BÀI 12: KARL MARX (1818-1883)

Theo Karl Marx, triết học đã đạt tới một đỉnh toàn hảo trong học thuyết Hegel và ông coi Hegel là triết gia duy nhất, vì Hegel toát lược tất cả các hệ thống triết học của các thế hệ đã qua. Cho nên, sau Hegel, khỏi cần tìm một triết học nào, nhưng vấn đề phải là "vượt qua" triết học mà thôi.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

[ Vì nhu cầu học tập, xin được lấy lại nguyên văn phần Karl Marx này trong giáo trình Lịch Sử Triết Học Tây Phương của Cha Lê Tấn Thành.]

1. Tiểu sử

Karl Marx sinh ngày 4-5-1818 tại Trèves, bấy giờ thuộc vương quốc Phổ. Người cha gốc Do thái, là một luật sư nổi tiếng và thích những triết gia thế kỷ XVIII. Ông sớm bỏ đạo tổ tiên mà gia nhập đạo Tin lành.

Karl Marx học luật, thể theo ý ng uyện của thân phụ, tại đại học Bonn và Berlin. Ông thích văn chương và triết học hơn môn luật, nhất là học thuyết Hegel được hiểu theo hướng cách mạng. Năm 1841, ông đệ trình luận đề tiến sĩ ở đại học Iena với đề " Điểm dị đồng trong triết học về thiên nhiên nơi Démocrite và Epicure".

Với bằng cấp tiến sĩ, Karl Marx có một tương lai khá tươi đẹp trong ngành giáo chức đại học. Tuy nhiên, vì lý do chánh trị và sở thích hoạt động nên ông dấn thân vào nghiệp báo chí. Trong lúc nầy, ông có dịp kết thân với Feuerbach, một triết gia có lập trường duy vật. Mùa xuân năm 1843, tờ báo ông cộng tác, báo Gazette Rhénane, bị đình bản vì những bài táo bạo. Karl Marx nổi tiếng và được mời cộng tác với một tờ báo mới với tiền thù lao dồi dào. ông nhờ đó mà lập gia đình, cưới ái nữ của một bá tước người Đức, tên Jenny von Wesphalen.

Sau vài tháng lưu ngụ tại lâu đài của nhạc phụ, ông sang Paris để xúc tiến công việc báo chí. Tại đó, ông bắt đầu liên lạc với nhiều nhóm chánh trị gia cách mạng lưu vong người Đức như Engels, hay Nga như Bakounine và những nhà xã hội Pháp như Proudhon. Karl Marx là một học giả chuyên cần, thường làm quen với giới trí thức lừng danh và quan tâm đặc biệt tới vấn đề kinh tế chánh trị. Trong một bài báo Đức, Karl Marx tán thành âm mưu sát hại vua nước Phổ. Do đó, ông bị trục xuất khỏi Pháp quốc và sang lưu trú tại Bruxelles (Bỉ).

Cuộc sinh hoạt tại đây vẫn như thường lệ; ông tiếp xúc với những nhà cách mạng tứ xứ, theo dõi tình hình lao động Anh quốc và lo thành lập khắp các thành thị Âu châu những ủy ban liên lạc cộng sản. ông gia nhập một "Hội Cộng Sản" và đi sang London tham dự đại hội của Hội ấy năm 1847. Ông được giao phó công việc biên soạn bản tuyên ngôn, mang tên là "Tuyên Ngôn của Đảng CS". Do sự can thiệp của của vua nước Phổ, ông lại bị trục xuất khỏi nước Bỉ. Ông trở qua Paris rồi sang Cologne, Đức. Trong vòng một năm ông cho xuất bản một tờ báo. Tuy nhiên, ông lại bị trục xuất khỏi Đức quốc và Paris, rồi lại phải bỏ Paris mà sang London vào tháng 6 năm 1849.

Năm 1846, Karl Marx tham dự vào việc thiết lập "Đệ Nhất Quốc Tế" (Hiệp hội quốc tế các người lao động). Ông tích cực hoạt động để bảo vệ đường lối của Hội. Ông qua đời ngày 14-3-1883.

Trong thời gian trú ngụ tại Paris lần đầu, Karl Marx đã biên soạn nhiều tác phẩm nền tảng cho chủ thuyết của ông như : Kinh Tế Chánh Trị và Triết Học, Ý Thức Hệ Đức, Những Đề Luận về Feuerbach, Nỗi Lầm Than của Triết Học. Từ năm 1849 cho tới chết, ông dành nhiều thì giờ nghiên cứu về kinh tế chánh trị. Năm 1859, ông cho xuất bản "Đóng Góp vào việc Bình Luận về Kinh Tế Chánh Trị" và năm 1867, phần đầu cuốn Tư Bản, Bình Luận về Kinh Tế Chánh Trị. Engels cho xuất bản phần hai năm 1885 và phần ba năm 1894.

Hiệp hội Đệ Nhất Quốc Tế tan rã vào năm 1872. Năm 1889, "Đệ Nhị Quốc Tế" được thành lập tại Paris và "Đệ Tam Quốc Tế" tại Mạc tư khoa năm 1917.

2. Tư tưởng

A. Quan Niệm Về Triết Học

Theo Karl Marx, triết học đã đạt tới một đỉnh toàn hảo trong học thuyết Hegel và ông coi Hegel là triết gia duy nhất, vì Hegel toát lược tất cả các hệ thống triết học của các thế hệ đã qua. Cho nên, sau Hegel, khỏi cần tìm một triết học nào, nhưng vấn đề phải là "vượt qua" triết học mà thôi. Trong ngôn ngữ của Hegel danh từ có nghĩa là vừa hủy bỏ vừa giữ lại. Đặc điểm của triết học là một cố gắng suy tư lý thuyết. Vượt qua tức là bỏ thái độ lý thuyết, phải thực hiện lý thuyết bằng hành động. Như thế, hoạt động lý thuyết suông được hủy bỏ, chỉ giữ lại triết học, trong khía cạnh hướng dẫn hoạt động thực tiễn mà thôi. Chủ ý của Karl Marx không phải là chiêm ngưỡng, mà là hành động, bắt tư tưởng phục lụy hành động. "Các triết gia chỉ giải thích thế giới theo nhiều cách khác nhau mà thôi; điều quan trọng, là biến đổi thế giới" (Đề luận XI về Feuerbach).

Biến đổi thiên nhiên và nhờ đó biến đổi con người bằng sự làm việc, đó là thực hành (praxis). Đó là một hoạt động "cách mạng", vì là phủ nhận và vượt qua những gì hiện hữu. Theo Hegel, mọi hành động đều mang tính chất hủy diệt. Tuy nhiên, hành động thực tiễn không phải là một hành động mù quáng. Nhưng phải được soi sáng chỉ dẫn. Chính khoa học thực nghiệm có nhiệm vụ soi sáng hành động. Theo Marx, chỉ có khoa học thực nghiệm mới là nguồn kiến thức có giá trị về thế giới hiện hữu, bởi lẽ đó là kiến thức được chứng minh bằng thực nghiệm và thực hành. "Vấn đề tìm hiểu coi tư tưởng con người có thể đạt tới một chân lý khách quan hay không, không phải là một vấn đề lý thuyết, mà là một vấn đề thực hành. Chính trong thực hành mà con người phải chứng minh chân lý... Việc bàn cãi về tính cách thực tại hay không thực tại của tư tưởng, nếu tách rời khỏi thực hành, chỉ là một việc bàn cãi hoàn toàn kinh viện mà thôi".

Như thế, chủ thuyết của Karl Marx không phải là một triết thuyết theo chủ nghĩa truyền thống. Nếu coi là một triết thuyết, thì triết thuyết ấy là một thứ bình luận về triết học nói chung và về những hệ thống tư tưởng như duy tâm hay duy cơ - một thứ thực nghiệm thuyết và thực dụng thuyết - tựu trung vào hai đề : không có siêu hình học kể là một khoa học vượt qua khoa học thực nghiệm, và không thễ có một suy tư nào có giá trị, nếu tách rời khỏi hành động.

Xét theo một phương diện nào đó, chúng ta thấy tư tưởng của Karl Marx là nơi gặp gỡ của ba trào lưu khác nhau: Hegel qua biện chứng pháp; Feuerbach qua thuyết duy vật và lập trường vô thần và các nhà xã hội Pháp, qua xã hội chủ nghĩa.

B. Biện Chứng Pháp

Karl Marx coi biện chứng pháp là một khám phá quan trọng nhất của Hegel và là điều cần phải giữ lại. Tuy nhiên, cũng phải nhận thức rằng: chỉ có phương pháp ấy mới có tính cách cách mạng, còn toàn hệ thống tư tưởng của Hegel đều là bảo thủ. Câu hỏi được Karl Marx nêu ra và giải đáp: biện chứng pháp lệ thuộc vào lập trường duy tâm ? Thưa là không tất yếu, trong quan điểm duy vật, biện chứng pháp là định luật chi phối thiên nhiên, mà cũng là định luật chi phối tư tưởng, trong trường hợp tư tưởng phản chiếu thiên nhiên.

Engels định nghĩa biện chứng : "khoa học về những luật tổng quát chi phối chuyển động và biến hóa của thiên nhiên, của xã hội loài người và của tư tưởng".

Lénine xác định rõ hơn bằng lời định nghĩa nầy : "Biện chứng pháp, theo đúng nghĩa từ ngữ, là học luận về những mâu thuẫn nằm ngay trong bản chất sự vật".

Theo Karl Marx, biện chứng pháp chính là thiên nhiên biến chuyển và biến đổi không ngừng, và diễn tiến theo con đường xung đột giữa các lực lượng đối nghịch, căng thẳng giữa hai hay những đối cực.

Do đó, tư tưởng biện chứng đối nghịch với mọi tư tưởng siêu hình, vì siêu hình học chỉ nhằm những sự vật ù lì, cô đọng, bất di dịch và lệ thuộc vào nguyên lý mâu thuẫn. Trái lại, biện chứng chỉ nhắm thế giới biến chuyển mà thôi và đương đầu với mọi mâu thuẫn.

Như thế, người ta có thể ghi nhận môt thứ chủ thuyết tương đối chăng ? Câu hỏi được nêu ra, vì theo thuyết Karl Marx, con người phải từ bỏ tham vọng đạt tới chân lý dứt khoát, trường cửu. Nếu không có chân lý trường cửu, thì chủ thuyết của Marx cũng sẽ cùng chung số phận với các chủ thuyết khác. Nghĩa là cũng sẽ bị vượt qua ? Các học giả chuyên môn về thuyết Karl Marx nhận thấy : Engels và Marx đã không thấy vấn đề trầm trọng ấy. Sau nầy, Lenine đã nhận thức trước tiên và giải thích rằng: "Có vô số chân lý trường cửu và tuyệt đối mà chỉ có người điên mới nghi ngờ". Khoa học, tuy là tương đối, theo nghĩa kiến thức đại lược về thiên nhiên vào một lúc nào nhất định, nhưng vẫn có giá trị tuyệt đối trong giới hạn ấy. Trái lại, mọi ý thức hệ khác, siêu hình học, tôn giáo, đạo đức, đều hoàn toàn tương đối, nghĩa là không có giá trị khách quan.

C. Chủ Nghĩa Duy Vật

Karl Marx không phải là người đầu tiên đã có lập trường duy vật. Những triết gia thế kỷ XVIII Âu châu đã chủ trương như thế. Tuy nhiên, lập trường của Karl Marx độc đáo ở chỗ đồng hóa vật chất với biến chuyễn, tiến hóa theo đường lối biện chứng.

1) Vật chất

Như đã nói trên, Marx dung nạp tư tưởng của Hegel, nhưng sửa đổi theo ý mình. Theo Hegel, tinh thần biểu lộ chính mình trong vật chất. Marx nghĩ rằng : phải quả quyết là chính vật chất sản xuất tinh thần, nên cần phải đề cập tới vật chất trước tiên. Hơn nữa, Marx gán cho vật chất những gì Hegel đã gán cho tinh thần: vật chất hằng hữu và con đường tiến của nó đưa tới sự sống và sự kiện tiến hóa của vật chất giải thích nguồn gốc con người.

Theo Marx, Hegel đã quá đề cao vai trò của những ý thức hệ, những tư tưởng cá nhân, vì quan niệm ấy không đúng với thực tế. Ông phân biệt thượng tầng cơ sở hay ý thức hệ, tôn giáo... và hạ tầng cơ sở. Hegel quá chú tâm đến vai trò của thượng tầng cơ sở. Marx đề cao hạ tầng cơ sở gồm những động lực kinh tế, và quả quyết: không phải những ý tưởng điều khiển thế giới, nhưng những ý thức hệ lệ thuộc vào hoàn cảnh xã hội và hoàn cảnh xã hội bị chi phối bởi những động lực kinh tế. Như thế, cuối cùng, chính hạ tầng cơ sở xã hội mới thật là động cơ chính yếu của lịch sử.

2) Lịch sử

Lịch sử nhân loại ăn liền với những yếu tố kinh tế, cụ thể là những phương tiện sản xuất. Lịch sử biến đổi theo đà tiến bộ của những dụng cụ sản xuất. "Cối xay bằng sức cánh tay cung cấp mẫu xã hội lãnh chúa, cối xay bằng hơi nước cung cấp mẫu xã hội tư bản kỹ nghệ". Mối tương quan giữa dụng cụ sản xuất và hoàn cảnh lịch sử nhân loại rất chặt chẽ. Dưới chế độ công xã, dụng cụ thô sơ, gồm vật dụng bằng đá, cung tên. Con người phải hợp lực đấu tranh để sinh tồn, nên không có giai cấp xã hội dị biệt, mọi sự đều là của chung. Dưới chế độ nô lệ, dụng cụ sản xuất là những nông cụ. Do đó, xuất hiện tình trạng tư hữu về ruộng đất cũng như về nông cụ. Tình trạng giàu nghèo khiến sau cùng hạng người nghèo phải đợ thân cho nhà giàu. Trong chế độ phong kiến, nhờ có dụng cụ sản xuất hoàn hảo hơn, nên tình trạng chủ điền tá điền thịnh hành. Trong xã hội tư bản, dụng cụ sản xuất là những máy móc và những xí nghiệp lớn; do đó người công nhân[ Hàng chữ này bị cắt xen trong giáo trình Ronéo, xin thêm vào cho rõ nghĩa ] phải dồi dào sức cần lao để kiếm tiền độ thân. Họ bị bóc lột và khai thác. Trong chế độ này, tiền bạc và vua vạn năng. "Tôi xấu xí, Marx viết, nhưng tôi có thể mua được một người vợ đẹp nhất. Vậy tôi không xấu xí, vì hậu quả của sự xấu xí bị tiền bạc tẩy xóa".

Vì thế, trong chế độ xã hội chủ nghĩa, chính xã hội làm chủ các phương tiện sản xuất. Không còn hạng giàu nghèo, không còn giai cấp sang hèn nữa.

Theo duy vật sử quan, nhân loại sẽ tiến hóa theo đường hướng giải phóng giới vô sản, để xây dựng xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ mọi dị biệt hay xung khắc giữa con người và vũ trụ, giữa con người với nhau, giữa con người và xã hội và giữa những giai cấp xã hội. Trào lưu lịch sử sẽ diễn tiến qua những xung đột bắt buộc, nhất là qua giai cấp đấu tranh.

Một vấn nạn căn bản liên hệ đến chính cộng sản chủ nghĩa: Chế độ cộng sản là khởi điểm hay là điểm cuối cùng của lịch sử ? Về điểm này, tư tưởng của Marx không được rõ ràng. Một đàng, ông trình bày thuyết cộng sản như là giai đoạn kết thúc lịch sử. Nhưng đàng khác, ông cũng nói: cho tới khi chế độ được thiết lập toàn thế giới, nhân loại chỉ mới ở trong giai đoạn "tiền sử" mà thôi. Như thế tùy theo người ta kể thuyết cộng sản như là một phương pháp, thì vấn đề "cách mạng thường xuyên" không còn đặt ra nữa, như quan điểm của Trotski. Trong quan điểm ấy, chủ nghĩa cộng sản chỉ là một giai đoạn lịch sử, cần phải vượt qua. Nhưng nếu coi chủ nghĩa ấy như là một hệ thống, thì một khi hủy diệt cuộc giai cấp đấu tranh, lịch sử sẽ dừng lại; vì luật biện chứng là cốt yếu của lịch sử, không còn cơ hội áp dụng nữa. Về vấn đề nầy, những lý thuyết gia giáo điều cho rằng: đó là vấn đề đặt sai, vì không đáp ứng với nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, đối với những lý thuyết gia có lập trường xét lại, thì cần phải cân nhắc nhiều hơn.

d. LẬP TRƯỜNG VÔ THẦN

Lập trường vô thần của Karl Marx không trực xuất từ lập trường duy vật. Trước khi chủ trương thuyết duy vật, Marx đã viết trong luận đề tiến sĩ nói trên: "... Tôi ghét tất cả các thần minh. Và câu châm ngôn nầy chống đối mọi thần minh trên trời dưới đất không nhìn nhận lương tâm con người là vị thần tối thượng". Và khi về già, Marx cũng giữ một lập trường: "Việc đả kích tôn giáo đưa tới giáo thuyết nầy : là con người là chủ tể đối với con người".

Đặc biệt, Marx gặp trong tư tưởng của Feuerbach quan niệm căn bản về tôn giáo. Theo triết gia nầy, ý niệm về Thiên Chúa là do trí tưởng tượng của con người bày ra, vì không dám nhìn nhận chính khả năng của mình. Đó là một sự "phóng thể". Marx dung nạp quan niệm ấy : "Nền tảng của mọi công cuộc đả kích tôn giáo là thế nầy: con người tạo ra tôn giáo, chớ không phải tôn giáo tạo ra con người".

Tuy nhiên. Marx không đồng ý với Feuerbach về một điểm quan trọng. Ông trách Feuerbach đã nhắm con người cá nhân khi giải thích tôn giáo. Theo Marx, tôn giáo là một "sản phẩm xã hội" và phản chiếu tình trạng của một xã hội nhất định. "Feuerbach không thấy rằng: tâm tình tôn giáo là một sản phẩm xã hội và cá nhân trừu tượng mà ông phân tích thuộc về một hình thức xã hội nhất định" (Luận Đề VII).

Karl Marx phân tích tôn giáo theo ba quan điểm: bản chất, nguồn gốc và vai trò xã hội của tôn giáo.

1. Bản chất

Một danh từ xác định bản chất tôn giáo: đó là sự phóng thể của con người. Tôn giáo làm cho con người ra trống rỗng, gán cho bóng ma một Thiên Chúa những gì là thiết yếu của chính con người. Do đó, con người đứng trước hai điều phải chọn: hoặc Thiên Chúa hoặc con người: "Lập trường vô thần là sự phủ nhận Thiên Chúa và nhờ sự phủ nhận ấy, thiết lập sự hiện hữu của con người". Phải hiểu sự hiện hữu nói đây, là sự hiện hữu hoàn bị, tự chủ, thoát khỏi mọi lệ thuộc và bó buộc. Một khi đã thấy rõ bản chất của tôn giáo, con người liền thấy ngay là cần phải hủy diệt tôn giáo.

2. Nguồn gốc

Nếu chúng ta tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của tôn giáo trong nhân loại, chúng ta thấy rằng : ý niệm về Thiên Chúa có được là do sự kiện con người cảm thấy bất lực trước huyền lực của thiên nhiên, như trường hợp các bộ lạc sơ khai, hoặc trước cảnh xã hội áp bức, như trường hợp giai cấp vô sản trong chế độ tư bản. Tắt một lời, tôn giáo là sản phẩm của một xã hội áp bức, vì đó, tôn giáo là "tiếng kêu lên từ cảnh lầm than thực sự" và đồng thời là "tiếng phản kháng chống cảnh lầm than ấy". Là tiếng kêu, vì con người ở trong cảnh bị áp bức và lệ thuộc, có khuynh hướng phản chiếu giai cấp thống trị vào trong một thần thánh toàn năng và siêu việt. Nhưng là tiếng phản kháng, vì bất lực trước cảnh lầm than, con người đặt tất cả niềm hy vọng hạnh phúc vào một thế giới khác, vào hậu kiếp. Theo Marx, một khi hủy bỏ cảnh lầm than, thì tôn giáo cũng sẽ biến tan.

3. Vai trò xã hội

Hai điểm trên cho chúng ta thấy phần nào vai trò của tôn giáo. "Tôn giáo là nha phiến của nhân dân"; Vai trò ru ngủ. Lợi dụng tình trạng lầm than của con người, tôn giáo củng cố địa vị cho cấp thống trị, đồng thời xoa dịu nỗi thống khổ, gia tăng sức chịu đựng của giới vô sản. Đặc biệt, đối với Kitô giáo, Marx nặng lời chỉ trích. Giáo lý Kitô biện minh cho các bất công xã hội và duy trì tình trạng ấy, bằng cách hứa hẹn cho hạng người bị áp bức một thứ hạnh phúc huyền ảo mai sau trên trời.

Qua những điểm trên, Marx kết luận là phải hủy diệt tôn giáo "Niềm hạnh phúc thực sự của nhân dân đòi phải hủy diệt tôn giáo, là một thứ hạnh phúc hảo huyền của nhân dân".

Cho nên một trong những cách giải phóng con người, là hủy bỏ mọi thứ tôn giáo, để trả lại cho con người phẩm giá cao quí. Marx đã khéo lợi dụng tình thế, để đả kích tôn giáo, và mọi cố gắng biện minh cho tôn giáo đều được coi là phản động. Lénine đã nói thẳng ra rằng:

"Tôn giáo, các giáo hội, các tổ chức tôn giáo đủ loại, thuyết Karl Marx kể như là những cơ quan phản động của giới trưởng giả, dùng để bênh vực sự bóc lột và ngu dân,... mọi biện hộ thành thật, khóe léo tới đâu về ý niệm Thiên Chúa, cũng nhằm biện minh cho phản động mà thôi".

Tuy nhiên, cũng nên biết rằng: lập trường vô thần sẽ biến mất, khi, với đà tiến hóa lịch sử, không còn ai tin có Thiên Chúa nữa. Vả lại, lập trường vô thần chỉ là một phương diện tiêu cực của nền nhân bản mới. Một nền nhân bản được xây dựng trên xã hội chủ nghĩa, theo tinh thần Karl Marx.

E . Xã Hội Chủ Nghĩa

Thuyết Karl Marx cũng được gọi là thuyết cộng sản, vì nhằm hủy bỏ quyền tư sản và chủ trương tập sản về các phương tiện sản xuất. Cách gọi như thế cũng thích hợp, vì ý thức hệ Karl Marx vẫn căn cứ trên chế độ kinh tế, cũng như mọi hành động cách mạng đều lệ thuộc vào đó. Tuy nhiên, đúng hơn, thuyết Karl Marx, trong tinh thần của vị sáng lập cũng như theo cách trình bày chánh thức, thuyết Karl Marx là một xã hội chủ nghĩa, nhằm xây dựng một xã hội hoàn hảo với một nền nhân bản thực sự. Không phải một thứ nhân bản không tưởng, nhưng là một "nhân bản khoa học" nghĩa là căn cứ trên khoa học thực nghiệm và khám phá những định luật của lịch sử.

1. Con người và xã hội

Theo Marx : "Hữu thể nhân linh không phải là một đặc tính trừu tượng ăn liền với cá thể lẻ loi. Xét theo thực trạng của nó, hữu thể nhân linh là toàn thể các tương quan xã hội" (Đề VI). Câu nói ấy không chỉ có nghĩa là: con người sống trong xã hội, và không có cá nhân sống lẻ loi mà thôi. Câu nói còn có nghĩa chính yếu là cá nhân chỉ hiện hữu thực sự trong xã hội và bởi xã hội mà thôi.

Và hơn nữa, chính sự làm việc hay cần lao xác định những tương quan xã hội. Con người làm việc là góp phần sáng tạo thế giới. Đồng thời cũng tự tạo chính mình nữa. "Mọi cái gọi là lịch sử thế giới chẳng qua là sản phẩm của con người do sức cần lao của con người". Karl Marx đã dung nạp giá trị của sự làm việc mà Hegel đã đề cập trong tác phẩm Hiện tượng học: " Điều quan trọng nhất trong tác phẩm Hiện Tượng Học của Hegel là nêu ra ánh sáng bản chất của sự làm việc, và cho thấy rằng: con người chân chính, thực hữu là kết quả của kính sự làm việc của mình". Đó là bản chất chính yếu cần lao; tuy nhiên, con người cũng gặp phải nhiều khó khăn cần vượt qua.

2. Cần lao phóng thể

Trong cố gắng sáng tạo, con người bị phóng thể. Tìm hiểu guồng máy phóng thể và tìm cách hủy diệt, đó là chủ tâm của Marx trong công việc bình luận về kinh tế chính trị học. Marx phân biệt, đối với một vật gì, hai loại giá trị: dụng giá hay là công dụng của nó để thỏa mãn nhu cầu con người ; và giá đổi chác, giá trị nầy là do sức cần lao con người mà có.

Giá đổi chác được biểu trưng bằng tiền bạc; và tiền bạc lại có khả năng mua lấy sức cần lao. Tiền bạc trở thành tư bản. Cho nên, chế độ tư bản là một chế độ kinh tế mà tiền bạc gia tăng nhờ sự làm việc. Tiền gia tăng đó là thặng giá. Vậy, thặng giá là chính giá cần lao không được trả cho người lao động bằng tiền lương, nhưng để tăng vốn tư bản. Như thế, chế độ tư bản là một chế độ bóc lột người lao động. Dó đó, một đàng, người lao động biến thành người "Vô sản", làm vừa đủ sống mà thôi; đàng khác, về phía tư bản, số vốn ngày càng gia tăng và nằm trong tay một thiểu số. Hai hiện tượng: vô sản hóa và tập trung tài sản, bắt buộc phải đi tới giai cấp đấu tranh.

3. Xây dựng xã hội chủ nghĩa

Marx chủ trương giai cấp đấu tranh để xây dựng xã hội mới để cho giai cấp vô sản cầm quyền.

a) Hành động cách mạng

Theo Marx, chế độ tư bản sẽ sụp đổ do những khủng hoảng kinh tế liên tục, tình trạng sản xuất dư thừa, nạn thất nghiệp và cảnh nghèo khổ của dân chúng. Tuy nhiên, giới lao động cũng cần phải đóng một vai trò chủ chốt trong việc hủy diệt chế độ tư bản. Marx đưa ra những chỉ thị hành động như sau:

1/ Không được quên mục tiêu tối hậu: không phải là cải tổ hay cải thiện xã hội hiện hữu, nhưng là hỷ bỏ xã hội ấy.

2/ Phải "làm cho tình trạng áp bức ra áp bức hơn, bằng cách làm cho người ta ý thức về sự áp bức". Đó là công việc ý thức hóa (conscientiser), nhằm duy trì tinh thần đấu tranh.

3/ Mục tiêu gần là thiết lập giai cấp vô sản. Cấp vô sản chỉ mạnh khi được thành một khối chặt chẽ: "Sự tập trung tuyệt đối và kỹ luật nghiêm chỉnh là một trong những điều kiện căn bản để giới vô sản chiến thắng giới trưởng giả".

4/ Phải dùng mưu lược thích ứng cho mọi hoàn cảnh. Sau nầy Lénine giải thích: "Không có luật chung thích ứng cho mọi trường hợp. Phải bắt trí não làm việc cho từng trương hợp đặc thù".

5/ Cố gắng hủy diệt xã hội trưởng giả bằng hành động chánh trị:

- Nuôi dưỡng và gieo vào đầu óc quần chúng thuộc mọi tầng lớp, ý nghĩa một cuộc cách mạng không tránh khỏi được.

- Gia tăng số người vô sản bằng những luật xã hội, sưu thuế năng nhằm bần cùng hóa những giới tiểu công nghệ...

Hành động cách mạng phải đưa giới vô sản toàn thắng lên cầm quyền.

b) Vô sản cầm quyền

Một chánh phủ cộng sản sẽ được thành lập, chánh phủ gồm nhiều uỷ ban nhân dân. Công việc điều hành và phối hợp đều do Đảng CS.

Karl Marx trước tiên không muốn bàn tới chương trình hoạt động của chánh phủ cộng sản. Tuy nhiên, vì cần xác định lập trường để tránh những lối lạc hướng, nên trong một tập nhỏ nhan đề : Bình luận về chương trình Gotha, ông vạch ra những điểm chính yếu như sau:

1/ Nhà nước cộng sản sẽ lấy thuyết duy vật biện chứng làm chủ thuyết chánh thức, loại bỏ tôn giáo, ý thức hệ duy lý và nền luân lý cổ truyền.

2/ Loại bỏ các giai cấp xã hội trưởng giả, thay thế cấp lãnh đạo cũ bằng những thành viên thuộc tổ chức lao động.

3/ Quốc hữu hóa mọi phương tiện sản xuất, để tài sản quốc gia là của mọi người.

4/ Nhà nước cộng sản, chủ nhân ông duy nhất, sẽ đảm trách mọi sinh hoát chính trị, kinh tế, quan tâm đến việc kỹ nghệ hóa xứ sở...

5/ Nhà nước mới sẽ hủy bỏ chế độ gia đình hiện hữu, vì "dựa vào tư bản, lợi tức cá nhân.

Như thế, xã hội chủ nghĩa, với sự thành lập chế độ cộng sản, xuất hiện như một nền nhân bản mới, tích cực, thực tiễn. Chính nền nhân bản thực tiễn nầy củng cố và hoàn bị hóa nền nhân bản lý thuyết, căn cứ trên sự hủy bỏ tôn giáo.

"Sự tích cực hủy bỏ quyền tư sản... cũng là sự hủy bỏ mọi thứ phóng thể... Sự phóng thể tôn giáo chỉ hoạt động trong lãnh vực lương tâm, trong tâm giới con người; nhưng sự phóng thể kinh tế hoạt động ngay trong đời sống thực tế của con người; sự hủy bỏ loại phóng thể nầy bao gồm cả hai lãnh vực sinh hoạt con người".

"Thuyết vô thần là thuyết nhân bản qua trung gian của việc hủy bỏ tôn giáo, và thuyết cộng sản là thuyết nhân bản qua trung gian của việc hủy bỏ quyền tư sản. Chỉ khi nào hủy diệt được mối trung gian ấy, nhưng mối trung gian ấy là một điều kiện tiên quyết cần yếu, thì nền nhân bản tích cực mới chớm nở mà thôi".

Chúng ta thấy hai công việc vẫn đi đôi luôn: ít là trong giai đoạn thiết lập xã hội chủ nghĩa. Marx quả quyết: "Giới vô sản, đó là sự thể hiện thuyết vô thần trong xã hội"; "Phải biến giới vô sản, mà từ trước đến giờ chỉ được kể là một hiện tượng đau khổ và bất công xã hội, thành một lực lượng lịch sử, có nhiệm vụ phủ nhận Thiên Chúa, bằng cách sáng tạo một trật tự xã hội vắng bóng Thiên Chúa".

Sứ mạng của giới vô sản được coi như một sứ mạng cứu độ. Marx không quên nêu lên những điểm tương đồng : cũng như Đức Kitô, người vô sản cũng sống nghèo, bị ruồng bỏ và chết đau khổ, và mất phẩm giá con người. Người vô sản cũng có sứ mạng phục vụ cho toàn thể nhân loại.

Có thể nói, xã hội chủ nghĩa của Karl Marx mang sắc thái một nền nhân bản mới, nhằm tạo dựng một con người mới trong một xã hội mới, hoàn hảo tuyệt vời. Hơn nữa, chủ nghĩa xuất hiện với sứ mạng cứu độ chúng sinh, với vẻ của một tôn giáo, một con đường thần bí tu đức mới, cũng bao quát toàn diện nhân sinh. Do đó, xét theo phương diện tư tưởng cũng như hành động, hai khía cạnh bất khả phân trong nhãn giới cộng sản, lập trường vô thần và thuyết cộng sản là hai sắc thái tương hệ vào nhau của một nền nhân bản duy nhất mà thôi.

Kết

Chúng ta thấy, thuyết Karl Marx lệ thuộc vào học thuyết của Hegel, qua phương pháp biện chứng và qua lập trường duy vật mà Marx phản ứng chống Hegel, vì chỉ là lập trường duy tâm của Hegel bị Marx lật ngược lại mà thôi.

1. Trong lập trường duy vật của Marx, chúng ta có thể ghi nhận một vài nét chân lý. Đúng ra, không phải tư tưởng con người thiết lập vũ trụ, mà vũ trụ hiện hữu biệt lập, điều mà Hegel không chấp nhận. Hơn nữa, Marx đã có lý mà nhấn mạnh đến vai trò của vật chất đối với sinh hoạt con người trong nhiều lãnh vực: lịch sử, tâm lý, xã hội.

Tuy nhiên Karl Marx đã biến lập trường thành một chủ nghĩa và như thế, không cần chứng minh và cũng không cần quan tâm tới những sự kiện hiển nhiên.

2. Về phương pháp biện chứng, chúng ta đã ghi nhận vấn nạn liên hệ đến chính bản chất của nó: nếu tiến mãi, vì hoặc nếu ngừng lại thì trong hai trường hợp, xã hội chủ nghĩa cũng phải bị vượt qua. Đàng khác, những cuộc tranh chấp trong một xã hội là do nơi những con người lạm dụng tha nhân như những phương tiện suông để trục lợi. Đó là hậu quả của sự lạm dụng quyền tự do con người, chớ không phải là những định luật chi phối sinh hoạt toàn thể nhân loại trong dòng lịch sử. Trong một lúc sáng suốt, Engels đã thú nhận điểm ấy: Ông gọi luật biện chứng là một "nhu cầu". Dĩ nhiên là một cái nhìn tiên thiên hoàn toàn. Tâm trí con người có đủ khéo léo để giải thích các sự kiện theo một lược đồ tiền chế. Vấn đề ở đây là: cách giải thích như thế có hợp lẽ phải và trung thực với thực tại toàn diện không?

3. Quan điểm tôn giáo, thuyết Karl Marx đã kích gắt gao về những quan điểm về tôn giáo đượm màu sắc nhân phàm. Người tín hữu đã có dịp đau thương làm một cuộc kiểm điểm về sinh hoạt tôn giáo. Thực ra, quan điểm của Marx chứng tỏ: ông chỉ biết Kitô giáo qua những hình ảnh méo mó hay lệch lạc. Tuy nhiên, một phần trách nhiệm cũng về phía người tín hữu. Trong công đồng Vaticanô II, các nghị phụ đã quả quyết:

"Trong sự phát sinh thuyết vô thần, người tín hữu có thể gánh một phần trách nhiệm không nhỏ. Vì chểnh mảng việc giáo dục đức tin, vì trình bày giáo lý cách sai lạc, và vì những lầm lỗi trong đời sống tôn giáo, luân lý và xã hội, người ta có thể nói rằng: thay vì bày tỏ, họ che giấu dung nhân chân chính của Thiên Chúa và của tôn giáo"

(Giáo Hội trong thế giới ngày nay, số 19).

Chúng ta đã thấy lập trường vô thần Karl Marx liên hệ mật thiết với thuyết cộng sản. Marx chỉ trích mọi triết lý không đi đôi với thực hành, Không có nghĩa là xã hội chủ nghĩa không căn cứ trên một triết lý, hay đúng hơn, là một triết lý thực sự. Lénine đã khẳng định: "Không lý thuyết cách mạng, thì không có phong trào cách mạng được". Và một lý thuyết gia cộng sản đã nói rõ:

"Thuyết Mác xít gắn bó chặt chẽ với một triết lý và một phương pháp: triết lý và phương pháp duy vật biện chứng. Vậy, cho được hiểu rõ thuyết Mác xít, cần phải học hỏi về triết lý và phương pháp ấy".

(Politzer, Những nguyên tắc căn bản của Triết Học, trang 21).