BÀI 1: TRIẾT HỌC HIỆN ĐẠI
Từ ngữ Triết học Hiện đại bao gồm tất cả những học thuyết hiện còn đang có ảnh hưởng trong cuộc sống xã hội hiện nay. Khi triết học chuyển biến từ giai đoạn này trong giai đoạn khác, thì bao giờ cũng vậy, chúng ta không có được một vạch phân chia rõ ràng, cả theo thời gian cũng như theo nội dung các học thuyết. Trong khi triết học cận đại kéo dài cho đến hết thế kỷ XIX, thì một số trào lưu, theo cái nhìn hiện tại, thuộc triết học hiện đại đã bắt đầu trong thế kỷ đó và kéo dài cho đến hiện nay.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG
TẬP IV: THỜI HIỆN ĐẠI
LM Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
MỤC LỤC
BÀI 1: TRIẾT HỌC HIỆN ĐẠI 6
1. Khủng hoảng và chuyển hướng 6
2. Những trào lưu chính của triết học hiện đại 12
3. Đặc tính 13
BÀI 2: TRIẾT HỌC HIỆN SINH 16
1. Từ ngữ 16
2. Ý nghĩa 17
3. Trào lưu Hiện sinh 21
4. Một số chủ đề chính 28
BÀI 3: SOREN KIERKEGAARD 32
1. Con người và sự nghiệp 32
2. Tư tưởng 42
BÀI 4: FREDERIC NIETZSCHE 63
1. Tiểu sử và tác phẩm 64
2. Tư tưởng 74
BÀI 5: HENRI BERGSON (1859-1941) 96
1. Tiểu sử và tác phẩm 96
2. Học thuyết 98
BÀI 6: MAURICE BLONDEL 112
1. Tiểu sử và tác phẩm 112
2. Tư tưởng, vấn đề của Maurice Blondel 113
3. Tư tưởng, triết học Hành động của Blondel 115
BÀI 7: EDMUND HUSSERL (1859 – 1938) 122
VÀ HIỆN TƯỢNG LUẬN 122
1. Thời đại 122
2. Tiểu sử và tác phẩm 123
3. Tư tưởng 126
BÀI 8: MARTIN HEIDEGGER 141
1. Tiểu sử 141
2. Tác phẩm 142
3. Tư tưởng 142
BÀI 9: GABRIEL MARCEL 166
1. Tiểu sử 166
2. Tác phẩm 169
3. Tư tưởng 169
BÀI 10: KARL JASPERS 192
1. Tiểu sử & tác phẩm 192
2. Tư tưởng 194
BÀI 11: HỌC THUYẾT TÂN THOMISME 213
1. Hoàn cảnh 213
3. HIỆN TÌNH CỦA TRÀO LƯU TÂN THOMISME 224
BÀI 12: KARL MARX 237
1. Tiểu sử 237
2. Tư tưởng 239
BÀI 13: JEAN PAUL SARTRE 255
1. Thân thế 255
2. Hoàn cảnh 256
3. Tư tưởng 257
4. Nhận định 270
THAM KHẢO 1: TRIẾT HỌC PHÂN TÍCH 276
THAM KHẢO 2: CHỦ NGHĨA CẤU TRÚC 285
THAM KHẢO 3: CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI 301
Tài liệu tham khảo chung
1. Các sách tham khảo chung nói ở phần Dẫn Nhập.
2. Bochenski, Triết Học Tây Phương Hiện Đại, Tuệ Sỹ dịch, Ca Dao, 1969.
3. Lưu Phóng Đồng, Triết Học Tây Phương Hiện Đại, Lê Quang Lãm dịch, Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 1994, 4 tập.
4. Emile Bréhier, Những Chủ Đề Hiện Đại của Triết Học, Mai Vi Phúc dịch, Kỷ Nguyên.
5. Lê Tôn Nghiêm, Những Vấn Đề Triết Học Hiện Đại, Ra Khơi 1971.
6. André Maurois, Các Trào Lưu Lớn của Tư Tưởng Hiện Đại, Tràng Thiên dịch, Thời Mới 1964.
7. Henry Duméry, Regards sur la Philosophie Contemporaine, è édition, Casterman-Tournai-Paris, 1957.
8. J.K. Melvil, Các Con Đường của Triết Học Tây Phương Hiện Đại, Đinh Ngọc Thạch, Phạm Đình Nghiệm dịch, Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 1997.
BÀI 1: TRIẾT HỌC HIỆN ĐẠI
Từ ngữ Triết học Hiện đại bao gồm tất cả những học thuyết hiện còn đang có ảnh hưởng trong cuộc sống xã hội hiện nay. Khi triết học chuyển biến từ giai đoạn này trong giai đoạn khác, thì bao giờ cũng vậy, chúng ta không có được một vạch phân chia rõ ràng, cả theo thời gian cũng như theo nội dung các học thuyết. Trong khi triết học cận đại kéo dài cho đến hết thế kỷ XIX, thì một số trào lưu, theo cái nhìn hiện tại, thuộc triết học hiện đại đã bắt đầu trong thế kỷ đó và kéo dài cho đến hiện nay.
1. Khủng hoảng và chuyển hướng
Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XIX, người ta có thể nhận ra những khủng hoảng triết lý quan trọng làm cho triết học cận đại không còn có thể tiếp tục phát triển hay biến đổi một vài hình thức. Triệu chứng đầu tiên của cơn khủng hoàng này là sự xuất hiện những phong trào chống lại hai khuynh hướng mạnh mẽ của triết học cận đại, chống lại khuynh hương cơ học duy vật (mécanisme matérialiste); đồng thời, cũng có khuynh hướng chống lại khuynh hướng duy chủ thể (subjectivisme)[ Khuynh hướng Duy Chủ Thể này là một hình thức của thuyết duy tâm, chủ trương sự vật không có giá trị gì; hoặc triệt để hơn, sự vật không có; khuynh hướng này khác với tính cách chủ thể, hay chủ thể tính (subjectivité) của Triết Học Hiện Sinh chẳng hạn.]. Vào thời này, Châu Âu đang trải qua những chuyển biến quan trọng trong tư tưởng xã hội, những biến động về kinh tế; đồng thời cũng có những xao động trong lãnh vực tôn giáo cũng như những cải cách triệt để trong nghệ thuật.
Những biến động trong lãnh vực tư tưởng như thế cũng liên hệ mật thiết với môi trường xã hội, làm biến đổi những khái niệm cơ bản trong cuộc sống. Ta có thể kể ra một số mặt trận đã diễn ra những khủng hoảng và chuyển hướng quan trọng nhất[ Phần này dựa theo Bochenski, Sđd, trang 25-83.]:
1.1 Khủng hoảng vật lý học Newton
Hầu hết các triết gia thế kỷ XIX đều coi vật lý học của Newton là khuôn mẫu điển hình, trình bày một hình ảnh chân thật về thiên nhiên; trong đó, các nguyên tắc và lý thuyết của vật lý được coi như tuyệt đối đúng (khuynh hướng tuyệt đối), được áp dụng vào trong một thế giới vật chất như một dữ kiện đơn thuần; và tất cả mọi vật đều có thể giản lược vào dữ kiện đơn thuần này (trào lưu duy vật). Những khám phá đó cũng được áp dụng vào các ngành kỷ thuật một cách lạc quan. Nhưng vào cuối thế kỷ XIX, người ta thấy vật chất không phải là cái gì đơn thuần mà là quá phức tạp, có nhiều điều không tuyệt đối đúng mà cần phải bàn lại; đồng thời các ngành kỹ thuật, tuy đạt được nhiều thành công hơn bao giờ hết, những chẳng phải luôn luôn mang lại ích lợi thực sự cho con người.
Eddington chống lại thuyết "thế giới làm bằng miếng phó mát xanh"; Whitehead nhận xét rằng vật lý học cũ coi thế giơi như một đồng cỏ mà con ngựa có thể tự do phi nước đại; vật lý mới coi đó như một nơi có những thiết lộ mà các con tầu chạy theo những lối cũ của chúng. Như thế, cơ giới luận tiến gần đến khái niệm hữu cơ về thực tại. Lý thuyết Lượng Tử (théorie des quanta) của Max Planck cùng những khám phá khác trong vật lý học đã đặt lại vấn đề những thành quả vốn được coi như tuyệt đối đúng.
1.2. Khoa học giảm giá
Cùng với vật lý, khoa học nói chung, một số triết gia cũng nắm trong chiều hướng phê bình khoa học như Émile Boutroux, (với các tác phẩm De la contingence de loi de la nature; De l' idée de loi naturelle); Pierre Duhem (với thuyết phê bình duy nghiệm : empiriocriticisme); Richard Avenarius; rồi Ernest Machn cho ra đời tác phẩm chính yếu năm 1900, trong đó, ông trình bày phê bình một chủ thuyết phê bình rất gắt gao về thuyết cho rằng khoa học có một giá trị tuyệt đối. Những công trình của Albert Einstein, với Thuyết Tương Đối, rồi Schroedinger... cho thấy tính cách chủ quan của khoa học; những nhận xét của khoa học đều do con người, và giới hạn trong những gì thuộc về khả năng của con người, chúng chỉ cung cấp hiểu biết về một phương diện chứ không phải là tất cả.
Tóm lại, khoa học đã đánh mất phần lớn thẩm quyền của nó trong tâm hồn triết gia; và những gì mà trước kia người ta mang ra để để đối lập với tôn giáo, thì nay người ta lại thấy mâu thuẫn giữa khoa học và tôn giáo không có gì quan trọng cả. Tình hình như thế lại càng củng cố thêm thêm những gì cuộc khủng hoảng vật lý đã khởi đầu.
1.3. Luận lý toán học
Đến cuối thể kỷ XIX, những khám phá trên bình diện toán học như hình học phi-Euclide và lý thuyết về toàn bộ (théorie des ensembles) đặc biệt có ảnh hưởng đến triết học. Trước hết, chúng cho thấy những gì trước kia được chấp nhận dễ dàng nay lại thấy không chắc chắc gì cả.
Khoa luận lý toán học đã đựơc hình thành từ giữa thế kỷ XIX, nhưng nói chung khoa này vẫn còn xa lạ với các triết gia cho đến thế kỷ XX. Chỉ với Bertrand Russell, cùng với tác phẩm Những Nguyên Lý Toán Học (principes of Mathematics), xuất hiện năm 1903; nhất là với cuốn principia mathematica của Whitehead và Russell, thì các triết gia, ít là những vị ở Anh, mới bắt đầu để ý đến môn học mới này.
Sở dĩ khoa Luận lý toán học này ảnh hưởng đến triết học vì nó chỉ là toán học "trong căn nguyên"; còn trong thực tế, nó không diễn ra với toán học mà là với những khái niệm rất thông thường. Đồng thời, qua những khảo cứu luận lý toán học, nhiều vấn đề triết học cũ được lại, thí dụ vấn đề nguyên tắc triệt tam, chân lý của những định đề, văn phạm triết học (hay khoa ký hiệu học sémiotique); nhất là vấn đề những ý niệm phổ quát.
1.4. Phương pháp Hiện tượng luận
Một phong trào khác mang lại một sự cắt đứt với thế kỷ XIX, đồng thời tạo nên nền tảng cho sự phát triển của triết học hiện đại là trào lưu hiện tượng luận.
Có thể kể Franz Brentano (1836-1917) là người sáng lập ra phương pháp này; nhưng chỉ với Edmund Husserl, nó mới thực sự là một phương pháp mang tầm mức nền tảng của triết học hiện đại. Phương pháp này, chính yếu, là việc phân tích yếu tính (essence) của các dữ kiện, tức hiện tượng, và trở nên phương pháp rộng rãi của việc phân tích triết học cũng như nhiều ngành khoa học khác.
Luận lý Toán học và Hiện tượng luận là những phương pháp hơn là chủ thuyết. Cả hai đều bắt đầu từ một sự phản tỉnh về các phương pháp khoa học, và muốn mang lại cho khoa học một nền tảng mới; cả hai đều theo khuynh hướng đa nguyên và đối lập với khuynh hướng xây dựng hệ thống.
1.5. Khuynh hướng đề cao cuộc sống ngoại lý
Một trong những phản ứng quan trọng nói lên cuộc khủng hoảng tinh thần thời đại là sự bành trướng ngạo ngễ của thuyết chủ trương ngoại-lý (irrationalisme). Mặc dù Kant đã xác định rằng trí năng không thể đạt đến thế giới tại thân, nhưng ông vẫn còn chủ trương thế giới thường nghiệm lệ thuộc vào những định luật thuần lý và có thể khám phá được. Do đó, ở thế kỷ XIX, lý tính có nghĩa là lý tính cơ giới (raison mécaniste) của các khoa học. Và cuộc khủng hoảng khoa học đã tạo nên một khủng hoảng trong lý tính là điều tất nhiên.
Mặt khác, thuyết duy nghiệm, bắt nguồn cái nhìn cơ giới về sự vật, lại đã vay mượn hình thức chủ thuyết Darwin để áp dụng vào những phạm vi tâm lý học và xã hội học; theo đó, tất cả đời sống hữu thức, gồm cả khả năng lý luận, đã được giản lựơc vào những yếu tố thấp nhất của nó, và được đặt vào những định luật bản năng về sự tiến hóa; không có gì thường tại, không có gì bất biến, cả những nguyên lý vĩnh cửu, chỉ có đà sống thúc đẩy sự tiến hóa của đời sống. Quan điểm có tính cách nhất nguyên và tất định và tất định luận như thế, được khoa học quảng bá trước năm 1900 và đi đến chỗ tự phụ quá đáng, đến độ tỏ ra ngây thơ. Những thí nghiệm về phản xạ có điều kiện của Pavlov, những nhà thái độ học (behaviouriste) ở Mỹ cũng như Sigmund Freud, rồi Thomas Henry Huxley, Tyndall, Taine[ Chẳng hạn Taine nói: "Tật xấu và tính tốt cũng là những sản phẩm như là chất đường và chất cường toan".]...đưa đến một cái nhìn tất định triệt để; và đã thúc đẩy những phản kháng từ một số những tư tưởng gia cảm thấy có trách nhiệm bảo tồn những phẩm chất của sự sống, nhân vị con người (personne humaine), cũng như những giá trị tinh thần.
1.6. Siêu hình học duy thực mới
(Nouvelle Métaphysique Réaliste)
Khuynh hướng duy thực và siêu hình trở về và, lần đầu tiên, có khả năng phá vỡ cái khung những nguyên lý mà Kant đã tạo ra và chế ngự toàn thể triết học trong một thời gian dài. Nói chung, những nguồn mạch của kant đã bắt đầu cạn từ khoảng năm 1900, và nẩy sinh nhu cầu tìm tòi cái mới.
Sự hồi sinh của khuynh hướng duy thực xuất hiện đặc biệt với Meinong và Husserl. Hursell không hoàn toàn đi đến duy thực và một nền triết học về hữu thể; nhưng sự kiện ông không chú ý đến vấn đề nhận thức kiểu cũ để hướng tới sự phân tích các dữ kiện, sự kiện đó đã trở thành điểm tựa quan trọng đối với khuynh hướng duy thực và siêu hình học.
Ngoài ra, học thuyết Thánh Thomas tái sinh vào khoảng 1879, với sắc lệnh Aeterni patris, đã trở thành một trường phái lớn mạnh ngay tức khắc; năm 1893, tạp chí La Revue Thomiste ra đờì ở Fribourg và năm 1894 tạp chí La Revue Néo-scolastique de Philosophie ra đời ở Louvain, cùng với một số rất đông các tác giả lớn như Garrigou Lagrange, J. Maritain, cho thấy sự lớn mạnh của trào lưu này. Đồng thời, cũng có những khuynh hướng duy thực liên hệ như G. Morore ở Anh, Boutroux và Bergson ở Pháp, Hans Driesch ở Đức...
Tất cả những yếu tố đó làm cho trào lưu siêu hình học, đang là một trào lưu thứ yếu ở thế kỷ XIX, đã trở thành một học thuyết chủ đạo trong thế kỷ này.
Tất cả những khủng hoảng và chuyển hướng đó cũng có những liên hệ với nhau mà ta khó có thể phân tích một cách rạch ròi, tỉ mỉ. Chẳng hạn: luận lý toán học có liên hệ mật thiết với cuộc khủng hoảng về siêu hình học; cuộc khủng hoảng vật lý học tăng sức cho khuynh hướng ngoại lý ; có những mối tương tác giữa các nhà tiền phong của hiện tượng học và luận lý toán học.
2. Những trào lưu chính của triết học hiện đại
Người ta cũng không dễ dàng thống nhất về cách thức phân chia, xếp lại các luồng tư tưởng hiện đại. Từ những khủng hoảng và chuyển hướng như nói trên, vẫn theo Bochenski, ta có thể kể ra hai cách phân chia : theo phương pháp và theo nội dung.
2.1. Theo nội dung
Người ta có thể chia làm 6 nhóm:
A/ Hai nhóm tiếp tục tinh thần của thế kỷ XIX
1/ Triết học về vật chất.
2/ Triết học duy tâm.
B/ Hai nhóm biểu lộ sự cắt đứt với thế kỷ XIX
3/ Triết học về sự sống.
4/ Triết học về yếu tính, hay hiện tượng luận.
C/ Hai nhóm biểu lộ đóng góp độc đáo của thế kỷ này
5/ Triết học hiện sinh.
6/ Siêu hình học về hữu thể.
Cũng có một số tư tưởng gia độc lập, đứng ngoài các nhóm này và tạo nên sự liên hệ của các nhóm với nhau.
2.2 Theo phương pháp
Có thể dựa theo tiêu chuẩn phương pháp sử dụng của các học thuyết mà phân chia triết học hiện đại, như ta thấy trong hội nghị quốc tế về triết học lần thứ X, năm 1948. Theo đường hướng này, người ta thấy rằng các trường phái thường tách biệt nhau do việc dùng các phương pháp khác nhau, dần đần đến chỗ không có gì chung nhau cả; trong khi những trường phái sử dụng cùng một phương pháp thì dần dần lại gặp nhau ở nhiều điểm chung. Có hai phương pháp chính :
- Luận lý toán học (analyse mathématico-logique)
- Hiện tượng luận (phénoménologie)
3. Đặc tính
3.1. Chống lại khuynh hướng thực chứng
Trừ trào lưu triết học về vật chất và khuynh hướng duy tâm, là những nền triết học tiếp nối truyền thống thế kỷ XIX, còn các khuynh hướng Hiện Tượng Luận hay Siêu Hình Học mới đều nghi ngờ với khuynh hướng thực chứng; các nhà triết học siêu hình còn chấp nhận lập trường thực chứng trong khoa học về thiên nhiên; còn trào lưu hiện tượng học và triết học nhân sinh tách rời khỏi lối nhìn này.
3.2. Phương pháp phân tích
Đối lập với thế kỷ trước, vốn thường dễ dàng đưa ra một tổng hợp về cái toàn thể và lơ là với chi tiết, các triết gia ngày nay coi trọng tính đa ngành, tìm kiếm những phương pháp tiếp cận mới chính xác hơn và thận trọng hơn, đó là những tiếp cận mang tính phân tích một cách khoa học.
3.3 Quan điểm duy thực
Các triết gia siêu hình, hoặc theo một thứ triết học về vật chất hay về sự sống đều là những người duy thực. Người ta cho rằng con người có khả năng nắm bắt được hữu thể; lối phân biệt vật tại thân và hiện tượng của Kant bị bỏ qua. Chỉ có một số triết gia duy tâm chống lại quan điểm này.
3.4. Đa nguyên luận
Các triết gia thế kỷ XIX, nói chung, đều chủ trương nhất nguyên luận, giản lược thực tại vào một yếu tố duy nhất. Các triết gia hiện nay thì có khuynh hướng đa nguyên. Dĩ nhiên, những nhà duy tâm và duy vật thì chống lại quan điểm này.
3.5. Chủ hiện thực
Hầu hết các triết gia hiện đại đều bận tâm tới một tiến trình trở thành, đến sự hình thành của con người trong dòng lịch sử. Trừ khuynh hướng Thomisme, các khuynh hướng khác từ chối hình ảnh một bản thể cố định để quan tâm đến một tiến trình lịch sử.
3.6. Đề cao nhân vị
Phần đông các trường phái đều bận tâm về vị thế, vai trò của con người. Trừ các triết gia về vật chất, các tư tưởng gia hiện nay chấp nhận sự hiện hữu của tinh thần con người cũng như giá trị độc nhất, độc đáo của con người. Các triết gia về hiện hữu truyền bá một chủ nghĩa nhân vị dưới hình thức một hình ảnh bi tráng. Chính vì đó mà triết học hiện đại trở nên gần với sinh hoạt thường nhật hơn các triết học trước đây rất nhiều.
***
Thế kỷ XX bắt đầu với một sức sống mạnh mẽ, nở rộ của nhiều nền triết học và nhiều tư tưởng gia lỗi lạc. Chúng ta tạm giới hạn vào ba trào lưu chính[ Dĩ nhiên, chọn lựa này luôn mang tính chủ quan, tùy theo nhận định riêng cuả mỗi người.]: triết học Hiện Sinh, triết học Marx và triết học Tân-Thomisme. Thêm vào đó, nếu có thể, chúng ta bàn tới thuyết Thực Dụng, thuyết Cơ Cấu, thuyết của Teilhard de Chardin... Trong đó, chúng ta dành phần lớn cho triết học hiện sinh, một trào lưu rộng lớn và có tác dụng thay đổi cả một não trạng của thời đại.
Chú thích:
1 Khuynh hướng Duy Chủ Thể này là một hình thức của thuyết duy tâm, chủ trương sự vật không có giá trị gì; hoặc triệt để hơn, sự vật không có; khuynh hướng này khác với tính cách chủ thể, hay chủ thể tính (subjectivité) của Triết Học Hiện Sinh chẳng hạn.
2 Phần này dựa theo Bochenski, Sđd, trang 25-83.
3 Chẳng hạn Taine nói: "Tật xấu và tính tốt cũng là những sản phẩm như là chất đường và chất cường toan".
4 Dĩ nhiên, chọn lựa này luôn mang tính chủ quan, tùy theo nhận định riêng cuả mỗi người.