BÀI 5: HENRI BERGSON (1859-1941)
Henri Bergson sinh ngày 18-10-1859 tại Paris trong một gia đình Do Thái. Ông là một học sinh xuất sắc của trường trung học Condorcet, đặc biệt trong lãnh vực tiếng Pháp và toán. Thời đại đó, người ta đã có chủ trương khuyến khích những học sinh giỏi hướng về khoa học, nhưng Bergson từ chối việc vào đại học Bách Khoa. Ông hướng về văn chương và triết học và theo học ở trường Cao Đẳng Sư Phạm vào năm 1878, cùng khóa với giám mục Badrillart, Jaurès và Blondel.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Sách tham khảo riêng
* Dựa theo Vergez et Huisman, sđd.
Đối chiếu và bổ túc thêm với :
1. Jeanne Anchelet-Hustache, Gặp Chúa Trong Cuộc Đời III, Ronéo.
2. Lê Chí thiệp,Triết Học Bergson, Khai Trí, Sài Gòn, in lần 2,1960.
3. André Cresson, Bergson, sa vie et son oeuvre, Coll. Philosophes, Presses universitaires de France, 1958.
1. Tiểu sử và tác phẩm
Henri Bergson sinh ngày 18-10-1859 tại Paris trong một gia đình Do Thái. Ông là một học sinh xuất sắc của trường trung học Condorcet, đặc biệt trong lãnh vực tiếng Pháp và toán. Thời đại đó, người ta đã có chủ trương khuyến khích những học sinh giỏi hướng về khoa học, nhưng Bergson từ chối việc vào đại học Bách Khoa. Ông hướng về văn chương và triết học và theo học ở trường Cao Đẳng Sư Phạm vào năm 1878, cùng khóa với giám mục Badrillart, Jaurès và Blondel.
Đậu thạc sĩ triết học năm 1881, ông dạy học tại trường Trung Học Angers (1881-1883) rồi tại Clermont-Ferrand (1883-1888). Năm 1889, ông trình luận án "Les Données immédiates de la conscience" (những dữ kiện trực tiếp của ý thức) và đạt được thành quả xuất sắc. Năm 1897, Bergson xuất bản quyển Matière et Mémoire và trở nên nổi tiếng. Ông được đặt làm giáo sư thỉnh giảng tại trường Ecole Normal Supérieure; rồi năm 1900, làm giáo sư tại Collège de France. Tại đây, ông tạo được một tầm ảnh hưởng lớn. Người ta kéo đến tham dự các giảng khóa của ông rất đông, xe cộ của các giới thượng lưu, chức quyền tấp nập; người ta phải thuê người giữ chỗ trước để dự giờ của ông. Bergson diễn tả tư tưởng của một bằng một ngôn ngữ chính xác, đơn giản...
Năm 1901, ông được gia nhập Académie des Sciences morales; và năm, 1918, ông được gia nhập việc Hàm Lâm Pháp. Năm 1928, ông được giải Nobel về văn chương.
Có nhiều lời đồn đãi cho rằng Bergson trở lại đạo công giáo. Nhưng bà Bergson cải chính tin này. Một đoạn trong di chúc của ông, viết ngày 8-2-1937, như sau :
"Các suy tư của tôi ngày càng đưa tôi đến gần đạo Công Giáo, và tôi thấy đạo này là sự hoàn tất trọn vẹn của đạo Do Thái. Hẳn là tôi đã trở lại, nếu như tôi không thấy từ nhiều năm nay (than ôi ! phần lớn do lỗi của một số người Do Thái hoàn toàn không có cảm thức luân lý) một cơn sóng bài Do Thái đang được chuẩn bị cho đổ ập xuống trên thế giới. Tôi muốn ở lại giữa những những con người mà ngày mai sẽ là những kẻ bị bách hại. Nhưng tôi ước mong được một linh mục công giáo, nếu Đức Hồng y Tổng Giám Mục Paris cho phép, đến cầu nguyện bên linh cữu của tôi. Trong trường hợp không được phép này, thì phải ngỏ lời với một thầy kinh sư, nhưng không được giấu vị này, cũng không được giấu bất cứ ai, là lòng tôi đã gắn bó với đạo Công Giáo, cũng như tôi đã muốn trước tiên được một linh mục công giáo đến đọc kinh cho"[ Trích lại trong "Gặp Gỡ Chúa Trong Cuộc Đời 3", Sđd, trang 33-34.].
Và thực sự đã có một linh mục công giáo đến đọc các lời kinh của Giáo Hội trên quan tài của Bergson.
Tác phẩm của Bergson gồm có :
- Essai sur les données immédiates de la conscience, 1889.
- Matière et Mémoire ,1897.
- Le Rire, 1900.
- L' Évolution créatrice, 1907.
- L 'Énergie spirituelle, 1919.
- Durée et simultanéité, 1922.
- Les deux sources de la morale et de la religion, 1932.
- La pensée et le mouvant, 1934.
2. Học thuyết
2.1. Trực giác căn bản của Bergson
Trong một bài báo nổi tiếng viết về "trực giác triết lý", Bergson đã nói rằng tất cả mọi triết gia đích thực đều cố gắng diễn tả một trực giác nền tảng và duy nhất, đó là "một cái gì đơn giản, vô cùng đơn giản, và đơn giản lạ lùng..." mà ông ta không thể nào có thể diễn tả trọn vẹn được. Trực giác này, trước tiên, tỏ hiện như một sự phê bình tất cả những tư tưởng mà ông chối từ; nhưng ông lại rất khó khăn để diễn tả nó về mặt tích cực.
Thế thì trực giác căn bản đó nơi Bergson là gì?
Trực giác căn bản đó đến với Bergson vào khoảng giữa những năm 1881 và 1883, khi đó Bergson đang làm giáo sư tại trường cao đẳng Angers. Ông chịu ảnh hưởng thuyết tiến hóa duy cơ của Spencer và muốn viết khảo luận triết lý về đề tài này. Trước tiên, ông nghĩ tới ý niệm thời gian; và chính khi đó, ông khám phá ra điều chính yếu của học thuyết sau này manh danh của ông. Đó là sự phân biệt căn bản giữa không gian và thời gian tồn tục (la durée)[ Đây là một khái niệm chính yếu trong triết học của Bergson. "La durée" là thời gian nội tại trong tâm hồn, nó vừa thay đổi nhưng vừa tồn tại như một giòng sông. Lê Chí Thiệp, Sđd, dịch là "bền đổi".].
Điều mà khoa học gọi là thời gian không phải là thời gian thực sự; nó chỉ là không gian khách quan bên ngoài chứ không phải là thời gian tồn tục cụ thể và sống động. Các nhà bác học luôn muốn đo đếm thời gian theo khuôn khổ của không gian; chẳng hạn khi ta nói : bây giờ là 6g30', ta đang nói về sự phân chia các phần trong vòng tròn di chuyển của kim đồng hồ. Những khoảng cách đồng nhất của thời gian như thế, là thứ thời gian của nhà vật lý, được tính toán dựa trên không gian; nó không phải là thời gian tồn tục của tâm lý như được cảm nhận trong ý thức của tôi. Một giờ của đồng hồ có thể là một thời gian bất tận đối với tôi, nếu tôi đang dự một buổi diễn thuyết nhàm chán.
Các khoa học về vật chất là những khoa học về không gian và trí khôn là khả năng tuyệt vời để hiểu biết về không gian. Ngược lại, trí khôn lại không thể hiểu được điều căn bản của sự sống, đó là thời gian tồn tục. Tại sao, tự căn bản, trí khôn lại chịu bất lực như vậy ? Bởi vì trí khôn trước tiên và đã từ lâu lao đầu vào việc tác động trên thế giới bên ngoài, trên thiên nhiên, trên trương độ; và con người luôn bị thúc đẩy phải hành động như những "nhà kỹ thuật" về vật chất, những homo faber. Trí khôn, trong cuộc làm ăn lâu dài với vật chất, đã chấp nhận những thói quen ăn rễ quá sâu : thói quen giải thích bằng cách phân chia, bằng cách phân tích, bằng cách đo đếm. Đo đếm là một cách thức hiểu biết gắn liền với sự phân tích về trương độ; bởi vì đo đếm là mang một đơn vị chiều dài ướm lên một chiều dài nào đó; sự đo đếm như thế là hành vi chính yếu của các khoa học về vật chất. Bergson phê bình một cách mạnh mẽ tinh thần duy khoa học, do việc khoa học mang ảo tưởng có thể hiểu về thời gian tồn tục bằng cách giản lược thời gian tồn tục vào và không gian. Tuy thế, ông không chối bỏ khoa học; ông cho rằng khoa học, trong lãnh vực của nó, đặc biệt là trong lãnh vực vật chất, có thể đạt tới chân lý tuyệt đối : "khoa học là một siêu hình học đích thực về vật chất".
Trí khôn, với thói quen phân tích, không thể hiểu được "chuyển động không bị phân chia" của sự sống, đặc biệt là đời sống nội tâm, một thực tại cụ thể, trôi chẩy và liên tục. Theo Bergson, để hiểu cái chuyển động ("le mouvant"), sự sống, thời gian tồn tục, phải cần tới trực giác. Đây cũng là một khái niệm đặc biệt của Bergson. Trực giác là một hình thức “thiện cảm”, nhờ đó người ta đạt đến bên trong một đối tượng để gặp gỡ, để đồng nhất với chính điều nó là, một cách duy nhất và không thể diễn đạt. Trong khi mà trí khôn có thể hiểu biết tuyệt đối về không gian, trực giác lại khám phá ra tuyệt đối của thời gian tồn tục.
Như thế, ta cần phân biệt giữa khoa học của trí khôn và triết lý của trực giác, một bên là nghiên cứu không gian, một bên là nghiên cứu thời gian tồn tục. Khoa học chuyển hóa tất cả những dữ kiện cảm giác thành nhưng đối tượng đo đếm được trong không gian. Khoa học giải thích chuyển động khởi từ cái bất động, nó diễn tả "mưu chước" của trí khôn nhằm nắm bắt thiên nhiên, nó tăng khả năng của chúng ta trên thế giới. Triết học, là trực giác về thời gian tồn tục, lại tỏ bày cho chúng ta về hữu thể trong chân lý của nó, dưới khía cạnh tồn tục, và làm cho chúng ta gặp gỡ hữu thể với sự trôi chảy, sự liên tục không thể phân chia của tất cả những gì tồn tục và sống động.
Tóm lại, trong khi mà nhà bác học, theo từ ngữ của Bacon, "vâng phục để điểu khiển"; thì triết gia lại ít mong đạt được sự thống trị thiên nhiên hơn là có cảm tình với nó. Tri thức triết học của Bergson, như thế, cũng là điều mà P. Claudel gọi là một co-naissance, một sự cùng sinh ra, một sự gặp gỡ với hữu thể sâu xa, là thời gian tồn tục sống động. Khoa học nhằm phục vụ sự tiện nghi và mang lại sự sung sướng. Triết học đưa chúng ta tới nơi chính trọng tâm của hữu thể và mang lại cho chúng ta niềm vui.
Dựa trên trực giác căn bản của Bergson như thế, người ta có thể nói rằng tất cả công trình của ông, trong nhiều lãnh vực khác nhau, chỉ nhằm phê bình thói quen lẫn lộn giữa không gian và thời gian tồn tục. Công trình của ông cũng là lời phản kháng chống lại chủ nghĩa duy khoa học, chống lại một thứ duy trí (intellectualisme) làm sai lạc các vấn đề khi nói về thời gian tồn tục như nói về không gian.
2.2. "Những dữ kiện tức thời của ý thức" (vấn đề tự do)
Khi tiểu luận "Những dữ kiện tức thời của ý thức" của Bergson được phổ biến, nó nổ ra như một cuộc cách mạng và gây nên một chướng kỳ trong giới trí thức thời ấy.
Kể từ Zénon d' Élée, các triết gia vẫn nhầm lẫn giữa chuyển động và không gian nâng đỡ chuyển động; nói cách khác, người ta không nhận ra cái nội hàm của chuyển động mà lại giản lược chuyển động vào ngoại trương của không gian. Cái "nội hàm" của chuyển động đó là một phẩm chất chứ không phải là trương độ; trong khi mà khoa học chỉ có thể phân tích chuyển động và rút ra những kết luận của mình từ trương độ mà thôi.
Nhìn vào trong nội tâm sinh hoạt, ta thấy ý thức của mình lại nắm được chuyển động từ bên trong, từ phẩm chất của nó. Ý thức nắm được chuyển động trong cái thời gian tồn tục riêng, là một chuỗi những thay đổi về phẩm chất hòa lẫn vào nhau, không có chu vi rõ rệt, không có liên hệ gì tới những con số, giống như những giây phút riêng biệt nghiêng mình lên nhau của một cung nhạc. Nói cách khác, nội tâm sinh hoạt của con người là một cái gì luôn biến đổi mà ta không thể giản lược bằng những nhận định từ cái nhìn bên ngoài. Nhìn một người khác qua những phản ứng vui, buồn, giận... ta chỉ có một cái biết thô thiển về tha nhân mà thôi. Tâm trạng là một dòng ý thức trôi chẩy, vừa bảo tồn những gì đã qua, vừa biến đổi luôn luôn theo những diễn biến của cuộc sống; nó là một bản ngã vững bền nhưng luôn trào vọt và không ai có thể đoán trước được khi nào, điều gì sẽ thành hình. Các dữ kiện của ý thức xuất hiện ra như một dòng sông trôi chảy liên tục, chứ không phải như một chuỗi những yếu tố, được lắp thêm vào cho những nguyên nhân và hiệu quả mà ta có thể đo lường được.
Chủ nghĩa tất định chỉ nhìn hành vi của chúng ta như là kết quả của những dồn nén tâm lý; còn lý thuyết "tự do lựa chọn" (libre arbitre) lại giả thuyết sự lựa chọn của chúng ta vượt trên mọi lý do, là khả năng lựa chọn trong số những khả thể; tất cả những lý thuyết như thế đã đặt sai vấn đề, vì đã đưa không gian vào trong lãnh vực tâm lý. Hành vi tự do được trình bày như thế giống như một sự vật trong không gian, được phân tích một cách hoàn toàn tự nhiên, xuất hiện như hiệu quả của nhiều yếu tố. Trong tất cả những điều đó, người ta giả thuyết một quyết định đã có, một con đường đã được vẽ ra, một hành vi đã hoàn thành.
Ngược lại, tự do đích thực không phải là một lựa chọn giữa những khả thể được đưa ra trước; nó là một khám phá, một sáng tạo. Ta phải tìm tự do trong một tính chất của chính hành động chứ không phải trong mối tương quan của hành động với những gì không phải là nó hay với điều nó không thể là. Thay vì quan sát một hành động từ bên ngoài, như là những điều mà một người nào đó đã hành xử, trong không gian, rồi so sánh nó với những hành động khả hữu khác, ta cần phải nhờ trực giác mà cố gắng, để hiểu, để gặp được cái tôi tồn tục, cái tôi chín mùi trong quyết định của mình. Để hiểu được tự do là gì, có lẽ chúng ta nên nghĩ tới mối tương quan giữa nghệ sĩ và những tác phẩm nghệ thuật của ông. hơn là nhìn vào lãnh vực luân lý. Mối tương quan giữa cái tôi và hành động tự do tỏ hiện dưới một hình thức đặc biệt trong trương hợp này; chúng ta nhận ta ngay một Cézanne hay một Van Gogh mà không cần nhìn chữ ký của ông. Hành vi tự do giống với cái tôi sáng tạo, cũng như tác phẩm nghệ thuật giống với nghệ sĩ. Dĩ nhiên, tác phẩm không phải là sự diễn dịch từ cái tôi; nhưng nó là một sự mới mẻ không thể dự đoán, trào vọt ra từ cái tôi sáng tạo.
Do đó, Bergson đã đánh đổ các lý thuyết chỉ thấy tự do bên trong là cuộc xoay vần của những lực lượng đối kháng; điều đó loại trừ mọi ý tưởng về ý chí tự do. Hành vi tự do trào vọt ra từ chuyển động bộc phát và mang sức thống nhất của ý thức.
"Quả vậy, chính là từ linh hồn trọn vẹn mà toát ra quyết định tự do; và hành vi sẽ càng tự do nếu cái chuỗi năng động, mà nó gắn bó với, càng hướng đến chỗ nên một với cái tôi cơ bản"[ Trích lại trong "Gặp Gỡ Chúa trong Cuộc Đời 3", trang 13.].
2.3. Vật chất và Ký ức
Cũng do một sự nhầm lẫn giữa thời gian tồn tục “linh thiêng” với không gian vật chất mà người ta đưa ra những giải thích duy vật về trí nhớ, theo kiểu những đường rãnh in trên bộ óc. Người ta coi bộ óc như một bình chứa cái hoài niệm. Bergson cho thấy "trong bộ óc không có, không thể có một vùng trong đó các hồi niệm được làm cho đông cứng và kết tụ lại. Người ta cho rằng các chấn thương óc não phá hủy các hồi niệm, nhưng thực ra chỉ làm đứt đoạn sự tiến triển liên tục nhờ đó hồi niệm được hiện tại hóa". Cả hồi niệm thuần túy, cả tri thức thuần túy và những hoạt động trí thức cao cấp đều không được hàm chứa trong thân xác.
Thật ra, điều mà người ta có thể giải thích được bằng bộ óc, đó là thói quen. Chẳng hạn tôi đọc một bài thơ thật đúng, bởi vì bài thơ đó được lập đi lập lại đã gắn chặt vào nhau nhờ những từ được đọc ra, ăn khớp với những chuyển động giây thần kinh. Nhưng nếu tôi nhớ rằng tôi đã đọc lần đầu tiên bài thơ này ở cuối vườn, trên một chiếc băng cũ kỷ, thì đây không phải là việc của bộ óc. Chính tinh thần đã nhớ lại, đó là một ký ức thuần túy, ký ức sống và tồn tục.
Như thế, bộ óc không giải thích được trí nhớ, nó chỉ giải thích lớp vỏ bên ngoài của sự quên, về sự quên bình thường, bởi vì bộ óc chắt lọc những hoài niệm, chỉ để cho lọt vào trong ý thức những hoài niệm hữu ích cho hành động hiện tại, đó là một sự quên bịnh lý. Những biến động của thần kinh không thể loại bỏ hoài niệm, những chỉ ngăn cản kêu gọi hoài niệm. Bergson nghĩ rằng trong giấc mơ ban đêm, khi chúng ta trở nên "dửng dưng" đối với hành động và với hiện tại, tất cả những kỷ niệm mà chúng ta cho là đã quên lại trở lại trong sự lộn xộn của ý thức. Bộ óc, như thế, chỉ giải thích được sự hiện thực hóa hoài niệm, và sự thất bại trong việc hiện thực này; còn hoài niệm, xét là là hoài niệm, thì độc lập với mảng không gian của bộ óc, nó thuộc về thời gian tồn tục, là tinh thần của tôi.
Đoạn văn nổi tiếng của Bergson về vấn đề này như sau :
"Một cái áo thì liên đới với các đinh mà nó được mắc vào; cái áo rơi nếu người ta nhổ đinh đi; nó đung đưa nếu cái đinh lung lay; nó bị thủng, bị rách nếu đầu đinh quá nhọn; đâu có phải do đó mà mỗi chi tiết của cái đinh tương hợp với một chi tiết của cái áo, hoặc cái đinh tương đương với cái áo đâu; lại càng không phải do đó mà cái đinh và chiếc áo chỉ là một. Cũng thế, đúng là ý thức được mắc vào một bộ óc đấy, nhưng không hề do đó mà được kết luận rằng bộ óc vẽ ra tất cả chi tiết của ý thức. Tất cả những gì mà sự quan sát, kinh nghiêm và do đó, khoa học cho phép chúng ta khẳng định, đó là có một quan hệ nào đó giữa bộ óc và ý thức"[ Như trên, trang 15].
Vậy đời sống tinh thần không phải là hiệu quả của đời sống thân xác. Trái lại, mọi sự xẩy ra y như thể thân xác được tinh thần sử dụng. "Sự tồn tại của linh hồn là điều quá thực đến nỗi chỉ ai phủ nhận mới cần có bằng cứ, chứ không phải là người khẳng định".
2.4. Tiến hóa sáng tạo
Đầu đề này có vẻ là một thách thức với giới trí thức. Đa số các nhà tiến hóa luận chối từ sáng tạo. Họ cố gắng giản lược những hình thức phức tạp nhất của sự sống vào những hình thức đơn giản nhất; và cuối cùng là giản lược sự sống vào vật chất. Đối với Darwin chẳng hạn, chính môi trường đã lựa chọn một cách máy móc các hữu thể sống. Những người phản đối lại Darwin thì đưa ra một thứ tiến hoá hướng đích, vì làm sao giải thích được việc hình thành một cơ quan như mắt, vốn giả thíết đồng thời phải có những yếu tố của mắt và những yếu tố thần kinh, trung khu thị giác....
Tuy thế, Bergson loại bỏ thuyết chủ đích luận cổ điển cũng như cơ giới luận. Bởi vì tưởng tượng rằng việc tiến hóa diễn ra theo một chương trình vạch từ trước, đó là trở về với ý tưởng của cái khả thể.
Thực ra, theo Bergson, thiên nhiên ở trong tình trạng chuyển biến thường hằng; thiên nhiên hướng về sự sống và sự hiểu biết bằng một hoạt động liên tục mà ông gọi là "đà sống" (élan vital). Tiến hóa chỉ diễn ra bởi vì "đà sống” là một đà sáng tạo, làm nẩy sinh nhưng hình thức sống càng ngày càng phức tạp hơn, mà mỗi hình thức đều xuất hiện như một "mới mẻ không thể dự đoán trước", như một giải pháp độc đáo cho một vấn đề được đặt ra để sống còn. Lý thuyết tiến hóa sáng tạo đặt mình trong một tư thế khác với tiến hóa duy vật. Đối với thuyết tiến hóa duy vật, tinh thần chỉ là vật chất tiến hóa, phức tạp hóa. Với Bergson, đúng hơn vật chất có nguồn gốc xa xăm là tinh thần. Trương độ của vật chất chỉ như là một mê muội đắm chìm của đà sống. Trương độ là một sự suy giảm, là thời gian tồn tục đã chết, là thời gian tồn tục mà đà sống đã bị cứng đọng. Vật chất, đó là một sản phẩm đã mất chất sống của đà sống, đó là tinh thần đã tắt.
Trong Tiến hóa sáng tạo, người ta tìm thấy một lý thuyết độc đáo về bản năng và về trí hiểu. Đối với Bergson, quĩ đạo của thiên nhiên không phải chỉ có một : nó đưa tới bản năng nơi con vật và đưa tới trí hiểu nơi con người. Trí hiểu không phải là một sự hoàn hảo của bản năng; nhưng bản năng và trí hiểu đại diện cho hai dụng cụ rất khác nhau của đà sống. Hai giải pháp cùng đẹp như nhau, nhưng đi về hai hướng khác nhau đối với vấn đề thích ứng sinh vật. Trong trường hợp bản năng, đà sống mang lại cho con vật những dụng cụ đã hoàn thành với sự thích ứng bẩm sinh để sử dụng nó. Trong trường hợp trí hiểu, đà sống mang lại cho sinh vật một phương tiện có thể tự chế tạo những dụng cụ cần thiết để sống còn. Trí hiểu là một phương tiện sử dụng các sự vật nhờ các mưu mẹo kỹ thuật hơn là một sự hiểu biết sâu xa và thâm thiết. Trí hiểu là một mưu mẹo của đà sống, là một quan năng thực hành. Do đó, tinh thần cần có được một năng khiếu bộc phát từ chính nguyên khởi của mình, đó là trực giác. Chỉ có trực giác mới có thể nối kết được thiên khiếu bẩm sinh của bản năng với sự sáng suốt của trí hiểu. Chỉ mình con người, với trực giác, mới có khả năng gỡ mình ra khỏi vật chất để tiến tới tinh thần và tự do.
Như thế, đầu đề "tiến hóa sáng tạo" của cuốn sách không có nghĩa là một "một tiến hóa có sức sáng tạo", nhưng là "một tiến hóa trong đó có sự sáng tạo", theo đó đà sống là một lưu xuất (émanation) tự do, là một tiến hóa không ngừng đưa ra những cái mới, chứ không phải theo kiểu giản đơn của các triết gia theo thuyết tất định.
Năm 1912, trong lá thư gởi cho De Tonquédec, ông nói :
"Trình bày công cuộc tạo dựng như một sự kiện : từ tất cả những điều đó, toát ra rõ ràng ý tưởng về một vị Thiên Chúa tạo hóa và tự do, một trật sản sinh ra vật chất và sự sống, và nỗ lực sáng tạo của Người, về phía sự sống, vẫn đang được tiếp tục, nhờ sự tiến hóa của các giống loại, và việc tạo thành các nhân vị con người. Nên từ tất cả những điều đó, cũng toát ra việc phi bác thuyết nhất nguyên và thuyết phiếm thần nói chung. Nhưng để xác định hơn nữa và nói thêm nữa về các kết luận này, cần phải để cập đến những vấn để thuộc một loại khác hẳn, đó là các vấn đề luân lý".
2.5. Hai nguồn mạch của luân lý và tôn giáo
Ở đây, chúng ta cũng lại nhận thấy sự hiện diện của trực giác nền tảng mang tính cách Bergson. Cũng như không gian, là một sức căng bị suy giảm, là thời gian tồn tục bị cô đọng, bị vật chất hoá, thì cũng vậy, có một hình thức thấp của luân lý, luân lý đóng, và một hình thức thấp kém của tôn giáo, đó là tôn giáo tĩnh; cả hai là hệ quả của việc luật pháp hóa và, một cách nào đó, làm lạnh lùng, cứng đọng đà sống. Luân lý đóng, đó là một tổng số các qui luật, một tổng số các thói quen nhờ đó, xã hội bảo đảm được sự tồn tại của mình; đây là một thứ luân lý hình thức, một luật lệ để bảo đảm sự sống còn hằng ngày và trật tự của một dân tộc. Cũng vậy, tôn giáo tĩnh, cùng với những tín điều, những nghi thức, những định chế, những niềm tin, là dụng cụ nhằm một sự thích ứng sinh vật. Những niềm tin như sự tồn tại của linh hồn, sự quan phòng, phần thưởng và hình phạt ở thế giới bên kia có nhiệm vụ bảo vệ con người chống lại nguy cơ thất vọng, sự sợ hãi thất bại và khuynh hướng ích kỷ.
Nhưng nếu luân lý đóng và tôn giáo tĩnh chỉ là những "thứ phẩm" của đà sống, thì còn có một nền luân lý mở, một tôn giáo năng động mà ta phải giải thích như là sự nắm bắt cách trực giác của đà sống, "một tiếp cận với nỗ lực sáng tạo”, nó cắt đứt với thói quen của tập thể và trong sự xúc động sáng tạo, nó sáng chế ra những giá trị mới, là hoa trái của tình yêu không biên giới. Trong khi mà luân lý đóng hoạt động nhờ sự bắt buộc, nhờ sức ép, thì luân lý mở hoạt động nhờ sự lôi cuốn, một sự hấp dẫn làm thức tỉnh tất cả những tâm hồn đại lượng bị đang đe dọa bị nuốt trôi trong thói nệ hình thức của những qui luật đã được thiết định. Tôn giáo năng động là tôn giáo tỏ bày nơi các nhà thần bí lớn, trước hết là Đức Giêsu Kitô và rồi nơi các thánh. Những nhân vật này gặp đựợc một trực giác riêng biệt nơi chính đà sống, với "sức mạnh sáng tạo" của Thiên Chúa, nếu như đó không phải là chính Thiên Chúa. Như thế, thần bí là sự hiệp thông sâu xa với đà sống trong chiều sâu xa nhất, đó là Tình Yêu.
Kết
Học thuyết Bergson có tính cách độc đáo riêng biệt; và hơn thế nữa, học thuyết đó đã phá tan được bầu không khí của tất định thuyết cuối thế kỷ XIX, và mang lại một sự giải thoát cho nhiều tâm trí còn nhậy bén với những vấn đề con người trong mức độ "nhân linh ư vạn vật".
Tác giả Jeanne Ancelet-Hustache, trong cuốn Gặp Gỡ Chúa Trong Cuộc Đời 3, đã viết về một trường hợp điển hình như sau :
"Đã thất vọng vì không tìm được một giải pháp cho vấn đề cuộc hiện sinh, nên khi được Péguy hướng dẫn đến các giảng khóa triết học của Henri Bergson, Jacques và Raissa Maritain có cảm tưởng là người ta vừa đưa họ trở vì từ cõi chết. Khi viết lại các kỷ niệm của mình, Raissa cho cuộc gặp gỡ này là do "lòng từ bi của Thiên Chúa", bởi vì đó là cuộc gặp gỡ có tính quyết định đưa đến cuộc hoán cải của họ sau này".
Người ta có thể nói rằng tính cách độc đáo sáng tạo của Bergson bằng nhưng từ ngữ của chính Bergson : sự độc đáo mà không loại trừ những nguồn mạch khác : trước tiên, truyền thống duy linh của Pháp Quốc, của Lachelier (Luận án "Dữ kiện trực tiếp" được đề tặng cho Lachelier) của Ravaisson là người đã chứng minh làm sao một tinh thần lại ngủ vùi trong vật chất; sau đó là triết học Mỹ, được gọi là thực dụng thuyết, do Pierce (1878) đề ra, được triển khai nhờ James (1840-1910) là người đưa ra một lý thuyết lợi ích của lý trí (ý tưởng thực, đó là ý tưởng hữu ích) mà người ta nhận ra trong tư tưởng Bergson khi ông coi lý trí như một phương tiện hoạt động hơn là một sự hiểu biết đích thực (mà người ta cũng tìm thấy nơi những đồ đệ lớn của Bergson như Édouard Le Roy, khi ông nói rằng những dữ kiện được làm, nghĩa là được cấu tạo nhờ lý trí khoa học, khi ông nói rằng những phán đoán khoa học tìm hiệu năng hơn là tìm chân lý).
Nhưng cũng như người ta không thể giản lược những hình thức tiến hóa cao nhất vào sự tổng hợp của các hình thức đi trước, thì một triết học lớn cũng vượt qua những yếu tố đi trước mà nó sử dụng trong một mẫn cảm của trực giáo nguyên thủy. Thế mà trực giác nền tảng của Bergson, điều mà ông coi như "trung tâm của học thuyết", đó là trực giác về thời gian tồn tục. Tinh thần đó, thực tại huyền nhiệm đó, là “khả năng rút ra nơi mình nhiều hơn điều mình hàm chứa", điều đó trước hết là thời gian tồn tục sáng tạo, là canh tân vĩnh cửu, là tự do trào vọt.