất bản Triết Học (Philosophie); và năm 1943, Sartre phổ biến cuốn Hữu Thể và Vô Thể (L' Etre et le Néant). Đó là những tác phẩm chính đã khuyất động, không những xã hội Châu Âu mà cả nhiều nơi trên thế giới, làm thành một trào lưu Hiện sinh.
Tuy được các học giả xếp chung vào phong trào hiện sinh, nhưng lập trường của mỗi triết gia có nhiều điểm khác biệt. Có thể nói được là có bao nhiêu triết gia hiện sinh thì cũng có bấy nhiêu triết hịên sinh. Các triết gia được "xếp" vào số triết gia hiện sinh lại cũng không đồng ý điều đó. Năm 1947, G. Marcel đã nhận danh hiệu "thuyết hiện sinh Kitô". Nhưng năm 1951, lại phủ nhận và cho rằng người ta đã ngộ nhận tư tưởng của mình và chỉ nhận danh hiệu "thuyết Socrate Kitô" (socratisme chrétien). Năm 1937, Heidegger viết: "Tôi phải nói lại một lần nữa rằng: các khuynh hướng triết học của tôi không xếp vào hạng triết học hiện sinh". Sartre đề nghị lấy tiêu chuẩn tôn giáo để phân hạng: - triết gia hữu thần Jaspers và G. Marcel, - vô thần: Heidegger và Sartre.
3.2. Ảnh hưởng
Một lối nhìn vấn đề khác hẳn như triết học hiện sinh so với "triết học yếu tính" như thế được hưởng ứng hầu như trong mọi lãnh vực. Trong Kitô giáo, tuy E. Gilson đã nỗ lực muốn giải thích triết học của thánh Thomas là một thứ triết học về hiện hữu, ta vẫn thấy có nhiều nghi ngại với trào lưu tư tưởng này[ Chẳng hạn trong Théos, Nouvelle Encyclopédie Catholique, Droguet- Ardant, Fayard, 1989, về Các Hệ Thông Triết Học và Đức Tin Kitô giáo, pp. 534-535.].
Mặc dù không thấy có nhiều ảnh hưởng trực tiếp, chúng ta cũng nhận ra những đường lối suy tư mới, cách thức nhận định vấn đề khác với thói quen Kinh Viện. Dần dà, lối nhìn đó tạo nên những cách thức suy tư thần học, ít nhiều, theo khuynh hướng triết học hiện sinh. Vấn đề này tuy chưa lan rộng lắm, nhưng không thể đặng đừng được. Những lối nhìn mới trong Giáo Hội, khởi từ Vatican II như : chú trọng tới lịch sử cứu độ, tính cách "mục vụ" của suy tư thần học, mặc khải nhằm mục đích cứu độ.... nếu không phải là chịu ảnh hưởng, thì cũng là những bước song hành với trào lưu triết học này. Cách nhìn này ảnh hưởng trên cách thức nhìn các mầu nhiệm của Thiên Chúa, Chẳng hạn mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, trước đây, được cố gắng hiểu như những bài toán thách đố trí khôn và làm cho người ta phải mau chóng gạt bỏ suy tư để "lấy Đức Tin bù lại"; ngày nay, người ta thích nhìn mầu nhiệm nay như là những "khuôn khổ" mẫu mực cho cuộc sống cộng đoàn, bình đẳng của con người, nghĩa là khám phá ra ý nghĩa cứu độ có tính hiện sinh trong chính mầu nhiệm có vẻ xa xôi, bí ẩn này. Cũng thế, người ta nhìn lại những mầu nhiện về Giáo hội, về Đức Maria...
Chưa cần nói tới những ảnh hưởng mang tầm mức học thuyết của triết học hiện sinh; chỉ cần ghi nhận một tầm ảnh hưởng trên tâm thức, trên não trạng của con người của cả một xã hội hay cả một thời đại, một điều mà chưa có học thuyết nào trong lịch sử đã thành công như vậy. Ngay trong những vấn đề của cuộc sống hằng ngày, người ta, đặc biệt là lớp trẻ, không còn muốn đặt tất cả tầm quan trọng vào những "yếu tính", nhưng luôn đòi hỏi phải được thể hiện thực sự bằng chứng tá của cuộc sống.....
Trong lãnh vực Kinh Thánh, chúng ta nhận thấy ít nhiều tư tưởng hiện sinh trong lập trường của nhà thần học hiện sinh Bulmann (Tin Lành). Theo ông, cần phân biệt sứ điệp của Tin Mừng với những hoàn cảnh sống xung quanh; cách thức đó làm cho ta hiểu ý nghĩa đích thực của sứ điệp với cuộc sống hiện sinh và nhờ đó cũng nhận ra sự khẩn thiết của sự kiện Đức Kitô đối với cuộc sống hiện sinh của người tín hữu.
Cần lưu ý là cái "mode hiện sinh" trong giới trẻ trong thập niên 50 và 60 không phản ảnh đúng tinh thần của triết học hiện sinh đích thực. Nó làm cho thuyết hiện sinh trở thành đồng nghĩa với trụy lạc phóng túng, chỉ biết sống cho ngày hôm nay, không cần đến ngày mai. Những điều đó chỉ là một thứ sa đọa, méo mó, hoàn toàn trái ngược với hiện sinh đích thực.
3.3. Những đường nét chính
Như đã nói trên, thuyết hiện sinh suy tư cuộc sống hiện tại của con người. Lập trường của mỗi triết gia rất khác nhau, tuy vậy ta cũng cần cố gắng lọc lựa ra được một vài nét chung của nền triết học này .
3.3.1 P. Foulquié kể ra một vài nét chính của nền triết học hiện sinh như sau :
- Triết học của cái cụ thể : trở lại với thực tại chân thực, như G. Marcel nói : "Riêng phần tôi, tôi sẽ không gán đặc tính triết học cho bất cứ tác phẩm nào không làm tôi phân biệt được cái mà tôi gọi là vết cắn của thực tại" (la morsure du réel).
(Du refus à l' invocation, trích lại trong Foulquié, Sđd, trang 56).
- Triết lý về hiện hữu : Nhưng người ta không thể chỉ dừng lại ở cái cụ thể, đơn nhất như là "yếu tính cá nhân" của nó mà thôi. Suy tư triết học còn dẫn dắt để người ta suy tư về chính hiện hữu mà không thoát ra ngoài yếu tính của nó. Như thế, ta hiểu điều G. Marcel muốn nói : "Đối tượng của triết gia hìên sinh là sự duy nhất bất khả phân lý cũa hiện hữu và của hữu thể", một hiện hữu "đồng nhất với hữu thể".
(Nhật ký siêu hình, trích lại trong Thụ Nhân, Sđd trang 58).
3.3.2 Ta có thể gồm tóm trong một số điểm như sau:
a. Con người là hữu-thể-tại-thế
Cuộc sống không phải chỉ là cái gì phụ thuộc thêm vào cho con người nhưng chính là nơi con người phải hoàn thành vận mạng của mình. Cuộc sống thực của cuộc đời này là thách đố chính yếu của con ngừơi; nói cách khác, con người chỉ thực sự xác định được ý nghĩa đời mình khi thể hiện lựa chọn của mình trong cuộc sống. Đời sống con người không phải là một hệ thống suy tư, hay được diễn giải ra từ một hệ thống những định lý, chứng minh. Lý luận thì bất di bất dịch, còn cuộc sống, sinh hoạt thì biến đổi không ngừng.
Như thế, nhiệm vụ của triết học là suy tư về con người trong chính cuộc sống trần thế này chứ không phải con người trừu tượng hay thuần lý.
b. Con người tự do
Con người không phải là một sự vật như các sự vật khác trong thiên nhiên, nghĩa là con người không phải là một cái gì cố định, luôn luôn phản ứng như thế và chỉ có thế. Ngược lại, con người tự do là con người ý thức sự độc đáo của mình và dám sống cuộc đời mình một cách "ngang tàng". Thiên nhiên không qui định được con người nhưng chỉ cung cấp cái vốn để mỗi người sử dụng nó một cách tự do.
Jaspers nói như sau : "Hiện sinh là chủ thể tự nhận mình độc đáo. Thay vì mãi nhìn vũ trụ, chủ thể nọ tự xét mình để tìm ra ở trong mình cái nguồn khả năng hầu như vô tận: Hiện sinh của tôi không phải là cái vốn thiên nhiên cấp cho; hiện sinh của tôi là chính hữu thể mà tôi phải dùng một chuỗi những tự quyết để tác thành và hoàn thành. Như vậy, tôi phải luôn luôn vươn lên cái thường nhật để đạt tới chỗ trung thực của con người tôi".
c. Con người chủ thể
Con người không phải là sự vật như các sự vật khác trong vũ trụ; hơn thế nữa, con người cũng không thụ động đón nhận những sự vật khác trong vũ trụ như cái gì là nó mà thôi. Sự vật, đối với con người, mới chỉ là sự vật "thô", nó cần được mặc một ý nghĩa, nó cần được xử lý trong thế giới hiện sinh của con người. Con người chủ thể là con người tự mình xác nhận ý nghĩa của sự vật.
d. Liên chủ thể tính
Vấn đề này, cùng với vấn đề Siêu Việt, là một vấn đề làm phân cách triết học hiện sinh thành hai khuynh hướng chính. Ta có gọi được là hai ngành - Hiện sinh hữu thần và - hiện sinh vô thần.
* Khuynh hướng vô thần cho rằng con người không thể gặp gỡ với người khác mà không bị biến chất. Chẳng hạn Nietzsche cho rằng người đàn ông và người đàn bà không thể yêu nhau thực được, vì mỗi người đến tình yêu với một mục đích khác nhau; ông nói "tất cả bí mật của người đàn bà là sinh đẻ. Đối với họ, đàn ông chỉ là phương tiện, còn chủ đích là đứa con. Còn người đàn ông thì yêu thích hai món : chơi đùa và nguy hiểm; vì thế đàn ông yêu thích đàn bà vì đàn bà là đồ chơi nguy hiểm nhất trong đời". Cũng thế, J.P. Sartre thì cho rằng "tha nhân là địa ngục"; vì khi hai người gặp nhau, luôn có một người bị biến thành đối tượng. Khi ta trở thành đối tượng cho người khác, ta không còn sống tự do hoàn toàn như ta phải là nữa. Ông nói : "Tình yêu là một dự phóng, cho nên nó nhất định gây nên tranh chấp. Người được yêu nhìn nhận người yêu như một tha thể, tức một sự vật của vụ trụ cho mình sử dụng", "chúng ta không thể thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn dẫn ta tự thế đứng nhìn bị đẩy sang thế bị nhìn và ngược lại".
* Ngược lại, khuynh hướng hữu thần thì lại coi tha nhân như là một yếu tố để tôi có thể trở nên phong phú, trở nên chính con người thật của tôi. Vì Vậy, G. Marcel gọi người khác là một "Tha-Ngã", nghĩa là vừa là tôi (ngã), nhưng lại vừa là người khác (tha). Cái "tôi" chỉ có thể triển nở trọn vẹn trong cái "chúng ta" mà thôi. Marcel nói : "Mức thăng tiến có nhất của hiện sinh là khi chúng ta đạt tới sự thể hiện cái chúng ta, miễn là cái chúng ta đây không do miễn cưỡng, nhưng do đồng tình".
e. Siêu việt tính
Nếu như triết học hiện sinh vô thần đã cắt đứt tương quan con người với nhau thì họ cũng cắt đứt tương quan con người tới Siêu Việt: Nietzsche nói rằng Thiên Chúa đã chết, con người cần phải làm đám tang Thượng Đế để có thể tự mình sống như một Siêu Nhân. Còn J.P, Sartre thì cho rằng nếu có Thượng Đế thì con người trở thành một cái gì đã cố định theo ý muốn của Ngài. Điều này, theo Sartre, không hợp với con người là Tự Do, con người không phải chịu trách niện trước một Thiên Chúa nào hết.
Trong khi đó, Kierkegaard thì cho rằng hiện sinh đích thực và cao cả nhất là hiện sinh trước Siêu Việt; con người hiện sinh cần phải vượt qua từ giai đoạn "hiếu mỹ", rồi "đạo đức" để đạt đến giai đoạn "tôn giáo". Jaspers thì nói rằng con người cần phải thực hiện được những bước nhẩy: nhẩy từ chỗ làm sự vật để làm người tự do, rồi nhẩy từ tự do của con người để vươn tới Thiên Chúa. Ông nói : "Tôi không thể là tôi nếu không có siêu việt tính. Siêu việt tính chính là thước đo chiều sâu thẳm của hiện sinh tôi".
4. Một số chủ đề chính
Theo Emmanuel Mounier, chúng ta có thể ghi nhận một số chủ đề chung cho phong trào hiện sinh:
1) Con người là một hữu thể ngẫu sinh,(La contigence de l' être) có thể không có cũng được. Có mặt ở đây và bây giờ: không có lý do nào giải thích sự kiện ấy.
2) Lý trí bất lực, (L' impuissance de la raison ) : Lý trí không thể giúp con người định đoạt về số mạng mình. Cần phải huy động mọi năng lực tâm hồn.
3) Bước nhẩy bọt của con người (Le bondissement de l' être humain) : Con người không bao giờ yên nghỉ. Thuyết hiện sinh không phải là một triết lý yên ổn. Con người được khuyên mời cố gắng xây dựng cuộc đời, bằng cách vượt qua mọi tình trạng hiện tại.
4) Thân phận con người là yếu đuối (La fragilité de l' être hunain): Con người sống, nhưng đời sống luôn bị đe dọa, luôn đứng trước nguy cơ rơi vào cõi chết. Vì thế con người phải âu lo mãi.
5) Tình trạng vong thân (L' aliénation): Con người bị chi phối và bị đe dọa đánh mất bản thân mình trong những trại thái gọi là phóng thể.
6) Đời người có giới hạn mà thần chết lại vội vã (La finitude et l' urgence de la mort): Thuyết hiện sinh phản đối khuynh hướng muốn dấu kín hoặc quên đi sự thật của cuộc sống mình, đó là: sống là con đường đưa tới cõi chết.
7) Đời sống cô liêu và bí mật (La solitude et le secret): Mỗi người chúng ta là một sự đơn độc, sống đơn độc và chết đơn độc.
8) Con người là một hữu thể hư vô (Le néant): Phái hiện sinh vô thần nhấn mạnh rằng con người là một thực thể hướng tới hư vô.
9) Cải hóa nhân tâm (La conversion personelle): Con người không nên sống ngày nào hay ngày nấy, nhưng phải ý thức và âu lo về vận mạng của mình. Khẩu hiệu hằng ngày của con người không phải là "Sum", mà là "Sursum" (vươn cao lên). (G.Marcel).
10) Sống là dấn thân (Le thème de l' engagement): Để xây dựng đời sống, con người phải lựa chọn, dấn thân đảm nhận trách nhiệm cho mình và cho tha nhân.
11) Vấn đề tha nhân (Le thème de l' autre): Sống tức là sống với (mitsein, Heidegger). Con người không thể sống một mình nhưng phải sống chung với người khác.
12) Sống tức là liều thân (La vie exposée): Con người phải hành động dám liều mạng dưới cặp mắt dòm ngó bắt buộc của tha nhân.
Kết
Triết học hiện sinh là triết học về con người, không phải một con người trừu tượng, chung chung hoặc bị chìm ngập trong thế giới sự vật, mà là con người thực trong hoàn cảnh và lịch sử của mình.
Emmanuel Mounier nói: "Bất cứ khuynh hướng nào triết hiện sinh đều là triết học về con người, trước khi là triết học về vũ trụ. Theo Thiên Chúa giáo hay không, triết học hiện sinh đều mang nặng tính chất bi đát của kinh nghiệm con người về định mệnh của mình"[ Introduction aux existentialisme, Denoel 1947, trích lại trong Trần Thái Đỉnh, Triết Hoc Hiện Sinh, Sđd, trang 17.].
Tạm để một bên những khác biệt của mỗi triết gia, chúng ta có thể nhận thấy một tinh thần mới đàng sau loại triết học này : triết học hiện sinh không còn chỉ triết lý với một tinh thần hiếu tri như nguồn cội Hy Lạp nữa, mà biểu lộ một tinh thần muốn biện minh lý do hiện hữu của mình. Triết gia hiện sinh, chính yếu, không phải là người thắc mắc về những nguyên nhân tối cao của vạn vật, nhưng là những con người tha thiết với cuộc sống, "có lòng" với thân phận con người, muốn tìm hiểu và chứng thực lý do hiện hữu của con người bằng những chọn lựa, dự phóng...
Trong tinh thần đó, chúng ta cũng nhận thấy một nhu cầu "siêu việt", biểu lộ trong một tiến trình vươn lên đến phẩm giá thực của con người, cho dù có xác định phẩm giá đó là gì.
Chú thích:
5 Theo Gilson, cần tinh tế phân biệt giữa ens và esse trong từ ngữ của thánh Thomas,
6 Chẳng hạn trong Théos, Nouvelle Encyclopédie Catholique, Droguet- Ardant, Fayard, 1989, về Các Hệ Thông Triết Học và Đức Tin Kitô giáo, pp. 534-535.
7 Introduction aux existentialisme, Denoel 1947, trích lại trong Trần Thái Đỉnh, Triết Hoc Hiện Sinh, Sđd, trang 17.