BÀI 3 (Phần 2): SOREN KIERKEGAARD (1813-1855)
Khi Kierkegaard đến Berlin, tư tưởng của Hégel vẫn đang thống trị trong các đại học ở Đức. Tuy nhiên, Trong bầu không khí đó, ông lại khám phá ra những đường nét thích hợp với mình trong chính hệ thống duy tâm của Đức quốc: chẳng hạn Schelling đã thấy được rằng tư tưởng triết lý duy lý không đạt tới hiện hữu thực được, nhận thức là công việc của cá nhân, chính cá nhân mới trực tiếp đón nhận hiện hữu của các vật khác, Schelling nói: "hiện hữu là cái gì làm, sụp đổ tất cả cái gì do suy tư mà ra"
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
2. Tư tưởng
2.1. Chống Hégel
Khi Kierkegaard đến Berlin, tư tưởng của Hégel vẫn đang thống trị trong các đại học ở Đức. Tuy nhiên, Trong bầu không khí đó, ông lại khám phá ra những đường nét thích hợp với mình trong chính hệ thống duy tâm của Đức quốc: chẳng hạn Schelling đã thấy được rằng tư tưởng triết lý duy lý không đạt tới hiện hữu thực được, nhận thức là công việc của cá nhân, chính cá nhân mới trực tiếp đón nhận hiện hữu của các vật khác, Schelling nói: "hiện hữu là cái gì làm, sụp đổ tất cả cái gì do suy tư mà ra"[ Như trên, trang 47.]; Schelling cho thấy hiện hữu không thể giản lược vào một hệ thống nào cả. Kierkegaard cũng nhận thấy nơi Hégel-trẻ những mầm mống của ý nghĩa hiện hữu, chẳng hạn trong biện chứng chủ-nô, nhưng Kierkegaard cho rằng kinh nghiệm về biện chứng này là chuyện của cá nhân chứ không phải là của một hệ thống tư tưởng trừu tượng có tham vọng bao gồm tất cả thực tại như đối với Hégel.
Tuy vậy, ta có thể nói chung rằng tất cả nỗ lực của Kierkegaard là một sự chống lại tư tưởng của Hégel, và cũng từ đó, ông hình thành được những đường nét chính trong tư tưởng của ông cũng như tư tưởng của triết học hiện sinh sau này.
1/ Kierkegaard chỉ trích tham vọng của Hégel và những đồ đệ của ông muốn trình bày cho đại chúng tư tưởng triết học như một hệ thống hoàn bị. Hégel quan niệm lý trí như một bản thể phổ quát, có khả năng thu tóm toàn bộ thực tại. Như thế, trong quát trình biện chứng lịch sử, tất cả mọi sự đều được thu gồm lại trong một hệ thống bao trùm cách hợp lý. Do đó, với Hégel, tất cả những gì hiệp hữu là hợp lý, và tất cả những gì hợp lý thì hiện hữu. Trong tác phẩm Triết Học Pháp Quyền, Hégel Nhà Nước như một thể hiện cụ thể của Tinh Thần, bao trùm tất cả mọi cá thể; số mạng của cá thể là sống như một thành phần của Nhà Nước, và chỉ có thể tìm được chân lý của mình khi hợp nhất với Nhà Nước. Chính niềm tin vào sự hợp lý đó, tinh thần duy lý ở tột đỉnh của nó, đã khiến cho Hégel cả gan giải thích tất cả lịch sử nhân loại trong một hệ thống. Ông cũng nhận rằng có những điều hiện nay chưa hoàn toàn hợp lý, nhưng trong tiến trình biện chứng của tinh thần, những điều đó sẽ được hóa giải. Khi lịch sử chấm dứt, tức khi mà Tinh Thần đã thâu gồn được tất cả thực tại trong tổng hợp của mình, thì mọi sự sẽ sáng tỏ ra như là một cái gì hoàn bị, đầy đủ, hợp lý. Hégel đặt mình ở cuối lịch sử và muốn đặt trước một dấu chấm hết cho lịch sử. Mặt khác, theo Hégel, sinh hoạt cao cả nhất của con người là triết học suy lý thuần túy, vì triết học chính là biểu lộ của tinh thần trong tính chất tuyệt đối của nó.
Kierkegaard cho rằng xu hướng hình thành hệ thống thường hứa hẹn nhiều điều, nhưng chẳng thực hiện được gì cả. Tất cả mọi hệ thống đều là những giả định không thể chứng minh được, nhưng lại làm ra vẻ như chúng là những điều đã được chứng minh đầy đủ. Thực ra, một hệ thống phải luôn giả thiết một "nguyên lý" đi trước. Như thế nghĩa là người ta đã phải tin vào một cái gì trước đã, và sự chấp nhận tin như thế đã là một sự lựa chọn tiên thiên. Rồi kết cục của hệ thống thì lại là một cái gì có sẵn, như thế không có tương lai đích thực, chỉ có cái quá khứ được phóng chiếu tới tương lai như một cái gì chắc chắn. Đối diện thẳng với vấn đề, ông cho rằng : Hệ thống phải thực sự hoàn bị, nhưng ai có thể bảo đảm cho điều đó ?
"Dù sao, tôi vẫn sẵn sàng phục lạy trước hệ thống, nếu may ra, tôi thấy được hệ thống. Cho tới bây giờ, tôi chưa thành công được... Nhiều lần tôi tưởng được dịp thờ lạy nó, tôi đã rút khăn tay, định trải xuống đất, phòng khi quì xuống, cho khỏi lấm quần; nhưng, lòng đầy hy vọng, tôi hỏi cho biết hệ thống đã hoàn bị chưa?... Tôi chỉ nghe được cũng một câu trả lời không thay đổi : chưa ! Thực sự, hệ thống chưa hoàn bị. Thế là mọi sự đều bị đình hoãn lại: hệ thống và việc quì lạy..." .
Quả thật học thuyết của Hégel không còn nhìn thấy sinh hoạt tự do, sinh hoạt đạo đức của con người; và như chúng ta đã thấy, tinh thần đó đã góp phần hình thành bầu khí của tất định thuyết vào cuối thế kỷ XIX.
2/ Mặt khác, với Kierkegaard, tinh thần hệ thống thường làm cho người ta quên hiện hữu. Tất cả mọi hệ thống đều có tính cách “đóng”; trong khi “hiện hữu” lại thiết yếu mang tính chất “mở”. Thực sự không một hệ thống nào có thể bao gồm chính sự hiện hữu được. Hệ thống nuốt chửng cá nhân và biến cá nhân thành nhưng biểu hiện tùy phụ; cá nhân chỉ là một khoảng khắc mỏng manh trong diễn tiến của toàn thể. Hégel viết : "Mỗi người chỉ là một khoảng khắc của hài hước, bạn là khoảng khắc do sự trả đũa của lãng mạn thuyết, bạn là giai đoạn của chủ thể tính, một khoảng khắc sẽ bị vượt qua và tất nhiên luôn luôn sẽ bị vượt qua"[ Trích lại trong Lê Tôn nghiêm, Những vấn đề triết học hiện đại, Ra Khơi, 1971, trang137.]. Trong khi đó, đối với Kierkegaard, hiện hữu là cái gì cụ thể, có giá trị tuyệt đối, không thể bị biến tan trong hệ thống lý thuyết được. Ông trả lời Hégel:
"Ông muốn nói gì cũng vô ích, tôi không phải là khoảng khắc luận lý trong hệ thống của ông. Tôi hiện hữu, tôi tự do, tôi là tôi, một cá nhân mà không phải một khái niệm, không một ý tưởng trừu tượng nào có thể diễn tả nổi nhân cách của tôi hay thiết định được dĩ vãng, hiện tại, nhất là tương lai của tôi; hay múc cạn được những khả tính của tôi. Không một lập luận nào có thể giảng nghĩa cho tôi về chính tôi, về cuộc đời và những sự tự do lựa chọn của tôi hay về sự sinh, sự tử của tôi".
"Do đó, cần thiết triết lý phải từ bỏ những tự phụ điên cuồng của mình là muốn nhìn mọi sự một cách hợp lý theo lý trí để chú tâm vào con người và mô tả hiện sinh của con người theo thực trạng cụ thể của nó.
"Chỉ có điều đó là quan trọng, ngoài ra không có gì đáng kể !"
Như thế, không thể có một hệ thống lý thuyết có khả năng thay thế cho hiện hữu được. Sự hiện hữu cụ thể là tuyệt đối, nó đặt các cá nhân trong tình trạng độc đáo, không thể san sẻ hay giản lược vào nhau được. Cho nên, không thể có một hệ thống tư tưởng nào có thể tổng hợp các hiện sinh. Hiện sinh là một cá nhân, do đó không thể quan niệm được: "cái cá biệt đứng ngoài vòng tư tưởng, chỉ có thể tư tưởng về cái tổng quát mà thôi".
Như thế, trong khi Hégel cho rằng những biểu hiện riêng biệt của từng cá nhân hay từng hoàn cảnh chỉ là cái thứ yếu, thóang qua; thì Kierkegaard lại cho thấy chính hiện hữu của từng cá nhân mới thực sự là cái có thật và có thật một cách tuyệt đối. Suy luận chỉ làm suy giảm hiện hữu; người càng suy luận thì càng nhận thức thực tại một cách trừu tượng, chung chung. Ngược lại, hiện hữu thì sống động, mạnh mẽ, không phải bằng suy luận nhưng nhờ khả năng tự chọn và đam mê. Sự tự chọn lựa về mình mang tính cách ngẫu nhiên triệt để; còn về đam mê, Kierkegaard nói rằng : kẻ nào chìm đắm trong đam mê của mình, kẻ đó mất ít hơn kẻ đã mất đam mê của mình.
3/ Cuối cùng, tư tưởng chống Hégel của Kierkegaard đưa đến vấn đề chân lý. Hégel dùng lý trí để tạo nên một tổng hợp hợp lý, nhưng chính tổng-hợp hợp lý đó lại đánh mất chân lý. Hégel cho rằng chân lý nằm trong cái toàn thể, chân lý là cái có, nhưng cái có thực chính là cái toàn thể. Thành phần không phải là cái có thật, nên không phải là chân lý. Như thế, chân lý của Hégel mang tính cách phổ biến, thiết yếu, toàn diện. Hégel là người đã đưa hệ thống duy lý lên đến cao điểm của nó, và như thế, cũng là người mở cửa mồ để chôn nó.
Kierkegaard cho rằng "chân lý là chủ thể tính". Chỉ có chân lý trong hiện sinh, tức là trong cảm nhận, trong bày tỏ, trong tự do quyết định của mỗi cá nhân xét như một chủ thể độc đáo mà thôi. Như thế, chân lý, theo Kierkegaard, lại mang những đặc tính chủ thể, đặc thù, riêng phần. Mỗi người, xét như một chủ thể, có thể nhìn nhận, kinh nghiệm được chân lý của mình. Chân lý, xuất hiện tùy vào ý hướng của cá nhân và tùy vào một khía cạnh được cá nhân nhận thức. Chỉ người nào "trong cuộc" mới hiểu được ý nghĩa của sự việc xẩy ra cho mình. Còn với ai ở ngoài cuộc, "chân lý" được cô đọng lại thành một ý niệm, ý niện đó khô héo, chỉ còn là một phiên bản sai lạc của cuộc sống thật.
Từ lập trường chống Hégel một cách triệt để, Kierkegaard là đã hình thành được hầu như tất cả những đường nét chính của nền tư tưởng hiện sinh sau này như : tư tưởng về cái cụ thể, đặc biệt là cuộc sống cụ thể của con người; tư tưởng say mê, nhập cuộc, khát vọng vươn lên; khẳng định tầm quan trọng của chủ thể . . . Từ đó, ông cũng hình thành được những "phạm trù" căn bản của triết học hiện sinh như : tính cách độc đáo, cô liêu của mỗi cá thể, lựa chọn, âu lo...
Đặc biệt trong phạm vi tôn giáo, bằng chính kinh nghiệm của mình, Kierkegaard đã làm nổi bật lên được kinh nghiệm về đời sống "hiện sinh trước Thiên Chúa”; đó là một kinh nghiệm đức tin khác hẳn với lối sống đạo đức chỉ dựa theo giáo huấn luân lý.
2.2. Những chặng đường Hiện sinh
Hầu hết các triết gia hiện sinh đều thử hình thành một tiến trình hiện sinh, khởi từ thái độ của những hiện sinh giả tạo, thấp hèn, vươn lên đến mức độ hiện sinh siêu việt. Đối với Kierkegaard, có ba giai đoạn hiện sinh : giai đoạn hiếu cảm, giai đoạn đức lý, và giai đoạn tôn giáo. Mỗi giai đoạn mang một bản chất khác biệt và người ta phải vượt qua, phải nhẩy từ giai đoạn này sang giai đoạn kia, nhờ vào hai cây cầu là mỉa mai và u mặc.
2.2.1 Giai đoạn hiếu cảm (stade esthétique)
Từ ngữ esthéticien, xuất phát từ Hy Lạp Aistheticos, nghĩa là "cảm giác". Kierkegaard dùng từ này để chỉ tình trạng một người sống chiều theo những cảm nhận giác quan, thay đổi không ngừng. Đó là người luôn phóng mình vào những ảo ảnh, mơ tưởng một tuyệt đối mà không bao giờ gặp được trong những cảm giác.
Người ta không rõ đây là một miêu tả chân thực về cuộc sống của chính ông hay chỉ là một câu chuyện tưởng tượng, nhằm trình bày một tư duy về cuộc sống. Các nhà nghiên cứu cũng có thể tìm thấy vài dữ kiện soi sáng, chẳng hạn, trong những năm đầu học đại học, ông sống xa hoa phung phí và mang nợ nần. Năm 1836 tư tưởng của ông bắt đầu xoáy mạnh vào vấn đề tội lỗi. Hơn nữa, đặt mình trong toàn bộ tư tưởng của Kierkegaard, chúng ta nhận thấy ông quyết liệt chống lại kiểu suy tư trừu tượng và việc hình thành hệ thống tư tưởng. Suy tư của ông luôn lấy chất liệu trong chính cuộc đời của ông. Như thế, chúng ta ta có thể hiểu, cách này cách khác những mô tả trong phần này, dù không phải là hoàn toàn đúng như một bản tự thuật, có lẽ là một cách diễn tả tâm trạng thực của chính tác giả.
a. Mô tả tính cách của con người hiếu mỹ
Để mô tả giai đoạn này, Kierkegaard kể chuyện về một người thích đi dụ dỗ con gái, một anh chàng tài tử theo kiểu Don Juan. Loại người này bị thúc đẩy do một thứ dục vọng luôn muốn tìm của lạ, thích thay đổi luôn và không bao giờ thỏa mãn trong những thú vui của mình. Kiểu sống đó khiến chàng luôn chạy đuổi theo đủ thứ tình yêu. Chàng không muốn dừng lại được vì không có khả năng lựa chọn. Chàng không thể lập gia đình như người khác vì không thể trung thành được với mối tình nào. Anh ta kéo dài cuộc sống độc thân vì cứ muốn chờ đợi một điều gì khác. Cuộc đời Don Juan là một cuộc tìm kiếm mà không biết mình tìm kiếm điều gì.
* "Bao nhiêu thiếu nữ là bấy nhiêu cái đẹp, không bao giờ có hai vẻ đẹp giống nhau. Khi tôi đã xem và khi tôi đã cười duyên, than thở, tán tỉnh hoặc đe loi, cười, khóc, hy vọng, chán nản, được thua..., bây giờ tôi hồi tưởng lại tất cả, thì lòng tôi rạo rực và tình dục tôi bốc cháy. Đúng rồi, tôi mê cô ấy, chính cô ta sẽ thuộc về tôi"[ Journal d' un séducteur, trích lại trong Trần Thái Đỉnh, Sđd, trang 102.].
* "Si tình, khoái thực, nhất là khi người ta biết mình si tình. Và đó chính là điểm quan trọng. Tôi có thể vô cùng bực tức vì nàng lại biến mất, rồi mất lần thứ hai. Nhưng theo một phương diện, điều đó làm cho tôi thích thú : hình ảnh của nàng bây giờ lúc ẩn lúc hiện, khi như có thực, khi lại xem như huyền ảo...,và tôi tự lấy làm sung sương được coi mình như con cưng của chư thần; có là con cưng của chư thần mới có diễm phúc si tình lần thứ hai... Ái tình còn mang nhiều huyền nhiệm, mối tình thứ nhứt đã huyền diệu lắm, nhưng chưa bằng mối tình thứ hai này... Hai lần nàng đã đến, hai lần nàng lại biến đi : điều này chứng tỏ rồi đây nàng còn đến với tôi nhiều lần hơn nữa"[ Như trên, trang 83.].
Nhưng vì cuộc sống của người hiếu mỹ chỉ gắn vào những cái chốc lát, nên nó trở nên phù phiếm; vì cứ luôn phải tìm kiếm nên rơi vào tình trạng mệt mỏi; vì luôn muốn thụ hưởng nên càng nghèo nàn; vì luôn muốn lấp đầy tâm hồn mình bằng những cái khác nên chẳng bao giờ gặp được một gía trị lâu bền nào chứ đứng nói cho đến giá trị vĩnh cửu. Anh ta trở thành nạn nhân của cái chốc lát, bị chi phối hoàn toàn do ngoại cảnh và do đó luôn cảm thấy trống rỗng. Nét đặt trưng của giai đoạn này này là sự bất khả lặp lại như Héraclite nói : người ta không thể tắm hai lần trong một giòng sông. Người ta cũng ví giai đoạn này của Kierkegaard với nhạc phẩm Don Juan của Mozart, trong đó có điều gì vừa luyến tiếc cái xa xưa, vừa hướng về tương lai; trong phần mở đầu không hề có một hòa âm hay một tiết điệu nào giống nhau cả.
Nẻo đường đó tất nhiên phải dẫn đến tình trạng buồn chán; buồn chán vì không tìm gặp được chính mình trong những thay đổi không ngừng, giống như một người mệt mỏi sau một quãng đường dài mà không tìm được đường về quê nhà. Ông viết :
"Tự nguyên thủy đã có buồn chán. Vì buồn chán, chư thần đã sáng tạo nên con người. Rồi từ Adam, nguyên tổ chúng ta cũng buồn chán vì cô đơn, cho nên bà Eva được tác tạo. Rồi tự đó, cùng với sự phát triển của loài người, buồn chán cũng phát triển và lan tràn khắp thế giới. Adam một mình đã buồn chán. Khi Adam ở với Eva, thì hai mình cùng buồn chán; khi có thêm hai con là Cain và Abel, thì cả gia đình cùng buồn chán; và khi có cả một loài người đông đúc, thì cả lũ người cũng buồn chán"[ Banquet, trích lại trong Trần Thái Đỉnh, Sđd, trang 84.].
Tình trạng này cũng được Kierkegaard viết trong nhật ký của ông như sau :
"Tôi chẳng thiết gì cả. Tôi chẳng thiết leo lên ngựa, cử động ấy quá tàn bạo; tôi chẳng thiết đi, như thế quá mệt; cũng chẳng thiết nằm vì hoặc là tôi phải ngủ, điều mà tôi chẳng muốn; hoặc tôi lại phải lồm cồm thức dậy, điều mà tôi lại càng chẳng thiết đến hơn nữa" (...).
"Tâm hồn tôi như biển chết mà không một con chim nào có thể bay lượn bên trên; thảng hoặc có con liều mình vượt qua thì chỉ được nửa đường đã rũ cánh, đắm chìm vào trong nỗi chết và tan biến thành hư vô"[ "Hoặc Là...Hoặc là...", trích lại trong Gusdorf, Sđd, trang 133.].
Và cuối cùng thì anh chàng Don Juan đó sa vào tuyệt vọng. Tuyệt vọng phát sinh từ chỗ không thể nào vượt qua được chướng ngại, tức không thể nào thỏa mãn được cái khao khát tuyệt đối ở trong những cái tương đối; không thể nào thấy được một giá trị hiện sinh ở trong những cái không thể nào mang lại giá trị cho cuộc hiện sinh của con người. Tuyệt vọng là một sự bế tắc xấm chiếm toàn thể con người.
b. Mỉa mai (ironie), bước nhẩy cần thiết
Tuy nhiên, tình trạng tuyệt vọng có thể vén mở cho người ta tìm gặp lại được chính con người thật của mình. Cho nên, điều càng đáng tuyệt vọng hơn khi người ta không biết mình tuyệt vọng. Con người ấy chẳng khác nào một sự vật ù lì, chết cứng.
Kierkegaard cho thấy khi đến cùng đường trên chặng đường hiếu mỹ, người ta phải làm một bước nhẩy, và cái nhẩy từ giai đoạn hiếu mỹ sang giai đoạn đức lý là sự mỉa mai. Mỉa mai (ironie) ở đây không phải là mỉa mai ai khác, nhưng là tự cảm thấy cuộc đời của mình đáng mỉa mai. Mỉa mai là sự hiện diện ẩn danh của đời sống đức lý trong giai đoạn hiếu mỹ, nghĩa là bước khởi đầu của một đời sống đức lý đã xuất hiện ngay trong giai đoạn hiếu mỹ.
2.2.2. Giai đoạn đức lý (state éthique)
a. Mô tả
Đức lý là giai đoạn con người biết tự chọn lấy cho mình nhân vị của chính mình, đó là con người đã vượt qua lối sống hoàn toàn bị chi phối do bản tính tự nhiên để tự xác định bản thân mình như một cá thể, khác biệt với người khác.
Kierkegaard trình bày giai đoạn này bằng hình ảnh của anh chàng Wilhelm, một viên pháp quan trẻ, vừa lập gia đình và trở thành một người minh chứng cho giá trị của đời sống hôn nhân. Đây là một mẫu người sống có ý thức, có lựa chọn và trung thành với bổn phận của mình, bổn phận của một người cha, một người chồng. Cuộc sống ở giai đoạn này không còn bị xao động vì những biến cố, vì những bóng hồng luôn thay đổi. Người sống đức lý trân trọng phẩm giá của mình, tìm thấy giá trị của cuộc đời mình trong chính cuộc sống đều đặn, bình thường của mình. Ông viết : Anh ta "khoác lấy bộ áo nhiệm vụ mà anh cho là biểu thị cái bản tính thân thiết nhất của anh. Đã định hướng nơi chính mình như thế, anh ta đã đào sâu lãnh vực đức lý và sẽ không bao giờ mòn hơi kiệt lực khi làm hết sức để chu toàn nhiệm vụ. Do đó, con người thực sự sống đời đức lý luôn cảm thấy sự bình an và chắc tâm, bởi vì anh ta không có bổn phận ở bên ngoài anh, nhưng ở ngay trong chính bản thân anh. Nếu đức lý được hiểu đúng đắn, thì nó sẽ làm cho cá nhân cực kỳ chắc tâm về chính mình"[ "Hoặc là...Hoặc là...", trích lại trong Gusdorf, Sđd, trang 135-136.].
Qua việc mô tả giai đoạn này, chúng ta thấy Kierkegaard thật trân trọng đời sống gia đình. Những trang ca tụng đời sống gia đình của ông đáng cho chúng ta nhắc lại ở đây:
"Tình yêu của đôi vợ chồng là tình yêu xây trên cảm giác, nhưng tình yêu này trở nên cao trọng vì lời thề sắt son, hai người sẽ yêu nhau mãi mãi, muôn đời. Chính tính chất vĩnh cửu này phân biệt tình yêu chính thực và sự đam mê nhục dục" (...). Tình yêu là yếu tố cốt tử của cuộc hôn nhân. Nhưng hôn thú và tình yêu, cái nào sinh ra cái nào ?... Hôn thú không phát sinh tình yêu, nhưng giả thiết là đã có tình yêu rồi. Tuy nhiên tình yêu đó không phải là đã qua, nhưng còn mãi mãi ngày nay và sau này. Rồi đời sống gia đạo mang đến cho hai người một yếu tố mới, yếu tố không có trong tình yêu : đó là yếu tố đạo hạnh và tôn giáo. Chính vì thế, đời sống gia đạo xây trên nhẫn nại, còn ái tình thì không biết nhẫn nại là chi".
Rồi ông quả quyết "tôi quyết rằng gia đình là trường dạy cho con người có đức tính"[ Hoặc là...Hoặc là...,Những đoạn này đều trích trong Trần Thái Đỉnh, Sđd, trang 88-89.]. Vì thế, ông trình bày hình ảnh chàng Wilhelm thật dễ mến; anh ta vượt qua được sự "bất khả lập lại" vì tìm được giá trị trong cuộc sống đều đặn bình thường; vượt qua cái khoảng khắc để sống thời gian trường kỳ. Cuộc sống của anh ta là nền tảng cho xã hội.
b/ U mặc (humour), bước nhẩy thứ hai
Tuy nhiên, tác giả không dừng lại ở đây. Giai đoạn đức lý biểu hiện cho một cuộc sống hợp lý, tức một cuộc sống còn nằm trong mức độ hiện sinh của con người. Hơn nữa, đời sống đức lý, khi được xây dựng trên nền tảng đạo đức như thế lại có thể tạo thái độ an tâm, làm cho họ dễ sơ cứng. Tình yêu vợ chồng thật đẹp, nhưng cũng có dễ bị sa đọa thành thói quen, thành tập quán và biến chất để biến thành một sự nghiêm nghị. "Tình yêu chân chính là điều hiếm có; đời sống gia đạo đích thực lại càng họa hiếm hơn". Mặt khác, những đe dọa tự nhiên của cuộc sống, của bệnh tật, của cái chết làm cho cuộc sống hôn nhân nhiều lúc trở thành cái nực cười.
Bởi vì con người, trong bản chất của mình, vốn mang sẵn một sự thiếu thốn, khiếm khuyết căn bản. Cái tuyệt vọng của con người hiếu cảm đã được vượt qua bằng đời sống đức lý; nhưng nguồn cội của nó vấn còn đó, và chính nguồn cội khiếm khuyết này lại biến hình trở thành nỗi lo âu của con người. Lo âu là tình cảm của con người thức tỉnh trước tự do, là tâm trạng của con người đối diện với thiện-ác, tức là tình cảnh của con người trước tội lỗi. Chính tội lỗi làm cho cuộc sống con người không thể an tâm mãi, không thể hợp lý mãi, không thể vượt thoát khỏi thời gian mãi.
Như thế, Kierkegaard lại kết thúc một giai đoạn này bằng một ngõ cụt và mở ra một nẻo đường mới, bằng một bước nhẩy mới: hài hước hay u mặc (humour). Hài hước là sự hiện diện ẩn danh của đời sống tôn giáo ngay trong đời sống đức lý. Hài hước là khi con người sa vào tình trạng "dở khóc dở cười", vì những tình cảnh không thể giải quyết bằng sự hợp lý của đời sống đức lý nữa, không có một giải pháp có sẵn nữa, và khi mà điều thiện lại trở thành như phi luân.
2.2.3. Giai đoạn tôn giáo
Giai đoạn này được Kierkegaard coi là giai đoạn cao cả nhất, vì hiện sinh đích thực phải là hiện sinh trước siêu việt, và đó là hiện sinh như một tội nhân trước Thiên Chúa. Ông coi Socrate là một nhân vật đặc trưng của giai đoạn đức lý; còn Job và nhất là Abraham, cha của những người tin, mới là nhân vật của giai đoạn hiện sinh tôn giáo. Câu truyện Abraham được ông trình bày trong quyển Kinh Hãi và Run Sợ, một tác phẩm, có thể nói, độc đáo nhất của ông.
Kierkegaard rất kín đáo về chặng đường đời tôn giáo, vì đây là khu vực dành riêng cho hạng người ngoại lệ, nên không thể trình bày như một nếp sống chung cho số đông. Dù sao chính trong chặng này mà con người thể hiện viên mãn nếp sống làm người của mình, và nếp sống người kitô hữu : "Dám sống thân phận làm người của chính mình cách triệt để, dám thể hiện một cá nhân, không phải một cá nhân nào cũng được, nhưng là một cá nhân nầy đây : cô lập trước mặt Thiên Chúa, một mình trong sức cố gắng và trách nhiệm vô biên, đó chính là hùng khí kitô hữu".
Sách bắt đầu với những dòng như sau :
"Ngày xưa, có một người khi còn bé được nghe kể rằng Abraham bị Thiên Chúa thử thách, nhưng đã giữ vững lòng tin, nên đã hai lần nhận được đứa con yêu của mình. Khi đứng tuổi, người nọ đọc lại câu truyện và càng lấy làm cảm kích lắm. Dần dần, người đó quên hết mọi sự và chỉ còn một ước nguyện là được xem thấy ông Abraham. Người ấy không mong được xem thấy những miền xa lạ của Đông Phương, cũng không ước ao thấy những kỳ diệu của đất hứa...Thực ra, người ấy không mong được thấy khuôn mặt của tổ phụ Abraham thượng thọ, nhưng người đó chỉ ước ao có mặt trong ba ngày đường, khi cụ Abraham ngồi trên lưng lừa với con cụ là Isaac (...)”.
"Bấy giờ, còn sớn tinh sương, Abraham đã dậy rồi. Ông hôn bà vợ, và bà hôn con Isaac. Rồi trầm ngâm, Abraham nâng con trèo lên lưng lừa.
"Sau một ngày đàng, chiều hôm đó êm ả, cha con vẫn thẳng đường lới núi Morija. Một lúc Abraham sấp mặt xuống đất, ông xin Thiên Chúa tha tội cho ông là cha mà lại giết con. Đường trường, ông lại trầm ngâm. Tuy nhiên ông không thể nghĩ rằng giết con để tế Thiên Chúa là một tội; nếu thế là một tội ác, và nếu quả thực ông không yêu con ông đến nỗi có thể hy sinh tất cả vì con, thì ông không thể hiểu rằng tội đó có thể được tha. Còn tội nào dữ tợn hơn tội đó ? "[ Trích lại trong Trần Thái Đỉnh, Sđd, trang 98-100.].
Trước hết, chúng ta nhận thấy ở đây Kierkegaard cho thấy hành vi của Đức tin không phải là hành vi thuộc lãnh vực lý trí của nhân loại, những yêu sách của đời sống đức lý bị vượt qua; ông nhắc lại câu này nhiều lần : "Đức Tin là một điều nghịch lý vì đặt cá nhân lên trên luật thông thường". Ông so sánh hành vi của Abraham với hành vi của các vị anh hùng như Agamemnon đã hy sinh con gái là Iphigénie để làm nguôi cơn giận của nữ thần Diane; hành vi của Brutus ra lệnh giết những đức con làm phản, để vẫn hồi trật tự cho dân; hành vi của Jephté hy sinh con gái vì lời khấn với Chúa Trời. Tất cả những hành vi này vẫn còn nằm trong phạm vi luân lý, những hy sinh để đạt được một mục đích cao hơn. Hành vi của các người anh hùng thì bi tráng nhưng không vô luân, Ông nói : "người anh hùng bi kịch từ khước cái chắc chắn để đạt tới một cái chắc chắn nhất, và người ta nhìn y tin cậy". Trái lại, hành vi Abraham thì chỉ hoàn toàn là chuyện riêng của ông và Thiên Chúa; hành vi đó là một sự vượt qua luân lý vì không có mệnh lệnh nào có thể cho phép người ta giết con mình; hơn nữa, hành vi đó bao hàm một sự phi lý là: chính trong lúc ông, vì tin Chúa, hiến dâng con mình, ông vẫn không ngừng tin Chúa đã hứa và sẽ thực hiện lời hứa cho Isaac làm người trở nên tổ phụ của một dân tộc. Abraham tin Chúa thực hiện lời hứa của Ngài ngay ở đời này, nên nói được là Abraham "thử thách" Chúa bằng chính niềm tin vào sự phi lý của mệnh lệnh Chúa.
Rồi ta thấy Kierkegaard phân biệt trong hành vi của Abraham hai "chuyển động vô cùng" : vô cùng nhẫn nại, và tin tưởng sẽ vãn hồi được tất cả.
Chuyển động vô cùng nhẫn nại được bộc lộ trong niềm tin vào sự phi lý, được Abraham thể hiện một cách đúng mức, không phải là một sự luyến tiếc, cũng không phải là một sự cương quyết của ý chí, nhưng là một thái độ trầm lặng, thong thả, vì trong tất cả những hành vi đó "cụ không đến quá sớm và cũng không muộn quá. Cụ thắng con lừa và thong thả lên đường. Trong suốt thời gian đi đường, cụ không phút nào không tin tưởng vào Thiên Chúa".
Chuyển động thứ hai là niềm tin vào sự vẫn hồi, ông nói: "Bằng nhẫn nại, tôi từ bỏ tất cả; đó là chuyển động tôi có thể làm được nhờ sức của tôi...Còn khi tin Chúa, tôi không từ bỏ chi hết, trái lại tôi nhận được tất cả. Cho nên nhờ đức Tin, Abraham không từ bỏ Isaac, nhưng đã chiếm lại được Isaac". Chuyển động thứ hai này là sự đối diện trực tiếp với phi lý và chính thái độ tin tưởng trong sự phi lý như thế mới là nét đặc sắc của niềm tin: "Cụ tin vì phi lý, vì điều đó loài người không thể toan tính được; phi lý vì Thiên Chúa đòi hy sinh Isaac, rồi chính Ngài lại trả lại Isaac"[ Trích lại trong Trần Thái Đỉnh, Sđd, trang 101.].
Chính thái độ của niềm tin như thế làm cho Abraham trở nên tổ phụ của những người tin. Thái độ đó là sự chấp nhận đi trong đêm tối của Đức Tin, là sống tâm trạng tuyệt đối cô đơn trước nhan Thiên Chúa, tức là sống "bí mật của thâm tâm" trong chiều hướng "đứng trước nhan Thiên Chúa".
2.3. Quan niệm về tôn giáo
[ Phần này lấy lại nguyên văn trong giáo trình cha Lê Tấn Thành, Sđd.]
Qua mẫu gương của Abraham, chúng ta có thể thấy được phần nào thái độ của Kierkegaard về vấn đề tôn giáo. Ông không thể chịu nổi những quan niệm về tôn giáo như một "kiến thức" duy lý của các nhà thần học, và cũng không chịu được lối sống đạo hình thức của các tín hữu, muốn tìm nơi tôn giáo một sự bảo đảm làm cuộc sống. Đức Tin như thế dễ làm cho người ta trở nên an ổn, dễ dãi. Ông cũng tố cáo các chức sắc trong giáo hội Luther đã quá lệ thuộc vào chính quyền vì được hưởng bổng lộc.
Kierkegaard cho thấy Kitô giáo không phải là một hệ thống giáo thuyết nhưng là một mâu thuẫn hiện sinh. Đức tin là một điều ngoại lý. Chàng hiệp sĩ đức tin cần phải nhìn nhận Kitô giáo như một sứ điệp hiện sinh, có sức làm xáo trộn chính bản thân mình; trong đó tội lỗi và đau khổ vẫn giằng xé, trong đó "trí năng bị đóng đinh". Kitô giáo không cần được biện hộ bằng lý lẽ. Kierkegaard viết: "Người đầu tiên đã bày ra môn hộ giáo, là một tên Giuđa thứ hai... Tôi tuyên bố: người nào bênh vực Kitô giáo là người không có đức tin". Ai tự cho mình đã thấu hiểu đạo, đó là một người khờ dại; vì tôn giáo vượt qua mọi hiểu biết của con người.
Đức Tin không phải là minh chứng cho bằng là sự quy hướng về Thiên Chúa; "Đức tin là một đam mê cao độ nhất mà con người có thể đạt tới". Như thế, vấn đề căn bản cho mọi tín hữu không phải là hiểu biết một lần về giáo lý, nhưng phải mãi mãi trở thành người tín hữu. Sống Đức Tin là sống mối liên hệ chặt chẽ với Thiên Chúa, qui hướng về Thiên Chúa. Mỗi người kitô hữu phải ý thức rằng mình ở vào địa vị những người đồng thời với Đức Kitô và phải lưu ý đến Phúc âm.
Kết
Bà quả phụ Schlegel sau này nói rằng chẳng bao giờ người Pháp có thể hiểu được Kierkegaard. Lý do chính yếu bởi vì Kierkegaard sống và suy nghĩ như một con người tôn giáo, và đó là tôn giáo Tin lành. Chúng ta chỉ có thể hiểu được những tâm tình đặc biệt của Kierkegaard như sự lo âu, dằn vặt của tội lỗi, đau khổ... trên nền tảng giáo lý của Giáo Hội Cải Cách. Người Pháp dễ coi những phê phán Giáo Hội Luther như một lời ủng hộ giáo Hội Công Giáo; nhưng nếu Kierkegaard ở trong Giáo Hội Công Giáo, có lẽ lời phê phán của ông không "nhẹ" như vậy.
Mặt khác, người ta cũng không thể coi Kierkegaard như một "triết gia thuần túy" theo nghĩa một con người suy tư và chỉ suy tư. Kierkegaard sống niềm Tin của mình và mong ước xây dựng một mẫu người tín hữu chứ không phải chỉ xây dựng một mẫu nhân bản thuần túy. Chúng ta cũng có thể coi suy tư và cuộc đời của ông như một gợi ý cho một số vấn đề của niềm Tin Công Giáo hay Kitô giáo nói chung.
1/ Kierkegaard cho thấy Kitô giáo bị bóp méo khi biến thành một hệ thống lý thuyết. Kitô giáo đích thực không phải là một giáo thuyết mà là một Tin Mừng, nghĩa là một sứ điệp nhằm đến Ơn Cứu Độ, một sứ điệp hiện sinh. Sứ điệp Kitô giáo bao gồm một sức sống; và một khi chưa sống sự sống "siêu nhiên" từ ơn cứu độ nơi Đức Giêsu, cách này hay cách khác, thì người ta chưa là Kitô hữu.
Hệ thống đạo lý Kitô giáo vốn rất hùng mạnh về lý lẽ và người ta thường viện vào nhiều lý lẽ để chứng minh cho niềm Tin. Kierkegaard thì lại nói rằng "người đầu tiên đã bày ra môn hộ giáo là một tên Giuđa thứ hai... Tôi tuyên bố bằng người nào bênh vực Kitô giáo là một người không có Đức Tin". Tuy không được lầm lẫn với thái độ duy tín, nhưng "sứ điệp của Kierkegaard" cũng nhắc nhở chúng ta về tính cách mầu nhiệm của Đức Tin. Mối tương quan giữa Đức Tin và lý trí không phải là đã được giải quyết xong một lần với công thức của Anselme "Đức Tin tìm kiếm hiểu biết"; nhưng vẫn luôn là thách đố cho mỗi người Kitô hữu, cho cách thức sống đạo và cách loan báo Tin Mừng.
Cần tìm hiểu niềm Tin của mình, nhưng hoàn toàn không thể thay thế niềm Tin bằng việc tìm hiểu đó, bằng những bài học giáo lý hay thần học. Hai điều đó hoàn toàn khác nhau. Để sống niềm tin, cần phải tin, nghĩa là cần một bước nhẩy của một sự dấn thân cách tự do vào trong bầu trời của mối tương quan hiện sinh với Thiên Chúa. Tiếc thay, sự hiểu lầm đó không phải là có, và không phải là không phổ biến trong Giáo hội Công Giáo hiện nay.
2/ Khi Kierkegaard phân tích thái độ tin tưởng của Abraham, chúng ta nhận ra "vấn đề" sống đạo của phần lớn Kitô hữu hiện nay : một cuộc sống hoặc không có, hoặc có rất ít chiều kích tâm linh. Niềm Tin bị giản lược vào những tín điều và Tin Mừng luôn được giải thích theo chiều hướng "luân lý". Những điều đó làm cho đạo Kitô giáo trở thành như một chủ thuyết nhân bản thuần túy, đời sống đạo trở thành một sự loay hoay bằng nỗ lực con người nhiều hơn là một thái độ tin tưởng, phó thác. Rốt cùng, lý tưởng đạo đức dễ trở thành như một "đặc quyền" của một giới ưu tuyển, có bản lãnh, có giáo dục... Kierkegaard nhắc lại nhiều lần: mỗi người Kitô hữu phải ý thức mình ở vào địa vị người đồng thời với Đức Kitô.
3/ Cuối cùng, với những giai đoạn hiện sinh, Kierkegaard cho chúng ta thấy vai trò của đời sống tâm linh, tức hiện sinh trước siêu việt, trong đời sống tôn giáo. Kierkegaard làm sáng ra điều này : suy tư triết lý không thể tách rời khởi nền tảng duy nhất của một con người có niềm Tin. Người ta không thể cho niềm Tin vào trong ngoặc để tự do suy tư. Sống niềm tin đích thực, đó cũng là một sự can đảm chấp nhận những đòi hỏi của niềm Tin trong mọi chiều kích của cuộc sống, cả chiều kích suy tư cũng như chiều kích thực hành.
Hơn nữa, điều đó cho thấy đời sống tâm linh hay "hiện sinh trước siêu việt"
Chú thích:
12 Như trên, trang 47.
13 Trích lại trong Lê Tôn nghiêm, Những vấn đề triết học hiện đại, Ra Khơi, 1971, trang137.
14 Journal d' un séducteur, trích lại trong Trần Thái Đỉnh, Sđd, trang 102
15 Như trên, trang 83.
16 Banquet, trích lại trong Trần Thái Đỉnh, Sđd, trang 84.
17 "Hoặc Là...Hoặc là...", trích lại trong Gusdorf, Sđd, trang 133.
18 "Hoặc là...Hoặc là...", trích lại trong Gusdorf, Sđd, trang 135-136.
19 Hoặc là...Hoặc là...,Những đoạn này đều trích trong Trần Thái Đỉnh, Sđd, trang 88-89.
20 Trích lại trong Trần Thái Đỉnh, Sđd, trang 98-100.
21 Trích lại trong Trần Thái Đỉnh, Sđd, trang 101.
22 Phần này lấy lại nguyên văn trong giáo trình cha Lê Tấn Thành, Sđd.