BÀI 13: JEAN PAUL SARTRE (1905-1980)

Sartre sinh ngày 21-6-1905, ông nội là người xứ Alsace, theo đạo Tin lành và là cựu sinh viên đại học Bách Khoa. Sartre mồ côi cha từ thuở lên hai; còn mẹ ông, theo đạo Công giáo, ở góa trong vòng 9 năm, rồi tái giá.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

[ Để làm tài liệu học tập, xin trích lại bài này trong giáo trình cha Lê Tấn Thành, Ronéo, Đại Chủng Viện thánh Giuse.]

1. Thân thế

Sartre sinh ngày 21-6-1905, ông nội là người xứ Alsace, theo đạo Tin lành và là cựu sinh viên đại học Bách Khoa. Sartre mồ côi cha từ thuở lên hai; còn mẹ ông, theo đạo Công giáo, ở góa trong vòng 9 năm, rồi tái giá.

Sartre sống trong gia đình trưởng giả, được ông nội chiều chuộng. Sau nầy, khi hồi tưởng lại thời niên thiếu, Sartre nghĩ rằng: lúc đó ông chưa được xử dụng quyền tự do. Thực sự, ông không có tỏ dấu gì phản kháng trật tự xã hội và phải đợi một thời gian khá lâu, mới cởi bỏ nếp sống cá nhân ích kỷ.

Triết gia đã được rửa tội lúc còn nhỏ, nhưng mới 11 tuổi, ông đã mất đức tin. Tính tình linh hoạt, khôi hài, các bạn học cũ vẫn còn nhớ học sinh và sinh viên Sartre là một người bạn thân dễ làm quen, dễ ở. Ông có tài về học vấn. Học xong bậc đại học, ông đã được thu nhận vào trường Cao Đẳng Sư Phạm. Ông trượt kỳ thi tuyển Thạc sĩ, nhưng năm sau lại đậu thủ khoa.

Sau thế chiến thứ hai, Sartre từ chức giáo sư và đeo đuổi nghiệp văn chương. Ông viết khoảng hơn 30 văn phẩm đủ loại, từ tiểu thuyết, kịch phẩm, tâm lý, đến triết học. Ông sáng lập tờ "Tân Thời". Cuối năm 1964, ông đã được giải thưởng văn chương Nobel, nhưng lần đầu tiên trong lịch sử giải thưởng ấy, người ta thấy một học giả từ chối không nhận cả danh dự lẫn tiền giải thưởng. Theo ý của Sartre, ông không nhận vì không muốn cho người ta ngộ nhận về giá trị tư tưởng của ông, ông sợ tư tưởng bị cảnh thế giá gượng ép từ bên ngoài, nghĩa là do giải thưởng Nobel mà trở thành thế giá, chứ không còn do chính bản chất của tư tưởng nữa.

2. Hoàn cảnh

Muốn hiểu rõ tư tưởng của ông, chúng ta nên biết qua hoàn cảnh của thời đại, vì tư tưởng của triết gia được coi là tiếng nói phản kháng thời đại của ông và nền triết học phồn thịnh trong giới trí thức Âu châu thời ấy.

a) Nền triết học Âu châu thừa hưởng di sản tinh thần của dân tộc Hy lạp, là một nền triết học duy tâm; đối tượng là một thế giới khách quan, khoa học. Nơi con người, chỉ nhắm phần tư tưởng, còn nhân tính chỉ còn là một ý tưởng trừu tượng. Không quan tâm đến con người với những nỗi niềm ưu tư trước cuộc sống cụ thể, trước giá trị và ý nghĩa của cuộc đời. Khuynh hướng duy tâm nầy lại đưa tới thuyết nhị nguyên, chia đôi hồn xác, vật chất tinh thần, thế giới và con người.

b) Thế giới hiện hữu là một thế giới kỹ thuật, có thể phân hóa con người; cũng là một thế giới của một xã hội có tổ chức, san bằng con người. Tệ hơn, đó là một thế giới trưởng giả: giai cấp hưởng thụ không đếm xỉa gì tới tình trạng bất công, lầm than, áp bức mà đa số nhân loại đang lâm vào. Đó cũng là một thế giới lạc quan, tin tưởng vào tiến bộ của nhân loại và lịch sử, muốn giải quyết và thống trị mọi sự, bằng năng lực lý trí.

Nhưng qua hai trận thế chiến, bao nhiêu biến cố bi đát, nhất là chiến tranh tàn khốc, kinh tế khủng hoảng đã cho con người thấy mình như là mất gốc, mất quyền tự do, công lý đi vào cõi không tưởng. Vì thế, con người cảm thấy một sự thất bại ê chề, vở mộng và đâm ra nghi ngờ về tương lai của cá nhân cũng như của toàn thể nhân loại.

Như chúng ta đã thấy trên, từ hơn một thế kỷ nay, một số học giả đã vang lên nhiều tiếng chuông cảnh cáo và đã phác họa hình ảnh con người đang sống trong cảnh đau khổ, người đi về cõi chết, bị nén vào trong thế giới phi lý, đang cảm thấy mình mang nặng trọng trách nhân sinh. Sartre xuất hiện trong thời buổi ấy và gia nhập trào lưu hiện sinh, đẩy mạnh đà tư tưởng hiện sinh theo một chiều hướng vô thần, nhằm thiết lập một nền nhân bản mới, cũng theo lối K. Marx hay Nietzsche phần nào: nền nhân bản vô thần.

3. Tư tưởng

A. NHÂN SINH QUAN

A.1. Con người nhìn thế giới

Trong Buồn Nôn, Sartre diễn tả về con người. Con người là gì ? Cảm tưởng của con người trong thế giới, trước cảnh tượng của vũ trụ: một cảm tưởng đầy phi lý, lo âu và buồn nôn.

a) Thực tại phi lý: vì chúng ta không thể giải thích tại sao có thực tại, tại có sao có tôi nữa ! Sự vật, cả tôi cũng đều là những vật dư thừa. "Chúng ta chỉ là những động vật hiện sinh lúng túng. Mỗi vật đều có cảm tưởng mình dư thừa đối với các vật khác... Còn chính tôi... tôi cũng là vật dư thừa".

b) Vì thế, tôi đâm ra buồn nôn, khi ý thức về tính cách phi lý của sự vật. Khi được nhìn rõ, cảnh vật liền mất vẻ đẹp mà trí tưởng tượng đã trang điểm. "Mọi sự đều vô tích sự, hoa viên, đô thị và chính tôi. Khi ý thức được điều ấy, nó làm cho bạn buồn nôn và mọi sự đều phất phơ lơ lững..."

c) Vì mọi sự đều phi lý và bắt buồn nôn, nên kiếp sống con người tràn ngập âu lo, con người cảm thấy mình như tan biến trong hư vô".

A.2. Con người nhìn vào mình

Vở kịch "Bầy ruồi" diễn tả con người quay về chính mình và khám phá ra quyền tự do, tuyệt đối và toàn diện. Nhân vật Oreste suy nghĩ về thân phận con người và khám phá một con đường mới, con đường tự do. Ai ai cũng có thể xử dụng con đường ấy, nhưng phần đông không biết được. "Bỗng chốc, sự tự do chụp lấy tôi và khiến tôi phải lạnh buốt".

Tự do tuyệt đối : con người tự xây dựng cuộc đời theo sáng kiến riêng của mình, không chấp nhận ai có quyền sai khiến, ra lịnh phải tuân hành. Dù có Thiên Chúa đi nữa, con người tự do cũng phải phủ nhận.

Con người cảm thấy xung quanh mình đều trống rỗng. Vì thế, càng thêm nỗi âu lo vô tả. Nhưng tự do nói đây không phải là trái chứng. Con người phải dấn thân đảm nhận trọng trách xây dựng cuộc đời của mình. Cho nên, con người tự do thực sự, phải quyết định dấn thân theo đường hướng thích hợp với quyền tự do hoàn toàn của mình.

A.3. Con người nhìn tha nhân

Vở kịch "Phiên xử kín" cho chúng ta thấy mối liên lạc giữa con người với nhai. "Địa ngục, chính là tha nhân": tha nhân xuất hiện như một đối thủ thù địch, áp bức tôi. Sự hiện diện của họ, cái nhìn của họ lột trần và làm khổ tôi.

Tuy nhiên, vì sống là sống với, cho nên, sự hiện diện của tha nhân là một sự cần thiết, giúp tôi ý thức về chính tôi. Do đó, mối liên lạc giữa tôi và người khác cũng dựa trên sự phi lý.

A.4. Con người nhìn xã hội

Trong "Buồn nôn" và nhất là trong "Những con đường tự do", Sartre đã phơi bày những tệ đoan của một xã hội đang đi xa con đường tự do. Ba hạng người được tác giả lưu ý:

a) Hạng bẩn thỉu: đó là những hạng trưởng giả cầu an, khai thác ngườn khác để hưởng thụ.

b) Hạng khiếp nhược: họ dấn thân vào thế sự để tìm một mục đích, nhưng bước khởi đầu không có gì là xác tín. Họ bám víu vào những giá trị mà họ cho là bất biến, để khỏi bận tâm áy náy.

c) Hạng người muốn sống mà không dấn thân, để được tự do, nhưng là một thứ tự do ảo tưởng.

Qua những văn phẩm nầy, tác giả mô tả tâm hồn của cả một thế hệ Pháp sau cuộc bại trận năm 1940. Quá bi quan chăng ? Đó là điều người ta trách cứ tác giả.

A.5. "Thuyết hiện sinh là một nhân bản chủ nghĩa"

Để trả lời, Sartre đã cho ra một tập nhỏ với nhan đề như trên. Tác giả quả quyết: triết lý của ông không phải là một bi quan chủ nghĩa, vì bức tranh xã hội không phải là quá đáng. Nó phản ánh và đi sát với thực trạng xã hội, một xã hội bị thế tục hóa. Đoạn văn dưới đây nói lên quan điểm của tác giả về vấn đề ấy:

"Vào năm 1880, khi các giáo sư Pháp cố gắng thiết lập một nền luân lý trần tục, họ quả quyết tương tự như thế nầy: Thiên Chúa là một giả thiết vô dụng và tốn kém, chúng ta hủy bỏ đi, nhưng cần phải có một nền luân lý, một xã hội và một thế giới có trật tự... Cũng phải có luật lệ tiên thiên bó buộc con người không được nói dối, đánh đập vợ mình, bó buộc con người phải sinh sản con cái... Khuynh hướng của phái cấp tiến ở Pháp là muốn không có gì thay đổi, nếu không có Thiên Chúa. Nhà tư tưởng hiện sinh lại nghĩ rằng: nếu không có Thiên Chúa thì bất tiện lắm, vì không có quyền lực nào bắt buộc con người đừng nói dối, bởi vì chúng ta chỉ đứng trên bình diện gồm toàn là con người mà thôi. Dostoiesky đã viết: 'Nếu không có Thiên Chúa, ai muốn làm gì cũng được'. Đó chính là khởi điểm của thuyết hiện sinh".

Triết gia nghĩ rằng: thuyết hiện sinh không đưa tới thất vọng. Trái lại, nó giúp con người thoát vòng lo âu và củng cố giá trị con người. "Con người là tương lai của con người". Thuyết hiện sinh nhắc nhớ con người về giá trị của quyền tự do và về những điều kiện phải thể hiện để sống tự do.

a) Tự do là cứu cánh của con người. Hành vi của người có thiện chí mang một ý nghĩa tối hậu là cuộc tìm kiếm tự do thuần túy. Chúng ta muốn tự do, vì tự do là vượt mọi hoàn cảnh đặc thù.

b) Nhưng sự tự do của tôi liên đới với sự tự do của tha nhân. "Tôi trách nhiệm về tôi và về mọi người và tôi tác tạo một hình ảnh về con người mà tôi lựa chọn: khi tôi chọn, tôi chọn con người".

c) Sự tự do đòi buộc tôi phải dấn thân; điều kiện cần thiết.

d) Dấn thân cách sáng suốt và thành thực: thái độ "ngụy tín" (mauvaise foi) là thái độ lầm lạc, đánh lừa. Cho nên, theo Sartre, thuyết hiện sinh là một thuyết khắc khổ nhất, đặc biệt dành cho những nhà chuyên môn và nhà triết học.

e) Sự tự do không đi đôi với niềm tin Thiên Chúa được. "Thuyết hiện sinh không phải là một chủ nghĩa vô thần toàn lực để chứng minh không có Thiên Chúa. Đúng hơn, thuyết hiện sinh tuyên bố: cho dù có Thiên Chúa đi nữa, điều đó cũng không thay đổi gì cả".

B. HỮU THỂ HỌC (theo "hữu thể và vô thể" )

Đây là tác phẩm quan trọng nhất. Nên lưu ý đến phụ đề: "Khái luận hữu thể học theo phương diện hiện tượng học" (Essai d' Ontologie phénoménologique). Như thế, tác giả đã nhận định lập trường: không bàn về thực tại sự (in se), nhưng chỉ đề cập đến hiện tượng. "Tư tưởng tân thời đã thực hiện được một tiến bộ quan trọng; khi chủ trương rằng: hữu thể chỉ là một chuỗi hiện tượng biểu lộ hữu thể mà thôi". Không có một thực tại núp sau hiện tượng, chính hiện tượng là tất cả thực tại.

Như thế, cần bàn đến hữu thể theo phương diện hiện tượng học: hữu thể của ngoại vật: hữu thể tại thân (être en soi) và hữu thể của con người: hữu thể vị thân (pour soi) và hữu thể vị tha

B.1. Hữu thể tại thân

Trong "Buồn nôn", sự vật xuất hiện như đống vật kỳ dị, nhầy nhụa. Ở đây, sự vật xuất hiện như một vật đóng kín, đục ngầu. Nó là nó, không gì khác. Hiện diện cho chính mình, hữu thể tại thân không ý thức gì cả, không do ai tạo nên cả, cũng không giải thích tại sao nó là nó, ở đây và bây giờ được. Nó là vật phi lý, ngẫu sinh dư thừa.

Xét theo phương diện nào đó, con người cũng là một sự vật:

a) Thể xác: con người cũng giống như mọi vật: ngẫu sinh, hiện diện trong vũ trụ bằng thân xác : "tôi sinh ra hay nói có thế giới hay tôi có xác: ba cách nói cùng một ý nghĩa".

b) Quá khứ: như một khối dày đặc đè trên con người tôi, xác định bản tính tôi.

c) Hoàn cảnh: chính sự tự do cũng là một sự kiện xảy tới cho tôi: "Chúng ta bị kết án sống tự do". Hoàn cảnh định vị trí con người tôi hạn định khả năng của tôi.

d) Cái chết: nó biến tôi thành một sự vật: "tôi sinh ra và sẽ chết: hai điều vô lý cả".

Vì thế, con người cũng theo số phận của các sự vật, đồng một quy chế của hữu thể tại thân.

B.2. Hữu thể vị thân

Nhưng con người nhờ có ý thức mà vượt qua giới hạn của hữu thể tại thân. Đó là chủ thể hiện diện trong mọi sinh hoạt tri thức. Hai đặc điểm của ý thức:

- ý thức là ý thức về cái gì: yêu, giận, sợ: đòi hỏi một đối tượng là ai hay sự gì. Cho nên hữu thể vị thân luôn luôn hướng tới một đối tượng.

- Ý thức là ý thức về mình: hiện diện với chính mình và về mình.

Chẳng những tôi biết ngoại giới, nhưng tôi cũng biết rằng tôi biết ngoại giới nữa.

Sự hiện diện của tôi đối với tôi không phải là mối liên lạc trực tiếp. Có một khoảng cách chia xẻ con người: Sartre gọi là vô-thể. Các sự vật khác chỉ là hữu thể, trái lại con người vừa là hữu thể vừa là vô thể. Hữu thể tại thân dày đặc, còn hữu thể vị thân không bao giờ đồng hóa với chính mình. "Thực trạng của nó không phải là hiện trạng, và hiện trạng của nó không phải là thực trạng" (Le pour-soi n' est pas ce qu' il n' est pas). Xét theo phương diện khả năng, hữu thể vị thân mang theo nó khả năng hủy thể, còn xét theo chiều hướng: đó là sự dự phóng (projet).

Một đặc điểm quan trọng của hữu thễ vị thân là tự do. Trong "Bầy ruồi", tác giả có nói đến tự do. Nhưng ở đây, tác giả đề cập với thuật ngữ trừu tượng hơn. Sự vật không có tự do. Bản tính của nó có trước nó: người thợ mộc, trước khi đóng chiếc bàn, đã nghĩ đến hình thức kiểu mẫu chiếc bàn rồi. Trái lại, nơi con người, không thể có bản tính tiền chế: "hiện hữu có trước yếu tính". Chính tôi phải tạo cho tôi một nếp sống. Con người không phải "hiện hữu để hoạt động, nhưng hiện hữu tức là hoạt động, và ngưng hoạt động là hết hiện hữu". Nói khác đi: con người hoàn toàn tự do.

Thực ra, Sartre thừa nhận hai sự kiện hạn định tự do:

- Không phải tôi tự tạo cho tôi quyền tự do: "Tôi bị bắt buộc xử dụng tự do"; "tôi bị kết án sống tự do".

- Chỉ có tự do trong một hoàn cảnh nhất định (liberté en situation).

Tuy nhiên, Sartre vẫn quả quyết: con người có tự do tuyệt đối để nhận hay chối bỏ mọi hoàn cảnh. Hoàn cảnh, tụ nó, không có giá trị nào, trừ giá trị mà tôi cho nó. Ví dụ: “bức tường trước mặt tôi cản trở tôi, bởi vì tôi muốn đi tới. Nếu tôi đi dọc theo, bức tường không còn là một chướng ngại vật nữa. Chiến tranh đối với tôi không quan hệ gì, nếu tôi cứ sống như thường lệ. Có bắt tôi thi hành quân dịch, tôi cũng còn tự do: đầu quân hay đào ngũ. Nếu tôi bị kết tội đào ngũ và phải ngồi tù, ở đó, chiến tranh không làm hại được tôi, nếu tôi cứ nghĩ tới việc giải khuây và trò chuyện với bạn tù khác..."

Cho nên, quyền tự do là quyền tiêu diệt chướng ngại vật (hủy thể). Cũng là quyền tự định một hướng đi cho cuộc sống cá nhân (dự phóng). Quyền tuyệt đối, phi lý, không thể biện minh được. Cho nên con người không thể cậy vào giá trị cố hữu hay quyền lực ngoại lai nào để định đoạt số phận mình. Con người cảm thấy nỗi lo âu không thể tránh được. Tâm trạng ngụy tín tức là tâm trạng của người không dám nhìn thẳng vào thực trạng của họ: tâm trạng hiện sinh.

Tự do cũng là nguồn phát sinh giá trị. Nếu lệ thuộc vào hoàn cảnh, thì cũng chính con người đem lại cho hoàn cảnh một giá trị. Sự vật ngoại giới chỉ nằm gọn trong không gian. Chỉ riêng con người là sống trong thời gian. Quá khứ của tôi, tôi không hủy bỏ được. Nhưng tôi có thể thay đổi nó, bằng cách chấp nhận hay phủ nhận nó, gán cho nó một ý nghĩa, một giá trị tiêu cực hoặc tích cực.

Nơi con người, có sự xung đột giữa hoàn cảnh, là một hình thức hữu thể tại thân, và chính bản thân, hữu thể vị thân. Xung đột không thể tránh được, và được Sartre phân tích, diễn tả bằng đề tài "ngụy tín" (mauvaise foi) qua hai thái độ: kể mình là chủ thể (hữu thể vị thần) và coi mình là đối tượng, sự vật (hữu thể tại thân) Tâm trạng của một phụ nữ trẻ có chồng, đi gặp một bạn trai. Thiếu phụ để cho người bạn nắm tay và cảm thấy ngại ngùng, nhưng đồng thời tự nhủ: mình không đi xa hơn nữa:

"Vấn đề quan trọng là đẩy lui cho thật xa cái phút định đoạt. Người ta biết trường hợp xảy ra lúc đó thế nào: thiếu phụ buông tay, nhưng không ngờ mình buông tay. Nàng không ngờ được, vì lúc đó tình cờ, nàng là tinh thần hòan toàn. Nàng kéo người đối thoại vào trong những câu chuyện tình cảm lý thuyết xa vời, bàn về đời sống, về đời của nàng. Dưới quan điểm căn bản ấy, nàng tỏ ra là một nhân vị, một ý thức. Và trong lúc ấy, hồn xác đều bị phân rẻ: tay nàng bất động, nằm gọn trong hai bàn tay ấm áp của tình nhân, không ưng thuận mà cũng không kháng cự, y như một sự vật vậy".

Sự xung đột ấy cũng nhận thấy trong mối liên lạc giữa cá nhân và tha nhân.

B.3. Hữu thể vị tha

a) Tính chất

Sartre lưu ý rằng: vấn đề biết có tha nhân là một vấn đề khó khăn. Không thể có liên lạc trực tiếp. Giác quan tôi chỉ biết hữu thể tại thân của tha nhân mà thôi, tôi không thấy được bản ngã của họ. Tôi có thể suy diễn từ những kiến thức về tôi, để hiểu biết họ không? Tác giả cho rằng: kiến thức ấy không có gì là chắc chắn. Nhưng tôi biết có tha nhân, bởi vì tôi gặp tha nhân, giáp mặt với họ luôn. Theo phương diện hiện tượng học, kinh nghiệm đặc sắc có thể cho ta biết có tha nhân là chính cái nhìn của họ.

Tha nhân gây ảnh hưởng trên tôi:

- Họ muốn phủ nhận quyền tự do của tôi, kể tôi là một sự vật. Họ sự vật hóa tôi (chosifier). "Đối với tha nhân, tôi đang ngồi, cũng như bình mực đang ở trên bàn".

- Họ giới hạn quyền tự do của tôi, "bị dòm ngó, tôi trở thành nô lệ".

- Nhưng cái nhìn của tha nhân giúp tôi ý thức về tư cách và tâm tình của tôi. "Tôi đang lén dòm qua ổ khóa, nhưng khi có người thấy tôi, tôi e thẹn, tôi nhận thấy tôi tò mò, hay ghen tương..."

b) Liên lạc với tha nhân

Tuy cần nhờ đến tha nhân, nhưng mối liên lạc vẫn căng thẳng. Tôi cư xử với tha nhân như họ đối xử với tôi. Tôi nhìn họ và cái nhìn của tôi cũng sự vật hóa họ. Mỗi người đều làm hại lẫn nhau. Mỗi người đều muốn nô lệ hóa người khác, chiếm hữu họ, biến họ thành dụng cụ cho mình hưởng thụ. Vì thế đôi bên đều đau khổ và thất bại.

Tôi ghét tha nhân ? Nhưng ghét họ là quyết tiêu diệt họ và lúc đó, tôi chỉ đuổi theo cái bóng, rơi vào trong thế giới không còn họ nữa. Giết họ? Nhưng tôi sẽ bị cặp mắt hấp hối của họ nhìn tôi và đẩy tôi vào tình trạng sát nhân vô phương giải thoát.

Còn yêu họ? Nhưng Sartre quả quyết: yêu là chinh phục tha nhân, bằng cách dụ dỗ họ tự hiến thân cho mình. Tôi tôn trọng tự do của người khác, nhưng tôi cố ép buộc họ ưng thuận, như tên lái ngựa cố bắt sống bầy ngựa vậy. Yêu tức là muốn được yêu, muốn cho người khác kể mình như đối tượng đáng yêu. Vì thế, tôi chỉ muốn trở thành sự vật, thành món đồ chơi trong tay người khác. "Tình yêu là một sự lừa dối". Nhưng con người không thể từ bỏ quyền tự do, và do đó, tình yêu chỉ đem lại thất bại chua cay.

Kết cuộc, không có gì có thể giải thoát con người cho khỏi kiếp sống âu lo. Con người là một mâu thuẫn tuyệt đối. Mộng hòa nhịp với chính mình, với tha nhân, cũng như với vũ trụ đều tiêu tan cùng với tham vọng làm Thiên Chúa. "Mọi thực tại nhân linh là một cơn đau khổ, vì nó dự định hủy mình để đặt nền tảng cho hữu thể, và như thế, tạo dựng Hữu thể mà các tôn giáo gọi là Thượng đế. Như vậy, nỗi đau khổ của con người hủy mình để cho Thiên Chúa sinh ra. Nhưng ý niệm Thiên Chúa là ý niệm mâu thuẫn và chúng ta hủy mình cách uổng công, con người là một nỗi đau khổ vô ích".

C. LẬP TRƯỜNG VÔ THẦN

Sartre có lập trường vô thần dứt khoát. Tác giả dựa trên ba điểm sau đây:

1. "Ý niệm Thiên Chúa là ý niệm mâu thuẫn" : Tư tưởng căn bản. Trong tác phẩm "Hữu thể và Vô thể", Sartre không dành riêng tới một trang để bàn tới vấn đề Thiên Chúa. Nhưng có thể nói, ý niệm vẫn phảng phát trong suốt các tác phẩm.

Theo ông, nếu có Thiên Chúa, thì Ngài phải là Hữu thể vị thân tuyệt đối: vừa à Hữu thể, vừa tạo cho mình hữu thể. Như thế, Ngài sẽ là Chủ thể tuyệt đối. Nhưng không thể hiểu được, vì không có hữu thể vị thân thuần túy: mọi ý thức đều hướng tới ngoại thể. Hơn nữa, nếu có Thiên Chúa, Ngài còn phải là Hữu thể tại thân, một khối dày đặc, không có liên lạc gì với ngoại thể. Ngài sẽ là một khối băng giá chìm trong vực thẳm vũ trụ...

Ý niệm về một Hữu thể vừa vị thân vừa tại thân hoàn toàn là ý niệm mâu thuẫn. Cho nên không có Thiên Chúa được.

2. Sartre còn phủ nhận Thiên Chúa, vì sự hiện hữu của Ngài căn cứ trên thành kiến chấp nhận sự sáng thế (creationismus). Triết gia hình dung Thiên Chúa như một "người thượng thặng", Thiên Chúa sản xuất con người theo những kỹ thuật và theo một quan niệm, y như người thợ sản xuất con dao rọc giấy.

3. Mâu thuẫn giữa tự do tuyệt đối của con người và sự hiện hữu của Thiên Chúa. nếu có Thiên Chúa, Sartre nói, con người sẽ mất tự do, tức là mất nhân phẩm. Cho nên không thể có Thiên Chúa được.

4. Nhận định

Chúng ta có thể ghi nhận nơi tư tưởng của J.P. Satre những giá trị tích cực cũng như một số khuyết điểm như sau:

A. GIÁ TRỊ TÍCH CỰC

1. Sự tự do

Sartre đã đề cao tự do của con người và nhấn mạnh đến tinh thần trách nhiệm, chống lại mọi thứ tất định, mọi hèn nhát. Hành vi tự do vượt qua mọi động lực chi phối nó và không thể bị lệ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh nào.

Tự do linh động : con người phải tranh đấu chống mọi ách nô lệ do cá nhân hay đoàn thể tròng vào cổ mình.

2. Địa vị của con người

Tác giả đã theo quan niệm truyền thống mà xác định mối tương quan của con người với:

- Vũ trụ: hữu thể vị thân liên kết mật thiết với hữu thể tại thân (vũ trụ), bằng mối dây chặt chẽ, phủ nhận thuyết duy tâm cô lập hóa con người;

- Tha nhân: sống là sống với người khác. Tác giả đã lưu ý đến mối liên hệ linh động và thiết yếu giữa tôi và người khác.

3. Thân phận con người

Sartre cho thấy: thể hiện phận làm người là một công trình khó khăn nhất, vì:

- Thiếu thốn các nhu cầu căn bản cho đời sống.

- Cảnh người áp bức người vì ích kỷ, tham vọng.

- Tình trạng sa đọa của các đoàn thể, các tổ chức trở thành máy móc tàn bạo.

- Hiểm họa của một tôn giáo lệch lạc, mất hết nghị lực hướng thiện con người.

Đó là những giá trị tích cực đáng kể, mặc dù bị chôn vùi trong một tư tưởng quá khích và có nhiều sai lạc.

B. KHUYẾT ĐIỂM

Không phải là sai lạc ngẫu nhiên. Trái lại, tư tưởng của Sartre đều dựa trên một nền tảng siêu hình vô thần tiên thiên.

1. Phủ nhận Thiên Chúa

Sartre không thể quan niệm Thiên Chúa là Đấng siêu việt. Ngài không cạnh tranh với con người, không chiếm chỗ của vật thụ tạo. Công trình sáng tạo không phải là công việc kỹ thuật, nhưng là dấu chứng và hậu quả của tình thương. Tình thương ngỏ lời với một nhân vị, và tôn trọng tự do của họ, vì chính tình thương đã tạo dựng tự do của con người. Tác giả không hiểu được sự kiện ấy, cho nên quyền tự do được đề cao mà không có một điểm tựa chắc chắn nào cả.

2. Vũ trụ

Sartre không quan tâm đến bộ mặt thật của thực tại và những cơ cấu nhất định của nó. Vũ trụ không phải là một đống vật nằm ì đó. Nó có thể chứa đựng một kho tàng vô giá, cho những ai biết xử dụng nó, để nâng cao mà đời sống vật chất và tinh thần.

Quan niệm một vũ trụ thù địch, tức là tự đặt mình ra ngoài vòng tiến bộ của nhân sinh.

3. Con người

Sartre phủ nhận sự kiện con người có một bản tính. Tác giả hiểu bản tính như vật cô đọng, ngoại lai, xâm chiếm và áp bức con người. Thực ra, bản tính đòi hỏi dự thăng tiến. Nhưng con người không thể vượt qua nhân giới được: nghĩa là không thể tự tạo cho mình một cuộc sống siêu thoát tuyệt đối, vượt qua mọi hoàn cảnh nhân sinh. Tác giả đã nhấn mạnh đến hoàn cảnh, nhưng quá đề cao tự do, một thứ tự do sáng tạo bất chấp thân phận cụ thể của con người. Cho nên, theo Sartre, con người gặp phải thất bại không thể tránh được, con người là "một điều vô dụng bất thành" (impossible inutile). "Mọi hiện sinh vào đời cách phi lý, kéo dài đời sống vì khiếp nhược, chết cách tình cờ" (tout existant nait sans raison, se prolonge par faiblesse, meurt par rencontre/ Buồn nôn).

4. Tha nhân

Bi quan tuyệt đối, không có đối thoại, thông cảm nào giữa tôi và người khác. Thực ra, con người có thể chung sống, cộng tác, đối thoại. Kinh nghiệm cho thấy như thế. Cái nhìn của tha nhân có thể đầy trìu mến, thân thiện. Tình yêu có thể là một giá trị làm phát triển con người. Có lẽ trong vũ trụ, chỉ có con người mới biết yêu nhau với một ý nghĩa cao đẹp và đầy đủ. Chính tác giả có lần cũng phải nhìn nhận: "Có thể thiết lập một cộng đồng nhân loại" (Thuyết hiện sinh là một nhân bản chủ nghĩa). Cho nên, con người không thất bại hay thất vọng hoàn toàn !

5. Thất vọng

Tuy tác giả quả quyết thuyết hiện sinh không đề cao thất vọng, trái lại, đòi hỏi con người phải dấn thân hành động. Nhưng thực ra thất vọng đã nằm ngay trong con người, vì theo ông, con người sẽ thất bại, con người không thể hướng tới tuyệt đối mà không bị vong thân. Thành ra kết cục, kiếp sống con người là một kiếp sống đơn tối nhất.

6. Luân lý

Phủ nhận mọi thứ luân lý, vì tác giả phủ nhận Thiên Chúa, bản tính con người và đồng thời, đề cao tự do tuyệt đđối. Do đó, con người muốn làm gì thì làm, miễn là bảo vệ được sự tự do của mình mà thôi. Thật thế, nếu không có bảng giá trị khách quan, hay một nền tảng siêu hình nào để nâng đỡ và điều khiển sinh hoạt luân lý, thì chỉ còn có chính con người mới có thể định đoạt về nếp sống của mình. Cho nên, như văn hào Nga Dostoievsky đã viết : nếu không có Thiên Chúa, mọi sự đều được phép làm cả !

Kết

Thuyết hiện sinh của J.P. Sartre được xây dựng trên một điều tiên quyết và một định kiến: không có và không thể có Thiên Chúa. G. Marcel đã nêu ra định kiến ấy trong "Homo viator". "Không nên có Thiên Chúa, (nếu không, con người sẽ mất hết phẩm giá); may thay, sự kiện ấy không xảy ra (lý chứng triết học giả tạo); vả lại, đó là một vấn đề phụ thuộc, vô ích". Lý luận giả dối, theo G. Marcel.

Sartre quả quyết: triết lý của ông nằm trong trào lưu tư tưởng hiện đại. Phản ảnh một tình trạng nhân loại bị chia xẻ giữa những mâu thuẫn trầm trọng. Một đàng, con người đã tiến nhanh trên con đường văn minh kỹ thuật, cảm thấy mình có quyền lực đáng kể. Khoa học và kỹ thuật đã đem lại cho con người một phương tiện nâng cao đời sống chưa bao giờ đạt tới. Đàng khác, con người chưa có một đời sống khả quan: bóc lột, bất công vẫn còn đào sâu hố chia rẻ giữa các tầng lớp xã hội. Hơn nữa, "điều chưa từng có trong lịch sử nhân loại: con người bị đặt trước một sự kiện hiển nhiên: họ biết mình có thể hủy diệt vũ trụ" (G. marcel).

Vì thế, bệnh lo âu là bệnh của thời đại; con người không còn lo đâu trước quyền lực vũ trụ, mà trước quyền lực của chính mình. Hai thế chiến đã đánh tan mộng giải quyết vấn đề nhân sinh bằng khoa học, và bắt buộc con người phải can đảm nhìn thẳng vào chính mình. Cho nên, thuyết hiện sinh thường xuất hiện và bành trướng trong một xã hội bị xáo trộn, phân hóa vì khủng hoảng kinh tế, vì chiến tranh. Nó thường thịnh hành trong một xã hội mất hết mọi niềm tin căn bản. Niềm tin vào truyền thống dân tộc, niềm tin vào Đấng Tối Cao, là nguồn đem lại mọi ý nghĩa chân thực cho kiếp nhân sinh.

Cho nên, thuyết hiện sinh vô thần đặt nặng vấn đề con người. Nó nói lên và phác họa thân phận của một con người mới, bi đát, mất gốc, với hiểm họa tự diệt vong. Thuyết ấy đề nghị một giải pháp cho vấn đề nhân sinh, nhưng là một giải pháp không thể áp dụng được, vì thực ra, con người mới được phác họa, chính là một phế nhân.

Có lẽ đó cũng là một tiếng âm thầm kêu cứu thất vọng, vang lên giữa một đêm tối mịt mù, mong chờ cuộc giải phóng thực sự. Người kitô hữu, với tất cả thành tâm thiện chí, quan sát "thời điềm", không thể nào không lắng nghe tiếng kêu cứu ấy. Và xác tín trong khiêm tốn: con người mới được tái tạo trong "thánh thiện và chán lý không chỉ là một ảo mộng, vì đã được thực hiện cách huyền nhiệm nơi Đức Ki-tô, và chính Ngài mới có một giải pháp đây đủ và đích thực cho vấn đề nhân sinh, vì "dưới vòm trời nầy, không có ban cho một ai danh nào khác để giải thoát chúng ta" (Cv. 4,12).