BÀI 6: MAURICE BLONDEL (1861-1949) [ Dựa theo Vergez và Huisman, Sđd, trang 415-417.]
Blondel khởi đầu bằng việc phân tích về hành động của con người trong hoàn cảnh của cuộc sống cụ thể; sự phân tích ấy đưa tới một đòi hỏi nội tại trong bản chất người hướng về đời sống tôn giáo và thế giới siêu nhiên; đời sống tôn giáo và thế giới siêu nhiên ấy phải sự là giải đáp khả hữu duy nhất đối với vấn đề hiện hữu. Như thế, trước hết, đây là một suy tư thuần túy triết học, đáp ứng được những tiêu chuẩn nghiêm túc của lý trí; nhưng đồng thời, những suy tư ấy lại đạt tới chỗ vượt qua bình diện lý trí và triết học để đi tới tôn giáo.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
1. Tiểu sử và tác phẩm
Blondel sinh tại Dijon, học trường Cao Đẳng Sư Phạm năm 1881. Đậu bằng thạc sĩ triết học, ông dạy học trong trường trung học Chaumont, Montauban, Aix-en-Provence, rồi tự xin nghỉ năm 1889. Sau đó ông về sống trong vùng đất của gia đình tại Saint-Seine-sur-Vingeanne, ở cạnh Dijon. Chính tại đây, trong một căn phòng biệt lập ở tầng hai, đối diện với một cánh đồng xanh, ông đã thảo luận án tiến sĩ, trình bày năm 1893, một luận án đã làm cho ông nổi tiếng: L' Action (Hành động). Từ năm 1895, khi đó ông mới 35 tuổi, Blondel đã là giáo sư thỉnh giảng ở Lille, rồi ở Aix-en-Provence; và nơi đây, ông được chọn làm giáo sư chính thức năm 1897 (Bergson và Brunschvicg đã phải chờ đợi lâu sau khi công bố luận án của mình mới có thể được dạy học ở bậc cao đẳng). Lúc đó, trong khi P. Laberthonnière đã cảm thấy bị chinh phục ngay khi đọc lần đầu tác phẩm l' Action và rất hứng khởi, thì nhiều người Công giáo khác lại coi Blondel như một thứ bè rối tân thời. Cả bức thư của Blondel về những đòi hỏi của tư tưởng tân thời nhằm để hộ giáo và về phương pháp của triết học trong việc nghiên cứu vấn đề tôn giáo (công bố năm 1896, trong les Annales de philosophie chrétienne), cũng như bài báo Histoire et Dogme (công bố trong Quinzaine), cũng không làm nguôi ngoai dư luận, mà ngược lại, còn gây nên những cuộc tranh luận. Triết gia d' Aix lại phải xác định tư tưởng của mình, sau này, trong một loạt các tác phẩm được phát hành giữa những năn 1934 và 1937 : La Pensée (02 tập), L' Être (một tập), Action (phân thành hai tập, bàn về đề tài trong luận án của mình). Năm 1944 và năm 1946 xuất hiện hai tập của một tác phẩm mới : La philosophie et L' esprit chrétien. Từ lâu, Blondel đã bị bệnh và hầu như mù (ông đã về hưu năm 1927) và qua đời năm 1949.
2. Tư tưởng, vấn đề của Maurice Blondel
2.1. Nét căn bản của triết lý Blondel
Blondel khởi đầu bằng việc phân tích về hành động của con người trong hoàn cảnh của cuộc sống cụ thể; sự phân tích ấy đưa tới một đòi hỏi nội tại trong bản chất người hướng về đời sống tôn giáo và thế giới siêu nhiên; đời sống tôn giáo và thế giới siêu nhiên ấy phải sự là giải đáp khả hữu duy nhất đối với vấn đề hiện hữu. Như thế, trước hết, đây là một suy tư thuần túy triết học, đáp ứng được những tiêu chuẩn nghiêm túc của lý trí; nhưng đồng thời, những suy tư ấy lại đạt tới chỗ vượt qua bình diện lý trí và triết học để đi tới tôn giáo.
2.2. Phản ứng của thời đại
Trong thời đại của Blondel, các "luật sư" của lý trí và những "luật sư" của đức tin luôn khẳng định sự đối lập, hoặc phân biệt sâu xa giữa đức tin và lý trí; sự khác biệt giữa hai lãnh vực này là điều không thể xóa bỏ được. Do đó, vấn đề của Blondel đã bị hiểu sai và bị công kích. Bên này thì công kích ông là có ý hướng hộ giáo, đã vượt qua lãnh vực triết lý; bên kia thì lại trách cứ là ông muốn lý trí hóa đức Tin. Thực ra, ông gặp nhiều sự chống đối nơi những người Kitô hữu nhiều hơn nơi những người theo triết lý đời.
Những cuộc tranh luận chung quanh tác phẩm của Blondel chủ yếu là do việc hiểu sai nguyên lý nền tảng của Blondel, nguyên lý nội tại. Vào thời của Blondel, những người theo duy tân thuyết (les modernistes) đã xuất phát từ Công Giáo để đi đến phiếm thần; họ tuyên xưng một thứ nội tại thuyết giáo điều (immanentisme doctrinal). Nội tại thuyết giáo điều loại bỏ tất cả mọi phân biệt giữa trật tự siêu nhiên và trật tự tự nhiên, và sau cùng giữa Thiên Chúa và con người. Loisy nói rằng một cá nhân có ý thức "có thể được trình bày một cách hầu như không phân biệt (presque indifferemment) như ý thức của Thiên Chúa trong thế giới...; và như ý thức của thế giới tồn tại nơi Thiên Chúa". Tín lý, trong một viễn tượng như thế, hầu như chỉ có một giá trị biểu tượng. Le Roy, chẳng hạn, được coi như thuộc duy tân thuyết, bởi vì ông nói : "Đức Giêsu đã phục sinh, điều đó có nghĩa là : anh hãy liên kết với Ngài như trước khi Ngài tử nạn; như anh hiện diện với một người cùng thời" (Dogme et Critique).
Nhưng Blondel không bao giờ tuyên xưng một thứ nội tại thuyết giáo điều. Nội tại thuyết của Blondel chỉ mang tính cách thuần túy phương pháp, một cách nào đó, có tính cách sư phạm.
2.3. “Triết lý Hành động”
Từ ngữ “triết hý Hành động” xuất phát từ chính tác phẩm “Hành Động” của Blondel. Trào lưu triết học này, trước tiên, không muốn biên minh cho Kitô giáo dựa trên một hệ thống triết học nào có sẵn, nhưng là nỗ lực tìm kiếm những khía cạnh triết lý trong niềm tin Kitô giáo; hoặc đúng hơn là trào lưu, dựa vào niềm tin, triển khai bản chất con người dưới khía cạnh triết học, rồi từ đó hình thành một nền nhân bản căn bản và toàn diện của đức Tin. Đức Tin, như thế, không phải là một lãnh vực bay lượn bên trên bản tính con người, đưa ra những giới luật áp đặt một cách giáo điều trên hành vi của con người. Nền triết học này nhìn thấy niềm tin là một đòi hỏi nội tại và chân chính của khát vọng con người; khám phá thấy trong Kitô giáo có những trực giác nhân bản mà triết học có thể triển khai để hình thành một con đường triết lý soi sáng và hướng dẫn cho cuộc sống con người. Tóm lại, đây là một nền triết học Kitô giáo nhằm tìm ra những đường nét thống nhất hữu cơ giữa đức Tin và lý trí; nhằm khám phá niềm tin như một hành vi nhân bản chân chính và khám phá thế giới như một hành trình đi đến Đức Tin. Đây là một “chủ nghĩa nhằm đến tính toàn diện Kitô giáo”
Chính trong ý nghĩa ấy, ta có thể gồm gói một số nhân vật tiêu biểu trong trào lưu “triết học hành động” như : Hồng y Newman [1801-1890]; Léon Ollé-Laprune [1839-1898]; Maurice Blondel [1861-1949] và Lucien Laberthonnière [1860-1932].
3. Tư tưởng, triết học Hành động của Blondel
1. Con người là hiện tượng Hành động
Blondel khám phá ra bản chất con người trong “hành động”. Hành động, theo Blondel, không phải chỉ là những hành vi cụ thể mà con người diễn tả ra trong thế giới, nhưng chính là bản chất của toàn thể con người. Con người là một hữu thể sinh động, chuyển hoá, biểu lộ, hình thành mình. Như thế, con người, tự bản chất nội tại, có tính năng động; và như thế, trong hành động, chúng ta có thể thấy được bản tính của con người.
Xét như thế, hành động bao gồm cả một cơ cấu, hệ thống, với những ước muốn, năng lực và các phương tiện cần thiết để tìm đạt được mục đích. Hành động là một sức mạnh để thể hiện được cái khao khát căn bản mình. Mọi hành động của con người đều xuất hiện như sự biểu lộ của một năng lực sống nhằm thiết định bản chất của mình. Chính ý muốn như một năng lực sống, thể hiện thành hành động như thế, đã làm nên biết bao công trình trong thế giới và đồng thời biểu hiện ý muốn sáng tạo nên mình của con người.
2. Bản chất con người trong Hành động
Từ sự phân tích bản chất của hành động nơi con người Blondel khám phá ra có một sự mất quân bình căn bản của con người. Một đàng, con người ước muốn những điều cụ thể để thoả mãn nhu cầu bình thường của cuộc sống, điều này gọi là "ước muốn được muốn" (volontés voulues); đàng khác, ta thấy trong con người có một ước muốn thuần túy như một trạng thái, như một sức mạnh tự bộc lộ mình, một ước muốn không nhất thiết đồng nhất với một đối tượng rõ ràng hay một nội dung cụ nhất định nào, điều này gọi là "ước muốn đang muốn" (volonté voulante). Hai điều ấy, cái “ý muốn được muốn” và cái năng lực thuần túy của ý muốn trong trạng thái muốn, không hề ăn khớp với nhau. Cái ”ước muốn đã muốn”, tức những ước ao và hành động cụ thể, nhằm một mục tiêu cụ thể, thì luôn phải được thể hiện ra trong một hoàn cảnh xác định và bị điều kiện hoá từ bên ngoài, và như thế, luôn kèm theo một sự thiếu hụt, hoặc chán chường, vỡ mộng. Còn cái “ước muốn đang muốn” thì lại là một xung lực vô cùng, tuyệt đối. Blondel tìm thấy ngay trong hành động một người ham mê, tin mình được thỏa mãn trong những niềm vui dễ dàng và mỏng dòn của đời sống này; cũng như trong hành động của kẻ bi quan tưởng như mình từ chối một ước muốn sâu xa lay động cuộc sống của mình, đều có dấu hiệu một khát vọng cao hơn, một đòi hỏi vô cùng.
Như thế, việc tìm kiếm những của cải hữu hạn, tìm kiếm các đối tượng riêng biệt của ước muốn chúng ta, có "bao hàm" một khát vọng tuyệt đối; bởi vì mỗi "ước muốn được muốn" của con người, những ước muốn rõ ràng và hướng tới những đối tượng xác định, chỉ phản ảnh một phần của "ý muốn đang muốn"; và đối với "ý muốn đang muốn" này, không có một "ước muốn được muốn" nào là tương xứng được.
Sự mất quân bình ấy, đối với Blondel lại xuất hiện như một dấu hiệu về nhu cầu siêu việt căn bản của con người. Con người phải học để nhận ra nơi mỗi tư tưởng của mình một tiếng vọng của Tư Tưởng Tuyệt Đối. Blondel nói trong ngày ông bảo vệ luận án : "Tôi đặt mình vào bên trong của hành động nhân loại, không phải để mang lại cho nó một tính chất mới, nhưng để hiểu đâu là những đòi hỏi của nó".
Như thế, từ việc phân tích hành động của con người, Blondel khám phá ra cái nghịch lý căn bản của con người : một đàng con người không thể chiếm hữu được cái vô cùng, một đàng con người lại mang ước muốn hướng tới vô cùng.
Cái nghịch lý căn bản ấy đồng thời cũng là thách đố căn bản của con người, nó đặt con người trước một chọn lựa đơn giản, nhưng là một có tính quyết định : hoặc là con người, với ý muốn vô cùng, phải chấp nhận không bao giờ thành đạt được khát vọng của mình; hoặc là con người chấp nhận mở ra với siêu việt, chấp nhận yếu tính của mình chỉ được thành toàn trong sự đón nhận.
3. Mời gọi mở ra với siêu việt
Đứng trước ngã ba đường, con người có thể lựa chọn đắm mình trong thế giới của những “ước muốn được muốn”, và đồng thời cũng đóng lại cái viễn ảnh vô cùng. Khi đó, con người chỉ có thể tìm tuyệt đối bằng cách chấp nhận một cách anh hùng tính cách dở dang, phi lý của vận mạng con người, như những chủ thuyết vô thần hiện sinh đã chọn. Điều ấy mang ý nghĩa là một sự tự do chấp nhận giới hạn, an vui với bản án của mình; là sẵn sàng đầu hàng hoàn cảnh, và tìm mình với một ý muốn không được thành toàn.
Hoặc con người có thể rộng mở cho cái “ý muốn đang muốn” dẫn đưa tới những chân trời siêu việt. Rõ ràng suy tư của Blondel muốn soi sáng cho thấy con người không thể đánh mất cuộc đời mình trong một ước muốn vô vọng; kêu gọi con người đừng sa lầy vào những ước muốn vụn vặt nối tiếp nhau mãi mãi. Suy tư đó mời gọi chúng ta nhận ra dấu hiệu siêu việt của Thiên Chúa được gieo mầm trong bản chất con người. Từ trong bản chất, con người mang nỗi khao khát vô cùng và cần chấp nhận thái độ rộng mở, chờ đợi, đón nhận.
Thái độ rộng mở đón nhận lại chính là thành phần của bản chất con người toàn diện; vì chính điều đó mới có thể giúp con người thực hiện ý muốn như một năng lực vô cùng. Thái độ rộng mở để đón nhận như thế lại thực sự là hành vi đặc trưng của bản chất con người.
4. Kitô giáo như một giải pháp nhân bản toàn diện
Đối với Maurice Blondel, người ta không thể thực sự nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa khi trình bày Ngài cho linh hồn như một thực tại hoàn toàn xa lạ. Thiên Chúa, niềm tin, mặc khải không thể là những dị vật trong nếp sinh hoạt hằng ngày và tự nhiên của con người. Với một phương pháp triết học nghiêm cẩn, mang tính nội tại, Blondel thiết lập nơi lý trí một lời mời gọi đến siêu việt. Ông khám phá ra nền tảng của Kitô giáo trong bản chất tự nhiên của con người, một nền tảng mở ra bên kia thế giới tự nhiên.
Tôn giáo, đối với Blondel không phải chỉ là một công việc làm thêm giờ, và sinh hoạt tôn giáo không phải chỉ là điều dành riêng cho một số người nào đó, những người khốn khổ chẳng hạn, như Marx đã nói. Ngược lại, mặc khải và ân sủng chính là sự thành toàn của bản tính người.
Mặc khác, chính từ nền tảng đó, ân sủng cũa Thiên Chúa mới có thể ươm mầm và mọc lên trên mảnh đất đời người.
Kết
Maurice Blondel quả thực là một tirết gia Kitô giáo xứng danh. Ông không chỉ chấp nhận niềm tin, chấp nhận mặc khải; nhưng còn chấp nhận nó trong nghề nghiệp của mình, nghề triết gia.
Có lẽ, hơn lúc nào hết, ngày hôm nay, người Kitô hữu cần phải kín múc nơi Blondel những nguồn mạch phong phú, để có thể khám phá ra đời sống đạo như một nhu cầu thực sự của con người, một nhu cầu thâm sâu và là một nhu cầu sống chết. Chỉ có một cảm nhận về ơn cứu độ như một nhu cầu căn bản như thế mới có thể giúp con người ngày hôm nay không buông mình theo những nhu cầu rất thực nhưng giới hạn của cuộc sống văn minh vật chất.
Phương pháp triết học đầu thế kỷ XX
Trong đầu thế kỷ XX, có hai phương pháp được áp dụng trong phạm vi triết học là Luận Lý Toán học và Hiện Tượng Luận.
Nhiều triết gia không công nhận Luận Lý Toán Học như một phương pháp đích thực để giúp phân tich triết học. Tuy nhiên, có một số triết gia áp dụng phương pháp này, đặc biệt là các trường phái Tân Thực Chứng, Whitehead, Russel, nói chung là trường phái triết học Anh Quốc. Chủ tâm của phương pháp này là loại trừ những ảnh hưởng có tính cách tâm lý vào triết học và nhằm áp dụng tinh thần luận lý hình thức vào chính phương pháp luận lý.
Từ hậu bán thế kỷ XX, còn xuất hiện một trào lưu triết học mang tính cách phương pháp nữa là Cơ Cấu Luận (structuralisme) do nhà xã hội và dân tộc học Pháp Lévi-Strauss (sinh 1908) xướng xuất.