BÀI 3 (Phần 1): SOREN KIERKEGAARD (1813-1855)

Thế kỷ XIX là thế kỷ thắng trận của tri thức thực nghiệm; uy quyền của thứ tri thức vừa hiển nhiên vừa công hiệu đó cho phép ta chuyển biến thế giới mỗi nơi một ít và nhờ vào sự tiến bộ kỹ thuật, cho phép ta cải thiện điều kiện sinh sống của con người. Đó là lý do tại vì sao giữa thế kỷ XIX, có sự suy đồi chung của khoa triết lý ở Âu Châu

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Những phản ứng chống lại hệ thống duy lý của Hégel

Sách tham khảo

1. Georges Gusdorf, Kierkegaard Người Chứng Của Chân Lý, Ca Dao, 1969.

2. Lê Tôn Nghiêm, Những Vấn Đề Triết Học Hiện Đại, Ra Khơi, 1971.

3. Mai Văn Hùng. Tổng Quan Lịch Sử Triết Học Tây Phương Hiện Đại, Tu Thư Đại Học Đà Lạt, 1975

4. Samuel Enoch Stumpf, Lịch Sử Triết Học và các Luận Đề, Nxb Lao Động, Hà Nội 2004

*****

1. Con người và sự nghiệp

1.1. Thời đại

Để hiểu hoàn cảnh đã làm nẩy sinh ra một thứ triết học hoàn toàn mới, xin đọc lại lời của Gusdorf như sau :

"Thế kỷ XIX là thế kỷ thắng trận của tri thức thực nghiệm; uy quyền của thứ tri thức vừa hiển nhiên vừa công hiệu đó cho phép ta chuyển biến thế giới mỗi nơi một ít và nhờ vào sự tiến bộ kỹ thuật, cho phép ta cải thiện điều kiện sinh sống của con người. Đó là lý do tại vì sao giữa thế kỷ XIX, có sự suy đồi chung của khoa triết lý ở Âu Châu. Ở pháp chẳng hạn, vào năm 1860, Ernest Renan có thể viết : 'một trong những sự kiện nghiêm trọng nhất trong lãnh vực tri thức đánh dấu thời gian ba mươi năm nay là sự ngưng đọng đột nhiên của tất cả suy luận triết học vĩ đại. Ta có thể bảo rằng, mãi đến 1830, tư tưởng triết học Âu Châu đã không hề thiếp ngủ giây phút nào. Trái lại, nếu rảo qua 25 hay 30 năm trở lại đây, chúng ta sẽ kinh ngạc trước sự im lặng lạ lùng mà khoa triết học như thể muốn giữ. Hégel đã quá cố, để lại di sản cho những môn đệ, và những người này dường như muốn phân thây sư phụ và lôi kéo tử thi khắp bốn phương trời'.

"Kierkegaard sống từ 1813 đến 1855. Hoạt động trí thức của Kierkegaard diễn ra ngay đúng vào giai đoạn thoái hóa Hégel mà Renan vừa xác định. Nhưng khi mà người cựu chủng sinh Renan đặt niềm hy vọng vào tri thức thực nghiệm cùng tương lai của những khoa học lịch sử thì về phần mình, Kierkegaard chỉ nhìn thấy khả năng cứu rỗi con người trong sự quay về với tính chất đích thực của Kitô giáo, đã bị hai thế kỷ suy luận duy lý làm biến tính"[ Gusdorf, Sđd, trang 26-27.].

1.2. Gia đình

Thân sinh của Soren Kierkegaard là ông Mikael Pedersen Kierkegaard. Cậu Mikael, khi còn bé, làm nghề chăn cừu tại miền Jutland, cái nghề khổ cực quanh năm suốt tháng, cô đơn trong nhừng cánh đồng hoang vắng. Vào một ngày nào đó trong năm 1768, khi mới 12 tuổi, vì quá bất mãn với cuộc đời bất hạnh của mình, Mikael đã chỉ tay lên trời nguyền rủa Thượng Đế. Giây phút nổi loạn đó đã trở thành định mệnh cho cậu và cho tất cả gia đình cậu sau này.

Sau biến cố đó, Mikael được người chú đưa lên thủ đô Copenhague lập nghiệp và, một cách bất ngờ, ông lại thành công mau chóng trong việc buôn bán. Ngoài tứ tuần, Mikael đã gầy dựng được một sản nghiệp khá lớn: nhà ở tại thủ đô, biệt thự nghỉ mát ở vùng quê; và ông đã có thể bỏ việc kinh doanh để sống bằng lợi tức đã có của mình; dành tất cả cuộc đời còn lại cho vấn đề tôn giáo. Tuy vậy, nỗi ám ảnh tội lỗi khi xưa không bao giờ rời khỏi tâm hồn; và ông coi sự thành công hiện tại chỉ là một một dấu hiệu Chúa làm nặng thêm tội lỗi của mình, để chờ một hình phạt nặng hơn nữa giáng xuống.

Thêm vào đó, Mikael phạm một lỗi lầm khác làm cho tâm hồn của ông càng thêm day dứt: ông lập gia đình muộn vào năm 1794; nhưng hai năm sau, người vợ qua đời không để lại người con nào. Rồi khoảng một năm sau, ông lại cưới cô gái giúp việc làm vợ khi cô này đã có thai với ông. Bà nầy sinh được 7 người con. Hầu hết các người con đều qua đời trước 33 tuổi, nên ông Mikael càng tin rằng Thượng Đế đang trừng phạt mình.

Tuy giầu có và được kính nể, ông vẫn luôn lo lắng vì tội lỗi và bị ám ảnh bởi ý nghĩ : biết đâu đời sống sung sướng này chỉ là một cách Thượng Đế trừng phạt. Ám ảnh đó càng ngày càng mãnh liệt hơn, làm ông như muốn điên lên được. Khi vợ mang thai Soren Kierkegaard, đứa con thứ 7, con số kỳ diệu trong Thánh Kinh, ông chờ đợi đứa con như chờ hình phạt năng nề của Thượng Đế .

Soren Aabye Kierkegaard sinh ngày 5-5-1813, trong bầu không khí u uẩn của gia đình như thế, và những điều đó không thể không tác động sâu đậm trong tâm hồn Soren. Từ trong bào thai, tâm hồn Kierkegaard đã mang ấn dấu những lo lắng của thân phụ ; hơn nữa, là con út, có nhiều dịp hủ hỉ với cha, soren chịu ảnh hưởng của tâm hồn cha hơn các anh chị. Chính thân phụ đảm nhiệm công việc giáo huấn Kierkegaard và đã ghi khắc cho đứa con út cả những tâm tình tôn giáo đồng thời với những u uẩn của một tâm hồn luôn bị dằn vặt vì một tội tày đình. Kierkegaard suốt đời mang hình ảnh của cha và đảm nhận một cuộc đời như đã được an bài từ chính cuộc đời của cha.

Nơi học đường, cậu Soren có một trí khôn sắc sảo, nhưng có một vóc dáng hơi kỳ cục : nhỏ con, ốm yếu, lưng còng, có vẻ xấu xí, giọng nói thì the thé khiến những bài cậu đọc trong nhà thờ chẳng ai nghe được gì, chỉ có đôi mắt tỏ ra một trí thông minh đặc biệt. Có lẽ vì vóc dáng đó, cùng với một tâm hồn u uẩn, khiến Soren không hòa đồng được với bạn bè; Ông viết: "Tôi đau khổ vì không giống như kẻ khác. Ồ, suốt thời niên thiếu của tôi, chớ gì tôi có thể hy sinh tất cả để được như kẻ khác"[ Trích lại trong Lê Thành Trị, Sđd, trang 38.]. Trong hồ sơ dự thi tú tài, có những lời nhận xét của hiệu trưởng Nielsen như sau: "Thông minh, nhậy bén với những gì cần chú ý đặc biệt, nhưng là một học sinh từ lâu vốn trẻ con, không nghiêm chỉnh, thích tự do và độc lập (...). Nhẹ dạ nên ít khi thành tựu trong ý định và không cương quyết theo đuổi mục tiêu đã chọn lựa (...). Tuy nhiên, từ hai ba năm nay, tính tình đã trở nên nghiêm chỉnh hơn (...). Ở đại học, chắc sẽ trở nên một trong những người tài giỏi..."[ Như trên, trang 38.].

Với nền giáo dục gia đình hướng về tôn giáo, lại được người anh khuyến khích, nên Kierkegaard dự định trở thành mục sư. Mùa thu năm 1830, Kierkegaard ghi tên vào đại học ban thần học. Bầu khí đại học lúc đó đang chịu ảnh hưởng của Hégel, Kierkegaard không chịu được tính cách duy lý của hệ thống đó. Sau này, năm 1844, Kierkegaard viết : "triết học Đan mạch, nếu đạt tới một địa vị nào, phải đi đường lối khác với triết học Đức, bằng cách không bắt đầu từ định đề nào, hay tìm một trung gian nào để giải thích mọi sự; bởi vì, trái lại, nó phải bắt đầu xác nhận rằng: có nhiều điều giữa trời và đất mà không có triết gia nào khám phá ra".

Sống đời sinh viên, với một sự độc đáo cả về vóc dáng và tư tưởng như thế, ông vẫn vấp phải trở ngại "để được như kẻ khác"; ông ghi trong nhật ký năm 1834 : "Bi đát nhất là không ngờ tới việc không ai hiểu mình". Tâm trạng đó khiến ông tìm giải khuây trong những cuộc vui bê tha. Ngoài giờ dự lớp, ông lao vào các hí trường, trong quan rượu. Sinh viên Kierkegaard thích nhất là vở kịch Don Juan của Mozart. Nhưng tất cả những điều đó không giải quyết được nỗi buồn cứ ám ảnh mãi, ông cảm thấy buồn chán, đời sống trống rỗng, đầy lo âu phiền muộn.

Thế rồi một biến cố trọng đại xẩy ra trong cuộc đời của ông: Cha ông cảm thấy ngày tận số của mình đã gần kề nên tiết lộ cho con biết tội lỗi của mình ngày xưa. Soren nhớ rõ lúc đó là đúng 10g30 sáng ngày 19-5-1838. Kierkegaard ghi lại cảm tưởng về ngày đó như sau :

"Đó là lúc xẩy ra trận động đất, trận xáo trộn ghê gớm bất thần đặt ra cho tôi một định luật mới để giải thích mọi hiện tượng (...).Bây giờ tôi mới cảm thấy im lặng của tử thần dâng lên quanh tôi khi cha tôi xuất hiện như một kẻ khốn nạn còn sống sót lại cho chúng tôi, như một thập giá trên mộ những kỳ vọng tha thiết nhất của ngài. Một lỗi lầm sẽ đè nặng trên toàn thể gia đình, một hình phạt của Thượng Đế bay lượn trên đó"[ Như trên, trang 39.].

Tuy nhiên, khi biết được sự thật về cuộc đời mình, tâm hồn ông lại tràn ngập niềm hân hoan lạ thường, ông nhận thấy hoàn cảnh bất hạnh của mình chẳng những là hậu quả của tội lỗi, mà còn là cơ hội đền tội nữa. Cha ông qua đời ngày 8-8-1838. Ông ghi lại trong nhật ký : "Cha tôi vừa qua đời, (...). Cái chết này chẳng những không chia rẽ ngài và tôi, nhưng thực sự cha tôi đã chết vì tôi, ngài chết để tôi sống. Tất cả những gì tôi thừa hưởng của ngài, nhất là hình ảnh của ngài, nay càng trở nên qúi giá hơn". Cái chết của thân phụ chẳng những không làm cho ông rơi vào tuyệt vọng như người ta tưởng, ngược lại, giúp ông thay đổi đời sống. Ông lao vào việc học và, ngày 7-3-1840, đậu bằng thần học.

1.3. Tình duyên

Một biến cố khác cũng có tầm ảnh hưởng lớn trong cuộc đời Kierkegaard, đó là mối tình với Regina Olsen. Ông quen biết Olsen từ tháng 5 năm 1837, khi cô này mới 14 tuổi, là một cô gái nhí nhảnh, hồn nhiên và can đảm. Nhưng qua một thời gian dài sau đó ông mới gặp lại và có ý định đi tới hôn nhân vì hy vọng đời sống gia đình sẽ giúp ông cải thiện đời sống. Năm 1840, ông dành một thời gian tĩnh mạc ở quê quán của thân phụ để suy nghĩ và quyết định tương lai. Một tháng sau khi trở lại thủ đô, ông ngỏ lời đính hôn với Olsen. Dù đã có người yêu khác là Fréderic Schlegel, một thanh niên trí thức, tương lai đầy hứa hẹn; Olsen nhận lời cầu hôn của Kierkegaad.

Nhưng chỉ một tuần lễ sau, ông lại viết thư xin hủy bỏ giao ước. Ngày 11-8-1841, Kierkegaard gởi trả cho Olsen chiếc nhẫn đính hôn với những dòng chữ : "Xin cô hãy quên đi tác giả của những dòng chữ nầy; hãy tha thứ cho một người, tuy có thể làm được sự gì, nhưng đã không thể đem lại hạnh phúc cho một người thiếu nữ. Bên phương Đông, việc gửi mảnh dây lụa cho ai, nhằm cho người ấy biết họ bị án tử hình. Còn ở đây, việc gởi chiếc nhẫn chỉ là người gởi bị án tử hình".

Sự thật, Kierkegaard vẫn yêu Olsen cho đến cuối đời, nhưng ông không đủ can đảm bước vào đời sống hôn nhân. Người ta đưa ra nhiều giải thích về thái độ khó hiểu của Kierkegaard; chẳng hạn người ta đưa ra giả thuyết ông bị bất lực, bị bệnh khổ dâm, hoặc mang mặc cảm Oedipe...; chính ông, sau này cũng viện ra một số lý lẽ để bào chữa cho sự khước từ hôn nhân này; trong cuốn "Những Chặng đường đời", ông viết : "Những ai trở thành thiên tài, anh hùng và thi sĩ, đều nhờ một người thiếu nữ mà họ không cưới làm vợ". Có lẽ tất cả những lý lẽ đó, nếu có một chút sự thật nào, thì cũng chỉ là những gì thêm vào cho một tâm hồn vốn có nhiều u uẩn ngay từ những năm thơ ấu như chúng ta đã thấy trên đây.

1.4. Sự nghiệp

Giữa khoảng thời gian đính hôn và từ hôn đó, ông nộp đơn xin trình luận án tiến sĩ và lao vào việc học để chuẩn bị bảo vệ luận án. Ngày 29-9-1841, Kierkegaard trình luận án tiến sĩ với đề tài "Ý niệm về châm biếm luôn qui chiếu vào Socrate".

Mùa đông năm 1841, sau khi đã dứt khoát với Olsen, ông đáp tàu qua Đức, và lưu lại Berlin một thời gian. Ông có dịp tiếp xúc với Schelling, đụng chạm mạnh mẽ hơn với tư tưởng của Hégel và dần đần định hướng cho tư tưởng triết học theo nẻo đường hiện sinh của mình. Kierkegaard cho đây là thời gian sung mãn nhất của ông.

Mùa Xuân năm 1842, ông trở về quê nhà với ước vọng dành cả cuộc đời để phục vụ trong lãnh vực tôn giáo. Kierkegaard dành tất cả thời gian để viết sách, viết báo và những bài suy niệm về tôn giáo. Thời gian này ông cũng lao vào cuộc bút chiến với báo "Hải Tặc", đồng thời ra một tờ báo riêng, tự mình làm chủ nhiệm và chủ bút, tờ "Khoảng Khắc". Ông cũng chống đối giáo hội Tin Lành tại Đan Mạch mà ông cho là đã bị sa vào một thứ trưởng giả, an tâm, dễ dãi. Ông nhận thấy nền thần học chịu ảnh hưởng của thuyết Hégel, những suy tư tôn giáo không gắn liền với kinh nghiệm của đời sống tâm linh, khác xa với thái độ sự anh dũng của người Kitô hữu đối diện trước siêu việt.

Trong giới trí thức Đan Mạch lúc đó, giáo sư Martensen là người có nhiều uy tín. Kierkegaard công kích lập trường duy lý và nặng về lý thuyết của giáo sư. Martensen trả lời: "Tư tưởng thần học theo hệ thống, tôi có thể thêm, lý thuyết thần học là một điều có thể và cần thiết". Ngoài ra, Kierkegaard còn động chạm tới cơ cấu chính thức của Giáo Hội. Đại diện giáo quyền lúc ấy là Giám mục Mynster, người đã ban phép thêm sức và đã dạy dỗ cho ông. Kierkegaard kể ngài là vị ân nhân, nhưng lưu ý Giám mục về tình trạng nguy hiểm mà Giáo Hội đang lâm vào. Đầu năm 1854, Giám mục Mynster qua đời. Chính giáo sư Martensen đã được mời đọc điếu văn và nêu gương cố Giám mục như "một chứng nhân của chân lý", "một mắt xích trong sợi giây nối kết thời đại các tông đồ và thời đại chúng ta". Kierkegaard lại nặng lời đả kích Giáo Hội, ông nêu lên những đặc tính thực sự của “người chứng cho chân lý”; và không đồng ý với giáo sư Martensen trong việc đề cao giám mục Mynster, vì theo ông, hàng giáo sĩ của giáo hội Đan Mạnh bị trưởng giả hóa, được nhà nước cấp bổng lộc và ru ngủ tinh thần Kitô giáo trong tinh thần duy lý của Hégel.

Ngày 2-10-1855 Kierkegaard xỉu giữa đường và được người ta chở vào một bệnh viện. Ngày 11-11-1855, ông qua đời tại bệnh viện mới được có 43 tuổi. Trong di chúc, ông để lại tất cả gia sản cho Olsen.

1.5. Tác phẩm

Ngoài luận án tiến sĩ ông trình ngày 29-9-1841, với đề tài "Ý niệm về mỉa mai luôn qui chiếu vào Socrate", tác phẩm của Kierkegaard có thể chia thành 3 loại:

* Những tác phẩm dùng bút hiệu

- Hoặc Là...Hoặc Là (L’Alternative, Fragment d’une vie, 2 vol.), 1843, dưới tên giả là Victor Éremita.

- Sợ Hãi và Run Rẩy (Crainte et Tremblement), 1843, dưới tên giả là Joannes de Silentio.

- Sự Hồi Khởi (La Répétition), 1843, dưới tên giả là Constentin Constensius.

- Những Mảnh Vụn Triết Lý (Miettes philosophiques), 1844; dưới tên giả là Joannes Climacus.

- Ý Niệm Xao Xuyến (Le Concept d’Angoisse), 1844, dưới tên giả là Virgilius Haufriensis.

- Những Giai Đoạn Trên Đường Đời (Stades sur le chemin de la vie), 1845, dưới tên giả là Hilarius Bogbinder.

- Tái Bút Chung Cuộc Và Không Có Tính Cách Khoa Học Cho Cuốn "Những Mảnh Vụn Triết Học" (Post Scriptum finale aux Riens philosophique), 1846, dưới tên giả Joannes Climacus.

- La Crise et une crise dans la vie d’une Actrice (1948).

- Point de vue explicatif de mon oeuvre (1859)

- Traité du désespoir (1949)

- L’École du Christianisme (1950)

- L’ Instant (1955)

* Những tác phẩm giáo huấn (dùng tên thật)

- Những tập nhỏ về những bài diễn văn giáo huấn (từ 1843 đến 1849).

- Những tác phẩm về tình yêu (1847).

- Ngoài ra còn có những tác phẩm khuyến thiện (1847) mà tác giả ký tên thật; và các bản nhật ký được thu góp lại sau khi ông qua đời.

* Những tác phẩm bút chiến

- Khái luận về thất vọng .Năm 1848

- Trường Học Kitô Giáo (1850).

- 8 số báo "Khoảng Khắc" (1855).

Người ta lưu ý tới sự kiện là các tác phẩm văn chương không được Kierkegaard ký tên thật; ngược lại những tác phẩm giáo huấn lại được ghi tên thật đường hoàng, có lẽ chính mảng tác phẩm giáo huấn có thể diễn tả tâm hồn phức tạp của Kierkegaard một cách trung thực hơn; mảng này, cho đến nay, vẫn chưa được lưu ý nhiều. Người ta cũng biết là từ năm 1837, triết gia đã tiếp tục biên một tập Nhật Ký, những bản văn này được tìm thấy và giữ lại một phần lớn sau khi tác giả qua đời.

Chú thích:

8 Gusdorf, Sđd, trang 26-27.

9 Trích lại trong Lê Thành Trị, Sđd, trang 38.

10 Như trên, trang 38.

11 Như trên, trang 39.

Xem tiếp phần 2