BÀI 7: EDMUND HUSSERL VÀ HIỆN TƯỢNG LUẬN (1859 – 1938)
Công trình triết học của Husserl mở ra trên nhiều lãnh vực lớn lao, nhưng còn chưa được hệ thống hóa một cách rõ ràng. Chính Husserl đã nghĩ rằng cần phải có nhiều người góp công hợp lực để triển khai hiện tượng luận; ông chỉ phác họa những chương trình khảo cứu và những bài luận thuyết nhập môn mà thôi. Học thuyết của ông có nhiều chỗ tối tăm[ Trần Đức Thảo, Gaston Berger khi đọc cuốn "Những Suy niệm Descartes" của Husserl đều thú nhận có nhiều chỗ tối tăm, mơ hồ. Chính E. Fink, đệ tử ruột của Husserl cũng thú nhận như thế. Xc. Nguyễn Trọng Văn, Sđd, trg 1.], đặc biệt do các từ ngữ được dùng với ý nghĩa dị biệt, và người ta thường hiểu Husserl theo những cách khác nhau.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
[ Để làm tài liệu học tập, xin tóm tắt và lấy lại một số tư tưởng trong : 1/ Trần Thái Đỉnh, "Hiện Tượng Học là gì ?", Hướng Mới, 1968. 2/ Nguyễn Trọng Văn, "Husserl và Hiện Tượng Luận", giáo trình Đại Học Văn Khoa, ronéo. 3/ Tư Tưởng, Bộ Mới số 1, 1-6-1969. 4/ Jean-F. Lyotard, "La Phénoménologie", Col. Que sais-je 625, Presses universitaires de France, 1954.]
1. Thời đại
[ Phần này dựa theo Nguyễn Trọng Văn, Sđd.]
Nước Đức cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX có nhiều xáo trộn. Về phương diện tư tưởng, có những hệ thống duy tâm tối tăm, khó hiểu; trong phạm vi tâm lý, có những đổi mới quan trọng, chẳng hạn tâm lý thực nghiệm phát triển, muốn dùng phương pháp thực nghiệm áp dụng vào việc tìm hiểu con người; Weber khảo cứu về cảm giác và đưa ra luật sai độ dị biệt; Fechner cùng với Weber xây dựng khoa tâm-vật-lý qua những dụng cụ đo lường chính xác. Năm 1789, phòng thí nghiệm đầu tiên về tâm lý vật lý được thành lập tại Leipzig... Đồng thời, khoảng thời gian ấy cũng nẩy sinh những khám phá mới về toán học, khoa học : Rieman, Lobatchevski đưa ra những định đề mới thay thế cho định đề Euclide; Galois đề ra thuyết các nhóm; Hilbert với thuyết các vô hạn; Cantor hình thành thuyết các tập hợp.... Về mặt xã hội, từ năm 1844, có nhiều cuộc đấu tranh của thợ thuyền. Phương diện chính trị cũng có nhiều xáo động, Đức tuyên chiến với Áo, với Pháp.
2. Tiểu sử và tác phẩm
[ Dựa theo Nguyễn Trọng Văn, Sđd.]
Edmund Husserl (1859-1939) sinh ngày 8 tháng 4 năm 1859 tại Prossnitz, xứ Moravia Tiệp khắc, thuộc gia đình trung lưu gốc Do thái. Thời gian học trung học, Husserl chỉ là một học sinh trung bình, nhưng có năng khiếu về toán và khoa học. Lên đại học, ông học toán học tại Vienna, Áo, và đậu tiến sĩ năm 1883. Năm 1884, Ông gặp giáo sư tâm lý học Franz Brentano và biến cố này làm xoay chuyển tất cả cuộc đời ông. Ông quan tâm tới triết học thay vì toán học và suốt đời Husserl vẫn coi Brentano như một bậc thầy đáng kính; hơn nữa, như một người cha. Từ khi gặp Brenrano, Husserl chỉ đeo đuổi mộng thiết lập một nền triết học mới : Hiện tượng luận. Husserl cảm hứng theo Brentano về ý hướng tính của ý thức, nhưng không đi sâu vào lãnh vực tâm lý học thực nghiệm như Brentano. Ông muốn đạt tới một khoa học lý tưởng, theo kiểu mẫu toán học.
Qua ảnh hưởng của người bạn thân là Gustaz Albrecht, một giáo sư toán học, năm 1886, ông trở lại đạo công giáo. Năm sau, ông lập gia đình với Malvine Charlotte Steinscheider, một cô gái cùng quê và cũng là người Do Thái trở lại như ông.
Năm 1887, Husserl được chọn làm giáo sư đại học Halle và năm 1901, Husserl cho ra đời tác phẩm "Triết Lý về Số Học" (philosophie de l' arithmétique). Tác phẩm này không thành công lắm. Sau một thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, ông cho xuất bản bộ "Khảo Cứu Luận Lý" (khoảng 1900-1901). Tác phẩm này đánh dấu một tiến trình của tư tưởng của Husserl, trong đó gồm chứa những tư tưởng tiên báo chiều hướng hiện tượng luận sau nầy. Nhưng dường như tác giả nghiêng về phía Platon nhiều hơn.
Khoảng 1903, tại Munich và Gottingue, có nhiều nhóm hiện tượng học ra đời, nhưng tư tưởng của Husserl được đón nhận rộng rãi. Husserl là người rất kỹ lưỡng, ít cho xuất bản tác phẩm của mình; thường mỗi khi ông xuất bản một cuốn sách thì đó là một bước tiến quan trọng trong tư tưởng. Bắt đầu từ năm 1911, Husserl mới xác định lập trường rõ rệt hơn với tác phẩm "Triết học kể như khoa học chính xác", trong đó chúng ta thấy được phương pháp căn bản của Hiện Tượng Luận, phương pháp giảm trừ. Năm 1913, xuất hiện tác phẩm "Những ý tưởng hướng dẫn cho một khoa hiện tượng luận thuần túy"; tác phẩm này cho thấy rõ một nền "hiện-tượng-học-của-Husserl".
Trong thế chiến thứ nhất, người con trai út của ông bị chết ngoài mặt trận năm 1916; năm sau, người con khác bị thương nặng và mẹ của ông cũng mất cùng năm đó. Husserl chán nản vì hoàn cảnh xã hội, không muốn dính vào chính trị và cũng không muốn ai lợi dụng tên tuổi của mình để mưu đồ chính trị. Ông chỉ tìm vui trong suy tư triết học. Ông đi diễn thuyết về Hiện Tượng Luận ở Mỹ, Anh, Nhật, Pháp.
Năm 1929, Husserl cho xuất bản "luận lý học hình thức và Luận lý học siêu nghiệm". Từ năm 1924, ông có một nỗi buồn khác là bị hiểu lầm và mặc cảm bị bỏ rơi, nhất là từ khi Heidegger, đệ tử ruột của ông, xoay Hiện Tượng Luận sang một chiều hướng khác. Năm 1928, Husserl đã 67 tuổi, ông từ chức giáo sư và nhường ghế cho Heidegger. Năm 1931, tại giảng đường đại học Sorbonne, Paris, Husserl thuyết trình về triết học với bốn bài diễn thuyết; sau đó, những bài này được in thành tập "Suy Niệm Descartes" (Méditations cartésiennes). Ngoài ra, còn có một vài tác phẩm của Husserl được các đồ đệ cho xuất bản như : "Những bài học về hiện tượng luận" đề cập đến ý thức nội tại về thời gian, do Heidegger xuất bản năm 1928; "Kinh nghiệm và Phán đoán", do Landgrebe xuất bản năm 1939.
Husserl đã từng dạy học tại Gottingen, và sau đó dạy và làm khoa trưởng đại học Fribourg-en-Brisgau, Đức. Khi Hitler lên nắm quyền (1933), Chế độ Đức Quốc Xã bắt ông phải từ chức và muốn trục xuất ông cùng với con trai, vì ông mang giòng máu Do Thái; và Heidegger được chỉ định làm viện trưởng đại học Fribourg để thi hành những cải tổ mới. Husserl rất đau buồn vì ông là người có đầu óc trung quân, ông cố gắng minh chứng mình đã hy sinh một đứa con ngoài mặt trận và một đứa khác bị thương nặng để bảo vệ nước Đức. Cuối cùng, ông được thu nhận trở lại, nhưng người ta vẫn nhìn ông với cặp mắt dè dặt. Năm 1933, đại học Los Angeles mời ông sang giảng dạy về Hiện Tượng Luận, nhưng ông từ chối vì muốn ở lại Đức để minh chứng lòng trung thành của mình với Đức Quốc. Thời kỳ này, do mặc cảm với quốc gia Đức, cùng với những xáo trộn xã hội, nên tác phẩm của ông có vẻ thoát ly.
Tháng 5-1935, ông sang diễn thuyết tại Vienne (Áo) với đề tài "Triết lý trong cuộc khủng hoảng của Âu Châu". Tháng 12 năm đó, ông lại diễn thuyết ở Tiệp Khắc, khai triển bài nói chuyện Tháng Năm thành "Cuộc khủng hoảng của các môn khoa học ở Âu châu và hiện tượng luận siêu nghiệm". Hai bài diễn văn này hết sức thành công.
Ông sang tị nạn tại Thụy sĩ và qua đời tại đó ngày 27-04-1939, xác được hỏa thiêu. Người đọc điếu văn ca tụng ông là Eugen Flink, người bạn và môn đệ trung thành nhất. Một một đệ khác là Van Bréda đã lưu giữ tất cả sách báo, tài liệu liên quan đến ông và hơn 30.000 trang tốc ký về hiện tượng luận của Husserl. Những tài liệu này được cất giữ kín cẩn tại thư viện Louvain, Bỉ. Người ta đã bắt đầu công việc sắp xếp và xuất bản.
3. Tư tưởng
Công trình triết học của Husserl mở ra trên nhiều lãnh vực lớn lao, nhưng còn chưa được hệ thống hóa một cách rõ ràng. Chính Husserl đã nghĩ rằng cần phải có nhiều người góp công hợp lực để triển khai hiện tượng luận; ông chỉ phác họa những chương trình khảo cứu và những bài luận thuyết nhập môn mà thôi. Học thuyết của ông có nhiều chỗ tối tăm[ Trần Đức Thảo, Gaston Berger khi đọc cuốn "Những Suy niệm Descartes" của Husserl đều thú nhận có nhiều chỗ tối tăm, mơ hồ. Chính E. Fink, đệ tử ruột của Husserl cũng thú nhận như thế. Xc. Nguyễn Trọng Văn, Sđd, trg 1.], đặc biệt do các từ ngữ được dùng với ý nghĩa dị biệt, và người ta thường hiểu Husserl theo những cách khác nhau. Người ta thường đặt tầm quan trọng của Husserl nơi phương pháp hiện tượng học. Tuy nhiên, người ta cũng có thể nhận thấy những đường nét của một triết học hiện tượng luận của Husserl. Do đó, có thể nghiên cứu Husserl theo hai khía cạnh:
- Hiện tượng học như là triết học.
- Hiện tượng luận như là phương pháp.
A. Hiện tượng luận như là triết học
1. Những khía cạnh của khoa triết học về hiện tượng
Xét như triết học, hiện tượng luận bao trùm ba khía cạnh:
- Một học thuyết về ý hướng tính;
- Một học thuyết về tri thức;
- Một khoa học chính xác, nền tảng cho mọi khoa học và triết học khác.
1.1 Học thuyết về Ý hướng tính
Trong khi Descartes khẳng định sự hiện hữu của một cái “tôi suy tư” độc lập với thế giới bên ngoài thì Kant lại cho rằng ý thức của con người là một biểu tượng có khả năng đi kèm với các biểu tượng khác, nghĩa là cái tôi chủ thể chỉ mới là điều kiện để nhận thức chứ không phải là chính sự nhận thức. Khẳng định của Kant cho thấy một cách thức “nối kết” chủ thể nhận thức với thế giới bên ngoài có phần đúng đắn hơn. Tuy nhiên, Kant lập trường của Kant phải “trả giá” bằng một sự chia cắt giữa hiện tượng và “vật tại thân”. Ông khẳng định con người không thể đạt tới thế giới "tại thân" bằng con đường nhận thức của lý trí thuần túy.
Husserl cũng cho rằng ý thức có đồng thời giới thế giới; và thế giới hình thành cùng với ý thức. Ý thức luôn là ý thức phóng mình vào thế giới, đồng thời thế giới cũng nhất thiết hướng tới việc trở thành mục tiêu cho tri thức ta. Khi ý thức về mình, ta thấy mình đã ở trong thế giới rồi, và thế giới đối tượng cũng đã có đấy rồi. Khái niệm này đã có trong Brentano, nhưng Husserl mới là người triển khai triệt để khám phá này. Rồi Husserl còn đi xa hơn Kant khi cho rằng con người có thể đạt tới yếu tính chứ không chỉ dừng lại ở hiện tượng, nghĩa là thông qua phương pháp hiện tượng luận, con người có thể trực thức được yếu tính của sự vật. Chính Husserl mới thực sự là người bắc một cây cầu để giải gỡ vấn đề nan giải của nhận thức luận mà khi đó triết học vẫn chưa giải quyết được. Đúng như E.Fink nói:
"Chủ đề chính của hiện tượng học không phải là thế giới một bên và một bên là chủ thể tính siêu nghiệm tương ứng, mà là sự hình thành của thế giới trong sự hình thành của chủ thể tính siêu nghiệm".
1.2. Học thuyết về Tri thức
Giống như Descartes, ông cũng cho rằng cần có một lần nghi ngờ tất cả. Tuy nhiên khác với Descartes, ông nghi ngờ không phải chỉ để khám phá ra cái "cogito", mà để khám phá ra "cái Cogito cùng với điều mà cogito suy tưởng". Tri thức là tương giao giữa ý thức và "cái không phải ý thức nhưng được trở thành đối tượng sống động cụ thể cho ý thức".
Husserl không chấp nhận một cái "cogito" trống không hoặc tự suy diễn trong chính mình như Descartes; tuy nhiên ông cũng không chấp nhận một thế giới hiện hữu có giá trị bên ngoài ý thức. Tri thức luận của Husserl là một cố gắng bắt nhịp cầu nối kết giữa thế giới suy tư và thế giới sự vật.
1.3. Hiện tượng học như là một khoa học chính xác
Hơn nữa, hiện tượng học còn muốn tìm biết chính nền tảng của triết học và khoa học; vì chỉ có hiện tượng học mới hiểu rõ yếu tính của đối tượng mình nghiên cứu, của chân lý tri thức nói chung. Tham vọng của Hiện tượng luận là khởi đầu từ vấn đề chân lý, mong khám phá ra mọi ý nghĩa và mọi chân lý đều hình thành quanh cogito siêu nghiệm. Con đường đi tới cogito siêu nghiệm chính là nẻo đường giảm trừ hiện tượng học.
Trong ngôn ngữ của Husserl, chủ thể siêu nghiệm laà chủ thể tách mình khỏi thái độ sống thường nghiệm hằng ngày, là chủ thể thuần túy vượt khỏi những liên hệ với thế giới có thực ở kia. Chủ thể của Husserl là chủ thể sống thực, tạm thời như tách khỏi thế giới để soi lại hình ảnh trong sáng của mình.
2. Những đặc điểm của nền triết học về Hiện tượng
Chúng ta có thể thấy một số đặc điểm của triết học hiện tượng luận như sau:
2.1. Khoa học nghiên cứu về những bản chất
Triết học của Husserl chống lại hai khuynh hướng duy tâm và duy thực, một bên cho là thế giới nội tâm là có vai trò quyết định, một bên lại nghĩ rằng thế giới bên ngoại luôn như thế. Husserl đi tìm bản chất của thực tại, nhưng không phải là thực tại như kiểu yếu tính của sự vật như trong triết học cổ truyền (hoặc là những ý tưởng như Platon, hoặc là mô thể phổ quát như Aristote); cũng không phải thực tại sáng sủa và có trước khi giao tiếp với thế giới (tiên thiên) như trong phái duy tâm, mà là thực tại sống động của kinh nghiệm sống. Husserl kêu gọi trung thành với sự vật, và đó là sự vật được ban cho một ý thức.
Thực tại sống động đó xuất hiện trong sự gặp gỡ giữa ý thức của con người và thế giới. Husserl quan niệm thế giới là thế giới cho con người, cho nên ý nghĩa của thế giới chỉ có cùng với ý thức của con người về thế giới. Sự gặp gỡ này là một mối tương quan cùng thời, cùng hình thành (corrélat).
2.2. Hiện tượng luận như một khoa học chính xác
Hiện tượng luận có tham vọng trở thành một căn bản cho mọi triết học, vì mọi triết học đều "hiểu ngầm" là suy tư lại những kinh nghiệm của cuộc gặp gỡ ngây thơ nói trên. Như thế, Hiện Tượng Luận là việc nghiên cứu "sự hình thành thế giới của thế giới"; nghĩa là hình thành một "qui chế triết học" (giống như Kant xét lại khả năng tri thức của con người).
2.3. Vấn đề chân lý
Như thế, chân lý không phải là cái có sẵn, nhưng là cái con người hình thành trong kinh nghiệm sống của chính mình. Chân lý không tuyệt đối, vì con người là hữu tại thế, nhưng được soi sáng mỗi ngày mỗi hơn và được hình thành mỗi ngày mỗi phong phú hơn.
Tóm lại, chúng ta có thể nhận ra một số đường nét căn bản của triết học Husserl như sau :
- Con người là hữu thể tại thế. Tất cả những gì con người lãnh hội (conpréhension) là lãnh hội từ mối tương quan giữa con người với thế giới.
- Thế giới khi con người ý thức thì "đã có đấy rồi". Sự kiện thế giới có đấy rồi là một "kiện tính".
- Đây là một cuộc "gặp gỡ ngây thơ": Husserl cho rằng con người có hai loại ý thức, thường người ta chỉ nói tới ý thức phản tỉnh. Nhưng đó thực ra chỉ là điều đến sau. Còn cái uyên nguyên chính là "ý thức sinh hoạt"; có sinh hoạt rồi mới có phản tỉnh.
Triết học của Husserl, tuy nhằm tìm bản chất của thế giới, nhưng không phải là một bản chất siêu hình mà là bản chất trong sinh hoạt của con người. Tư tưởng về chân lý của Husserl cho thấy ông rất gần với triết học hiện sinh.
B. Hiện tượng luận như là phương pháp
Khi Husserl nói rằng đối tượng hay thế giới là đối tượng, thế giới cho một ý thức cụ thể, nghĩa là một cái nhìn cụ thể, một nhà hiện tượng học kinh nghiệm trung thực về thế giới cho mình và mô tả nó một cách trung thực. Phương pháp này cho thấy người ta không còn tìm một định nghĩa trừu tượng và chung chung cho mọi người, nhưng là mô tả đối tượng từ một trắc diện; thay vì tranh cãi và loại trừ cái khác mình để tìm một định nghĩa, để đặt một dấu bằng (=) giữa sự vật và một đối tượng, thì người ta mong ước có được nhiều cách nhìn khác nhau, từ nhiều trắc diện khác nhau để thâm nhập vào sự vật. Tuy không thể có một cái nhìn toàn diện như một kết luận dứt khoát về sự vật, vì sự vật vẫn mãi là một “huyền nhiệm”, vẫn đầy những bất ngờ mà chẳng bao giờ ta hiểu thấy, nhưng cách nhìn này “thật” hơn.
Thay vì định nghĩa, phương pháp của hiện tượng luận là mô tả. Tuy nhiên, mô tả hiện tượng học không giống như sự mô tả của theo cách hiểu trước đây. Cách mô tả trước đây đều bao hàm một thiên kiến rằng thế giới đã hiện hữu tự nó, nó đã hoàn toàn là nó mà ta chỉ có việc đưa nó ra ánh sáng của ngôn từ mà thôi. Cách mô tả ấy là hệ quả của một cái nhìn duy nhiên. Mô tả hiện tượng luận Husserl là một phương pháp mới, là mô tả cái tôi nhìn thấy và cái kinh nghiệm sống của tôi về thế giới. Một cách nào đó, mô tả là hình thành nên thế giới, vì thế giới chỉ là thế giới cho một ý thức, là thế giới cho tôi mà thôi.
Sau cùng, hiện tượng sống mà nhà hiện tượng luận mô tả không còn chỉ là một bức màn che khuất “vật tự thân” như quan điểm của Kant. Hiện tượng theo nghĩa của Husserl là chính sự vật, là chính thế giới, những là sự vật theo cái nhìn của tôi. Hiện tượng như thế bộc lộ chứ không che chắn cái nhìn của ta về thế giới. Và như thế, đi vào hiện tượng học, chúng ta tìm về một thế giới sống thực trong kinh nghiệm đơn sơ của ý thức, thế giới ấy khác với cái nhìn của chúng ta trước đây, cái nhìn trước khi “giảm trừ”, cái nhìn khách quan.
Phương pháp Hiện tượng học được Husserl trình bày trong giảng khóa tại đại học Gottingue năm 1907 với nhan đề: "Những điểm căn bản của hiện tượng học và của việc phê bình lý trí". Nét căn bản của phương pháp này là sự giảm trừ (épochè). Phương pháp này nằm trong chiều hướng chung của các triết thuyết thời cận đại, tức là một cách duyệt lại khả năng tri thức của con người. Mục đích của việc giảm trừ, theo Husserl, là tìm lại một kinh nghiệm đơn sơ, căn bản, có trước các lối nhìn duy tâm, duy thực hay duy nhiên về thế giới. Giảm trừ cũng khác với thái độ hoài nghi hay chối bỏ sự hiện hữu của thế giới cũng như sự hiện hữu của cái tôi suy tư. Giảm trừ vẫn công nhận có thế giới và có cái tôi suy tư, nhưng "không dùng đến nó", "cho vào trong ngoặc", không để cho những niềm tin vào bản chất của thế giới và những kiến thức của tư tưởng tham dự vào kinh nghiệm của mình. Nói đúng ra, quan điểm về phương pháp hiện tượng luận của Husserl không phải một nhận định hữu thể luận, nhưng là nhận định về nhận thức luận. Ông cho rằng cho dù người ta có thể nghi ngờ về sự hiện hữu của thế giới đi nữa, không có có thể nghi ngờ về trạng thái sống cụ thể của mình, ông nói :
"Mọi sự vật bên ngoài, dù xuất hiện bằng xương bằng thịt (corporellement) vẫn có thể không có thực như vậy; nhưng không trạng thái sống thực, cụ thể nào xuất hiện bằng xương bằng thịt lại có thể không có thực như vậy cả : đó là qui luật yếu tính (loi d' essence) bao trùm sự bất tất và tất yếu".
Một cách chung, giảm trừ là loại bỏ tất cả những cách nhìn thiên kiến đi trước để đón nhận thế giới thuần túy là hiện tượng mà thôi, hiện tượng xuất hiện cho tôi, ở đây và lúc này. Giảm trừ là ý thức loại bỏ thái độ duy nhiên về thế giới, và ý thức cũng rút mình khỏi ý hướng của nó để trở thành ý thức siêu nghiệm.
Có học giả đếm tới 6 loại giảm trừ hay giản lược[ Giản Lược hay giảm trừ, épochè.]; nhưng nói chung người ta kể tới 3 loại[ Phần này xin trích lại nguyên văn trong giáo trình cha Lê Tấn Thành, Sđd.]:
1. Giản lược triết học
(Quan niệm về triết học)
Theo đường hướng Descartes đã vạch ra, Husserl cũng có tham vọng thiết lập một triết lý như một khoa học thực sự, nghĩa là dựa trên những nguyên lý chắc chắn hoàn toàn. Trong tác phẩm "Triết học kể như khoa học chặt chẽ", Husserl ghi nhận: trải qua dòng triết sử, triết học được coi như là khoa học. Tuy nhiên, trong thực tế, "mọi sự đều bị tranh cãi, mỗi lập trường chỉ là do xác tín cá nhân mà thôi". "Tôi không nói: triết học là một khoa học bất toàn; tôi nói: chưa phải là một khoa học, chưa bắt đầu trở thành một khoa học".
Như thế, phải áp dụng phương pháp giản lược (épochè); nghĩa là phải đặt trong ngoặc mọi thứ triết học, triệt để loại ra mọi giả thiết và trở về với chính các sự vật. Đó là hai cục diện của một phương pháp triết học.
Tuy nhiên, công việc ấy chỉ là giai đoạn khai quang. Cần tiến xa hơn, vì mục tiêu của nó là khoa học, do đó phải tìm hiểu bản chất của khoa học. "Khoa học nhằm những chân lý có giá trị một lần chung cho mọi trường hợp và cho mọi người". Đó là những chân lý hiển nhiên, không thể nghi ngờ được, và tất quyết. Như thế, theo giản lược triết học, chúng ta thấy : cho được kể là một khoa học, triết học phải căn cứ trên sự hiển nhiên tất quyết.
2. Giản lược Hiện tượng học (Ý hướng tính)
Giản lược nầy hàm ngụ hai loại giảm trừ khác, và được Husserl trình bày trong "Suy niệm Descartes". Mục tiêu nhằm bày tỏ cái chủ thể thuần túy. Trong công việc giảm trừ nầy, chúng ta có thể ghi nhận một phương diện tiêu cực : đặt thế giới trong ngoặc; và một phương diện tích cực : chủ thể được biểu lộ.
a. Giản lược về thế giới
Đình chỉ mọi kiến thức về thế giới. Cũng như Descartes, Husserl cho rằng : sự hiện hữu của ngoại giới không có tính cách hiển nhiên tất quyết. Nhưng Husserl đi xa hơn Descartes, vì ông còn đình chỉ mọi khoa học lấy thế giới làm đối tượng như : khoa học vật lý, khoa học nhân văn. Đình chỉ mọi khoa học thuần lý như toán học và luận lý học, vì đó là những hệ luận suy diễn vượt qua những gì là trực tiếp hiển nhiên. Cái thặng dư, là cái tôi thuần túy không thuộc phạm vi thực nghiệm, tâm lý hay siêu hình.
Một điểm dị biệt nữa đối với Descartes, đó là : theo Husserl, hoài nghi pháp của Descartes nhằm phủ nhận thế giới và không để lại trong tâm trí sự gì cả. Trái lại, việc giản lược hiện tượng học, giữ lại trong tâm trí điều xuất hiện ngay trong đó, tức là những hiện tượng thuần túy. Theo Husseel, phạm vi hoạt động của hiện tượng luận là ý thức thuần túy với những trạng thái của ý thức hay những hiện tượng mà ông gọi là những "sinh nghiệm" (vécus, Erlebnisse). Sinh nghiệm thuộc kinh nghiệm sống và hiện diễn trong dòng thời gian. Do đó, người ta có thể nói : đối tượng của môn hiện tượng luận là "trào lưu sinh nghiệm".
Như thế, qua giản lược hiện tượng học, triết gia bỏ thái độ tự nhiên: tôi thấy cây cối và cho là có thật, để có thái độ hiện tượng học: đình chỉ mọi kiến thức và kể mọi sự vật như là những "hiện tượng" mà thôi.
b. Ý hướng tính
Giản lược hiện tượng học là để một bên thế giới, nó làm xuất hiện bản ngã thuần túy và các sinh nghiệm hay hiện tượng như mói trên; nhưng đây không phải là một thứ ý thức đóng kín, vì ý thức luôn luôn liên lạc với đối tượng; "Mọi ý thức đều là ý thức về cái gì"; đó là ý hướng tính. Có nhiều loại ý hướng tùy theo mỗi động tác tâm lý.
"Có một điều mà giản lược về sự hiện hữu của thế giới không thể thay được: những ý tưởng (cogitationes) liên hệ đến thế giới đều mang theo chúng chính mối tương quan ấy: như tri giác về cái bàn nầy, trước cũng như sau, vẫn là tri giác về cái bàn nầy. Mọi trạng thái của ý thức đều là ý thức về sự gì, bất kể đối tượng có thực hữu hay không... Tri giác về một cái nhà, tức là nhắm một cái nhà theo phương diện tri giác; nhớ tới ngôi nhà là nhắm ngôi nhà như là một kỷ niệm... Những trạng thái của ý thức còn được gọi là trạng thái ý hướng. Ý hướng tính không có nghĩa là gì khác hơn cái đặc điểm căn bản của ý thức: ý thức là ý thức về một sự gì, ý thức vẫn bao hàm trạng thái ý thức và đối tượng của nó".
Do đó, chúng ta có thể rút ra một số nhận định:
1) Vì ý hướng tính xác định bản chất của ý thức, cho nên không thể cô lập hóa ý thức để nhận thực nó được. Tự nó chỉ là bản ngã thuần túy mà thôi.
2) Phải ghi nhận mối tương quan căn bản giữa hiện tượng và ý thức. Hiện tượng chỉ hiện hữu đối với ý thức và ý thức hiện hữu trong mối liên hệ với hiện tượng. Theo Husserl, ý hướng có hai cực: một cực thuộc đối tượng, được gọi là noema, tri kiện; một cực thuộc chủ thể mà ông gọi là noesis, tri hoạt. Hai cực đều tương hệ. Tri hoạt làm xuất hiện đối tượng trong tâm giới, khi ý thức nhắm sự vật nào. Đối lại, tri kiện cũng cần, vì chính nó cho ta biết loại ý hướng nào của ý thức.
Tắt một lời, hiện tượng luận được coi như là một môn học nhằm phân tích các ý hướng của ý thức.
Giản trừ triết học (réduction philosophique) là loại bỏ các quan điểm triết học đi trước; giảm trừ yếu tính (réduction éidétique) giúp ta tạm đạt thế giới vào trong ngoặc đơn, để chỉ nhìn nó như một hiện tượng; và sau hết là giảm trừ hiện tượng học, nhờ đó ý thức được gỡ mình ra khỏi mọi sự không phải là ý thức thuần túy; khi đó, ý thức có thể thấy mọi sự chỉ là đối tượng mà thôi.
3. Giản lược ý tượng học (Trực thức yếu tính)
Tuy Hiện tượng luận mô tả trào lưu sinh hoạt thực tế, nhưng không giới hạn trong phạm vi cụ thể ý thức. Hiện tượng luận còn có nhiệm vụ mô tả các sự vật, được coi là hiện tượng xuất hiện trong ý thức. Cũng như khoa học, hiện tượng luận khám phá cái tất yếu phổ quát. "Hiện tượng luận thuần túy, được coi là một khoa học, chỉ có thể là một học luận về yếu tính, chớ tuyệt đối không phải là học luận về sự hiện hữu... Đối với hiện tượng luận, cái đơn độc muôn đời vẫn là cái vô hạn định, vô tả. Hiện tượng luận chỉ nhận thức cách có giá trị khách quan về nhựng yếu tình và những tương quan giữa các yếu tính mà thôi".
Nhưng thế nào là yếu tính? Yếu tính hay ý tượng (eidos) có thể hiểu là ý nghĩa của các sự kiện đặc thù. Nhưng ý nghĩa nói đây có hai phương diện :
- điều gì giúp ta hiểu về một sự vật,
- và mối dây liên kết các cục diện phức tạp của những hiện tượng đặc thù.
Có truờng hợp yếu tính chỉ thuộc về một cá thể như "thế giới" "bản ngã". Nhưng chính yếu tính là mối dây liên kết mọi khía cạnh của cá thể. Cho nên, ý nghĩa của một sự kiện đặc thù vẫn có tính cách phổ quát. Phổ quát, yếu tính còn mang tính cách tất yếu nữa. Nơi một sự kiện nào đó, yếu tính chính là "hạch tâm" của nó, là điểm qui tụ mọi cục diện của nó.
Tuy phổ quát và tất yếu, yếu tính không bắt buộc phải là trừu tượng. Theo Husserl, yếu tính trừu tượng, khi đòi hỏi một yếu tính khác và lệ thuộc vào đó, như màu sắc lệ thuộc vào trương độ. Yếu tính cụ thể, khi đó biệt lập, như trường hợp cây cối, nhà cửa... Ngoài ra, Husserl còn phân yếu tính làm hai loại: mô thức và chất thể. Yếu tính mô thức hay hình thức không có nội dung nhất định, và có thể gán cho nhiều yếu tính khác; đó là những ý niệm đối tượng, đơn thể, đa thể. Yếu tính mô thức là đối tượng của môn hữu thể học hình thức. Yếu tính chất thể gồm những cơ cấu cụ thẻ như "người", "bản thể", đối tượng của môn hữu thể học địa phương.
Làm sao nhận thức được những yếu tính nói trên ? Nhờ một lối trực thức đặc biệt (Wesenschau). Cũng như ý nghĩa nói trên, trực thức là ý hướng của ý thức. Tuy nhiên, với ý nghĩa, ý thức nhắm tới đối tượng, nhưng chưa đạt tới. Nhờ trực thức, ý thức tiếp xúc giáp mặt với đối tượng. Ai cũng công nhận trực thức giác quan : giác quan tiếp nhận dữ kiện khả giác như mắt thấy ánh sáng, màu sắc, tai nghe được âm thanh hay tiếng khua động. Trực thức ý tượng đạt tới yếu tính cách trực tiếp.
Husserl xác nhận : trực thức yếu tính là một công việc khó khăn. Theo phương diện tri thức, trực thức đạt tới đối tượng mà không cần nhờ một trung gian nào. Nhưng theo phương diện tâm lý, cần phải có sự chuẩn bị đầy đủ, không phải theo kiểu mẫu quy nạp của khoa học thực nghiệm, nhưng theo đường lối đặc biệt mà tưởng tượng đóng một vai trò nổi bật.
Kết
Vào lúc cuối đời, Husserl đã thú nhận: "triết học kể như môn khoa học chặt chẽ, mộng ấy không thành". Thực sự, không một ai trong các đồ đệ của ông như Heidegger, Landgrebe, Edith Stein..., đã trung thành với triết thuyết và phương pháp do Husserl vạch ra. Husserl đã quá tham vọng chăng?
Tuy nhiên, ảnh hưởng của Husserl vẫn tồn tại và là ảnh hưởng lớn trong giới triết học hiện đại, nhất là phong trào hiện sinh. Sau Husserl, có rất nhiều tác phẩm triết học xuất hiện với đầu đề "hiện tượng luận về ...". Tuy nhiên, đó có phải là thực sự là hiện tượng luận đúng như Husserl mong muốn không ? Người ta hoàn toàn có thể đặt vấn đề như thế.
Thực sự, trong hiện tượng luận, có một phần rất gần với những quan tâm của trào lưu hiện sinh. Husserl đã nhấn mạnh đến cái "sống thực" mà hiện tượng luận có nhiệm vụ mô tả và đem ra ánh sáng. Các triết gia hiện sinh thì lại quan tâm đặc biệt đến thân phận nhân sinh, thân phận cụ thể, sống thực; do đó, họ đón nhận hiện tượng luận một cách nồng nhiệt. Chúng ta thấy J.P. Sartre phụ đề tác phẩm "Hữu thể và Vô thể" bằng câu "Khái lược Hữu thể học theo phương diện hiện tượng học" (Essai d'ontologie phénoménologique); Merleau-Ponty có tác phẩm "Hiện Tượng Luận về Tri Giác" (Phénoménologie de la perception). Một G. Marcel cũng đã soạn nhiều tác phẩm với nhan đề tương tự: "Hiện tượng luận về sở hữu", về "Hy vọng"...
Quả thật, ảnh hưởng của Husserl rất lớn và, xét về phương diện này, hiện tượng học đã quá đủ thành công. Tuy nhiên, mục tiêu nhằm tới của nhưng hiện tượng luận lại hoàn toàn không nằm trong những chủ đề căn bản của thuyết hiện sinh.
Husserl đã mong ước thiết lập một triết học theo kiểu mẫu khoa học, theo đường lối của Descartes. Ông cũng gọi hiện tượng luận của mình bằng từ ngữ của Kant : "duy tâm siêu nghiệm". Tuy từ ngữ của Husserl không thể hiểu hoàn toàn theo nghĩa của Kant, nhưng chúng ta cũng có thể nhận thấy nơi Husserl một lòng khát khao tìm tới những nền tảng vững chắc, "không thể chối cãi được", có giá trị phổ quát.
Như Husserl đã quả quyết: hiện tượng luận đòi hỏi sự góp sức của nhiều học giả trong một thời gian lâu dài. Bao giờ thì mộng ước của Husserl mới có thể thực hiện được?