BÀI 8: MARTIN HEIDEGGER [1889-1976]

Martin Heidegger sinh ngày 26-9-1889 tại Messkirch. Ngay những năm cuối thời kỳ trung học, Heidegger đã tìm tòi tư tưởng của Franz Brentano và chịu ảnh hưởng sâu đậm của khuynh hướng tâm lý của Brentano. Heidegger theo học triết học tại đại học Freiburg và là sinh viên của các linh mục Dòng Tên. Năm 1909 ông vào trường đại học Fribourg, theo những giảng khoá triết và thần học tại đây và đạt được bằng tiến sĩ triết học năm 1913.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

1. Tiểu sử

Martin Heidegger sinh ngày 26-9-1889 tại Messkirch. Ngay những năm cuối thời kỳ trung học, Heidegger đã tìm tòi tư tưởng của Franz Brentano và chịu ảnh hưởng sâu đậm của khuynh hướng tâm lý của Brentano. Heidegger theo học triết học tại đại học Freiburg và là sinh viên của các linh mục Dòng Tên. Năm 1909 ông vào trường đại học Fribourg, theo những giảng khoá triết và thần học tại đây và đạt được bằng tiến sĩ triết học năm 1913.

Năm 1914, ông gia nhập quân đội, nhưng hai tháng sau, ông xuất ngũ vì lý do sức khoẻ. Năm 1915, ông được nhận làm “giáo sư hợp đồng” tại đại học Fribourg en Brisgau. Tuy nhiên, ông lại xin gia nhập quân đội và được gửi ra mặt trận ở Verdun, làm việc trong một trạm khí tượng học. Thế chiến thứ I kết thúc, ông trở lại dạy học tại Marbourg [1923], rồi ở Fribourg en Brisgau.

Năm 1933, Heidegger gia nhập Đảng Quốc xã. Ông được đặt làm khoa trưởng của đại học Fribourg en Brisgau, thay thế cho Husserl bị cách chức vì có nguồn gốc Do Thái. Nhiều người thắc mắc về thái độ ông gia nhập Đảng Quốc xã, và không biết điều đó liên quan thế nào đến hệ thống tư tưởng triết học của ông. Người ta cũng tìm những một số bài viết của Heidegger cho thấy ông gắn bó với phe Quốc xã, kêu gọi ủng hộ Hitler. Theo những tài liệu ấy cho thấy, người ta thấy có lẽ Heidegger thành thật chọn lựa con đường Quốc xã chứ không phải bị sự ép buộc theo thời thế. Đó là một lựa chọn tệ hại, khi mà những người trí thức khác, hoặc tìm cách trốn ra nước ngoài, hoặc ở lại trong nước nhưng giữ thinh lặng.

Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau đó, ông bị Đảng Quốc xã nghi ngờ. Đến tháng 10-1933, ông bị cách chức khoa trưởng. Trong thời gian sau đó, Heidegger thinh lặng và không đề cập gì đến vấn đề ấy này.

Heidegger là một người sử dụng tiếng Đức và các tài liệu triết Đức một cách hết sức tinh vi và độc đáo. Mặc dù không đồng ý với lối sống của ông, nhất là trong lãnh vực chính trị, nhưng giới triết học vẫn không thể chối bỏ được tầm quan trọng và sự độc đáo trong những suy tư triết học của Heidegger. Heidegger luôn được kể là một triết gia lớn của thế kỷ XX này.

2. Tác phẩm

Một số tác phẩm chính của Heidegger như sau :

- Hữu thể và Thời gian, 1927, tác phẩm quan trọng nhất.

- Siêu hình học là gì ?, 1929.

- Yếu tính của Chân lý, 1943

- Thư về chủ nghĩa Nhân bản, 1947

- Triết Học là gì ? 1956

3. Tư tưởng

Tư tưởng của Heidegger rất sâu xa và rất khó đọc, đặc biệt là vì có một số từ ngữ riêng của tiếng Đức và những từ ngữ do chính ông tạo ra. Nhiều người cũng cho rằng tư tưởng của Heidegger đã bị cắt xén, đã bị hiều lầm rất nhiều.. và thậm chí còn bị “phản bội” nữa …

Ở đây, chúng ta chỉ cố gắng giới thiệu nét chính yếu, tạm lược bỏ những từ ngữ chuyên môn để sử dụng những cách diễn tả quen thuộc hơn, với hy vọng làm dễ hiểu hơn những nét chính trong tư tưởng của ông. Điều này dĩ nhiên sẽ làm mất đi tính cách độc đáo và những khía cạnh tế nhị nhất trong tư tưởng ông.

Xin thật thành xin lỗi vì phần tài liệu này được gom góp, trích dẫn một số đoạn văn, ở nhiều nơi, của nhiều tác mà hiện nay tôi không còn tìm ra được nguồn gốc. Thành thật xin lỗi…

3.1. Vấn đề hữu thể

Vấn đề chính yếu của Heidegger là vấn đề hữu thể. Đây là một vấn đề truyền thống và cũng là vấn đề căn bản trong lịch sử triết học tây phương. Heidegger gọi vấn đề này là "Cuộc tranh luận giữa những người khổng lồ về bản thể" (giganto-machia peri tes ousias)

* “Hữu” và “hiện hữu”

Heidegger phân biệt giữa “hữu” (être) và “hiện hữu” (étant). Ông cho rằng “hữu” (hay tính-thể) là cái gì ở cội nguồn của mọi “hiện hữu”. Hiện hữu là cái đã thành hình, cho dù đó là “cái” trừu tượng hay cụ thể, tinh thần hay vật chất. Hiện hữu là đối tượng nghiên cứu của những ngành riêng biệt như toán học, vật lý, sinh học, sử học, các khoa học nhân văn và thần học. Như thế, ta có các hữu của toán học, hữu của thiên nhiên. Truyền thống triết học cho rằng việc suy tư về những ý niệm phổ quát của sự vật hiện hữu như thế đã là hữu thể học. Tuy nhiên, Heidegger cho rằng đó mới chỉ là siêu hình học mà chưa phải là bản thể luận đích thực; và thứ siêu hình học ấy đã nghiên cứu mọi sự, ngay cả linh hồn, trí tuệ, Thượng Đế, cũng bị đều bị xếp vào hàng những hiện hữu. Nhưng cái hiện hữu không thể là nền tảng cho chính mình được. Do đó, khoa hữu thể học nền tảng phải nhằm tới đối tượng là chính hữu phổ quát (ontologie générale).

Một khi không phân biệt được “hữu” (Sein) và “hiện hữu” (Seinde), người ta đã coi những hiện hữu phổ quát hoặc hiện hữu siêu việt chính là nền tảng cho các hiện hữu cụ thể, như thế là khoa hữu thể học đã tìm cách khám phá hữu bằng nẻo đường so chiếu với biểu tượng phổ quát, hoặc so chiếu với hiện hữu siêu việt.

* “Hữu” và “vô hữu”

Heidegger khởi đi từ vấn đề nền tảng của hữu thể, với cách đặt vấn đề hữu thể trong thách đố của hư vô. Gần giống như Leibniz đã nói “tại sao có một vật gì chứ không phải không có gì ?”, Heidegger cũng nói : “Như vậy, tại sao có hiện thể và không phải không có gì ?”. Câu hỏi này vừa bao hàm tất cả mọi câu hỏi khác, vì đặt vấn đề về tất cả những gì hiện hữu; vừa được đặt ra như là một cách đối diện trực tiếp với “cội nguồn” hư vô.

* Nẻo đường biểu tượng và nẻo đường siêu việt

Tuy nhiên, khi nghiên cứu về hữu thể, Heidegger khám phá ra một vài sự lệch hướng hết sức quan trọng của lịch sử triết học. Đó là:

- Khi nhìn các sự vật trong thế giới, các triết gia thường muốn khám phá ra những điểm chung, dùng những từ ngữ biểu tượng phổ quát hơn để tập hợp các sự vật lại thành những loại giống nhau… Nỗ lực ấy đưa đến việc khám phá ra hữu thể như là cái chung nhất của tất cả mọi sự. Hữu thể là cái gì có, tất cả mọi sự trên trần gian này đều chung nhau ở chỗ là nó có. Thế rồi để hiểu được được căn bản nhất của mọi sự, các triết gia phân tích khái niệm “hữu thể” như là cái có đó, tìm cho ra những nền tảng để thống nhất chúng lại. Con đường ấy mang tính cách biểu tượng; thay vì tìm hiểu một sự vật đích thực, người ta tìm hiểu khái niệm hữu thể như một biểu tượng về sự vật ấy[ sau này trong quyển Identitael und Differenz, Heidegger gọi là siêu hình học có tính cách "Hữu Thể - Thần học- Luận Lý"]; nghĩa là tìm một hữu thể toàn diện, được gọi là "Đơn nhất" (Un) có khả năng qui tụ mọi đa tạp thành một (omnitudo realitatis).

- Một con đường khác cũng biểu lộ một sự lệch hướng, đó là con đường siêu việt. Khi các triết gia nhìn tới các sự vật, họ thấy các sự vật biến đổi không ngừng, khó có thể nắm bắt và xác định chúng. Do đó, họ coi những sự vật ấy chỉ là những ảo ảnh, những hiện tượng. Muốn hiểu biết chúng thì phải tìm nến một nền tảng vững bền hơn. Thế là người ta buộc lòng tìm đến một thế giới căn bản hơn, đó là lý giới của Platon, “động cơ đệ nhất” của Aristote, hay là Thiên Chúa trong truyền thống triết học Kitô giáo, xét như Ngài là Hữu Thể trường tồn, chân chính mà mọi hữu thể khác phải qui chiếu, phải tham dự…

* Hậu quả của cách thức truyền thống

Những cách thức tìm kiếm hữu thể như thế, theo Heidegger là một sự quên lãng hữu thể; người ta bỏ quên hữu thể thực sự để lạc vào thế giới khác. Cách thức như thế cũng làm cho những khái niệm về hữu thể trong thế giới biểu tượng và siêu việt trở thành cứng đọng. Do đó, truyền thống triết học, từ Platon, đã chỉ tìm đến “vật thể” (étant) chứ không phải cái hữu uyên nguyên.

Cách nghiên cứu vật thể ấy trở thành đối tượng nghiên cứu ở hoàn toàn khách quan, đó là thứ “siêu việt khách quan (transcendance objective), và trở thành một đối tượng thuần túy cho một nhận thức nào đó. Theo cách này, vì bản chất của hữu thể đã cứng đọng, nên chân lý chỉ còn tùy thuộc vào việc nhận thức. Do vậy, ta thấy trong truyền thống triết học tây phương, chân lý được định nghĩa là “sự trùng hợp giữa trí khôn và sự vật”[ “Adaequatio intellectus et rei”].

Với Platon chẳng hạn, lý giới được khảo sát như "những-gì-bị-nhìn-xem", rồi lại biến thành “chính sự nhìn xem”. Với Descartes chẳng hạn, chân lý bị coi như sự kiểm chứng, nghĩa là tìm sự chính xác từ chủ tri. Sau đó, Leibniz, rồi Hegel, rồi Nietzsche… cùng với các ngành luận lý, khoa học kỹ thuật và nhân bản luận đều đi theo con đường đó cả. Heidegger cho rằng đó là con đường thụt lùi, con đường "quên lãng tính thể" và quên lãng "chân tính của Tính Thể" hiểu như Phusis-aletheia".

Thay vì lối nhìn phân biệt chủ thể và đối tượng, Heidegger đề ra một nẻo đường để cho “hữu” hay “tính thể” tự khai lộ, không-bị-che-giấu…

3.2 Con đường truy vấn hữu thể

Nhận định trên có một tầm quan trọng đến độ đảo ngược vấn đề, khiến ta phải đặt lại tự căn bản cách thức giải bài toán hữu thể, nếu không muốn nói là phải lật đổ tất cả truyền thống triết học để khai mở ra một con đường truy vấn hữu thể mới.

Nỗ lực của Heidegger là tìm lại một khoa hữu thể học căn nguyên hơn. Nghiên cứu hữu thể luận (ontologique) là một lãnh vực sâu hơn lãnh vực vật thể luận (ontique). Nên trước tiên cần phải đặt lại vấn đề về bộ môn siêu hình học cổ điển để có thể khai mở nẻo đường khám phá hữu thể đích thực.

Cách thức tìm hiểu hữu thể theo truyền thống như thế, theo Heidegger, đã đồng hoá con người với sự vật, con người cũng chỉ là một hữu thể như cái bàn, cái ghế. Thật ra, chính con người là trung tâm của vấn đề truy vấn hữu thể và con người có vai trò chủ động chứ không phải chỉ là một đối tượng như những hữu thể khác. Chỉ có con người có khả năng có được một sự hiểu biết hàm ẩn ý nghĩa hữu thể. Nói cách khác, chỉ có con người mới có khả năng đặt câu hỏi “hữu thể là gì ?”, chỉ có con người mới có khả năng trả lời cho câu hỏi ấy. hơn nữa, còn làm cho mình là một “hữu thể đó”, nghĩa là khác với mọi hữu thể khác. Do đó, việc truy vấn hữu thể phải khởi đi từ con người.

* Thứ nhất, không thể đánh đồng mọi thứ gọi là hữu thể chung trong một khái niệm. Heidegger phân biệt :

- Hữu thể người [Dasein]

Heidegger đặt một tên riêng cho hữu thể người là Dasein[ Trong một cuộc gặp gỡ giữa Marcel và Heidegger, triết gia Đức đã kết luận rằng danh từ Dasein rốt cuộc không thể dịch được.]. Đây là một từ ngữ Đức, với những nội dung riêng biệt mà Heidegger gán cho nó, nên hầu như người ta không thể dịch ra một ngôn ngữ nào khác với đầy đủ ý nghĩa tương đương. Con người ở đây phải được hiểu theo nghĩa "một hiện-đó-của-tính-thể" (Da-sein), cũng gọi là "hiện -(tính)-thể", và vắn tắt là hiện-thể.

Dasein mang ý nghĩa là “hiện hữu người”, hay “thực thể - có đấy - một mình” [L’ être-là-seul]. Chúng ta sẽ thấy rõ hơn ý nghĩa của Dasein với những phân tích của Heidegger về hữu thể người tự hình thành mình trong thời gian.

- Hữu thể vật [seindes]

Hữu thể vật là tất cả những gì còn lại, là cái cây, cái ghế, cục đá hay ngọn núi. Đây là những hữu thể cần phải đón nhận ý nghĩa từ hữu thể người. Hữu thể vật là những hữu thể giả thiết phải có hữu thể người, vì nếu không thì chúng không là gì cả.

* Thứ hai, con đường tìm kiếm ý nghĩa của hữu thể phải xuyên qua con người. Chính hữu thể người là nguồn ánh sáng chiếu soi vào thế giới và làm bật lên ý nghĩa đích thực của hữu thể. Một đàng, hữu thể người đảm nhận lấy nhiệm vụ đặc biệt để làm cho ý nghĩa hữu thể được tỏ hiện, nếu không “chu toàn” được nhiệm vụ này, hữu thể người cũng tự đánh mất chính mình. Đàng khác, không có hữu thể người soi chiếu thì cũng không có thế giới ở mức độ ý nghĩa hữu thể. Như thế, việc hình thành thế giới đồng nhất với việc hữu thể người hình thành ra chính mình.

* Thứ ba, thay vì lối nhìn phân biệt chủ thể và đối tượng, Heidegger đề ra một nẻo đường để cho “hữu” hay “tính thể” tự khai lộ, không-bị-che-giấu, nghĩa là “tính thể” trong chân tính của nó, tìm cái "trancendance" như là sự bộc lộ, diễn tả, không không phải bị nhìn. Đó cũng là nẻo đường của các triết gia thời kỳ khai nguyên triết lý Hy Lạp. Heidegger nỗ lực tìm về tính thể như là Phusis - a-letheia; nghĩa là chân tính như một sự không che dấu. Từ đó hữu thể mới không còn là cái gì đã cứng đọng, đã xong, để rồi buông tất cả ý nghĩa của mình cho một nhận thức khách quan nào đó. Heidegger thấy rằng chân lý của [ M. Heidegger, Was ist Metaphysik ?, Klostermann, 969, t. 18.]hữu thể nằm ở chỗ chính hữu thể tự thể hiện mình[ Ông nhận thấy cách nhìn này am hợp với nguyên ngữ của từ chân lý theo nguồn gốc Hy Lạp “a-letheia”, nghĩa là cởi bỏ những che mờ, vén mở.], tự bộc lộ mình trong diễn tiến lịch sử của mình. Như thế, chân lý không còn do một phán đoán nào bên ngoài đối với hữu thể, nhưng chân lý và bản chất của hữu thể là một. Điều đó được đúc kết trong công thức : "...ý nghĩa từ "Tính Thể" và "chân tính của Tính Thể" nói lên cùng một điều".

3.4. Phương pháp hiện tượng luận thông diễn

Heidegger mở ra con đường tìm hiểu ý nghĩa hữu thể tập trung vào hữu thể người, nhưng không phải theo đường lối tìm những khái niệm biểu tượng hoặc những nền tảng siêu việt như triết học cũ, mà là bằng cách mô tả hiện tượng luận về hiện hữu của con người.

Heidegger cho rằng “ý nghĩa" (Sinn) phải được hiểu là "khai mở” (Erschlossenheit). Đó cũng là ý nghĩa của chữ chân lý, a-letheia, nghĩa là "không bị che dấu". Điều này cho thấy “chân lý” không chỉ là vấn đề nhận thức, nhưng chính là vấn đề sống, là "sự xuất hiện ra", là "tự thông hiểu" và "tự thông diễn" bằng chính hiện hữu. Chân lý không còn thuộc lãnh vực tri thức luận, nhưng thuộc về thực tại con người. Điều đó được thực hiện bằng phương pháp "hiện tượng luận thông diễn" (Hermeneutik)

Với phương pháp này, người ta sẽ không chỉ ngồi đó để sắp xếp các khái niệm, lý luận để nối kết chúng với nhau cho hợp lý… nhưng là mô tả những hiện tượng trong cuộc sống thực tại của con người và nhờ việc mô tả ấy mà làm bật lên ý nghĩa đích thực của hiện hữu con người.

Điều này có nghĩa là Heidegger đã nhờ tới những tính chất chất đặc biệt của đời sống con người để tìm ra ý nghĩa đích thực của hữu thể; nghĩa là qua việc phân tích, mô tả những tình huống trong cuộc sống hiện hữu của con người mà làm cho cơ cấu nền tảng của hữu thể được tỏ lộ.

3.5. Phân tích hiện hữu người

Như thế, đối với Heidegger, cần khám phá ý nghĩa của hữu thể khởi từ hữu thể người. Đường nét trọng tâm trong triết học của ông là “yếu tính của hữu thể người nằm trong hiện hữu của nó”. Cuộc truy tầm ý nghĩa hữu thể, như thế, trước hết là cuộc phân tích những phẩm chất căn bản của cuộc sống hiện sinh. Heidegger nhận ra những đường nét căn bản trong hiện hữu của hữu thể người như sau :

* Hữu thể và thời gian

Nền tảng hữu thể luận của Heidegger trong tác phẩm Hữu Thể và Thời Gian. Hiện hữu của hữu thể người là hiện hữu trong thời gian. Heidegger cẩn thận phân biệt thời gian ở đây khác với thời gian khách quan của chiềc đồng hồ đang chạy; và cũng khác với thời gian tồn tục của tâm lý. Thời gian khách quan không liên hệ gì tới bản chất của hữu thể người; còn thời gian chủ quan theo nghĩa thời gian tồn tục thì chỉ liên hể tới ý thức mà thôi.

Thời gian ở đây là tính chất gắn liền với cuộc sống hiện hữu của hữu thể người [nó là một “hiện sinh chất”, existential]; nghĩa là, vì con người nhất thiết phải thực hiện vận mạng của mình trong một tiến trình, nên hữu thể người gằn liền với thời gian. Mặc khác, vì chính hữu thể người là trung tâm soi chiếu ánh sáng hữu thể cho thế giới, nên chính hữu thể người thổi thời gian vào thế giới, làm cho thế giới này cũng mang tính cách thời gian, có được một lịch sử.

Đây là một đề tài tinh tế nhất và Heidegger. Ông trình bầy tính cách thời gian của hữu thể người với ba góc cạnh, hay ba cuộc xuất thần : quá khứ - tương lai - hiện tại.

* Hữu thể siêu việt

Tuy từ bỏ tính cách siêu việt của đường lối triết học cổ truyền nhưng Heidegger vẫn nhìn thấy một khía cạnh siêu việt khác của hữu thể người, đó là sự kiện con người luôn có những dự phóng cho cuộc đời mình; con người là hữu thể ở trong tư thế luôn vươn mình lên mãi. Hiện sinh [ek-sistere] có ý nghĩa căn bản là xuất hiện ra khỏi tình trạng đang là, đó là ý nghĩa căn bản của hiện hữu.

Việc con người luôn vươn mình lên, với những dự phóng cho cuộc đời mình, lôi kéo theo tất cả thế giới chung quanh, tạo nên một cơ cấu liên hệ của mọi sự vật với hữu thể người; điều này xác định thêm tính chất hữu thể tại thế của con người. Thế giới là cái dự phóng (projet) của hữu thể người. Thế giới thể hiện cái hiện hữu thể tại thế của hữu thể người theo như những giới hạn của nó. nếu không có sự dự phóng này thì không có thế giới.

Siêu việt là đặc tính của Dasein. Con người cụ thể hiện hữu luôn siêu việt theo hai trục : trục hiện hữu riêng của mình và trục “hiện hữu tại thế”.

* Trong trục hiện hữu riêng, hữu tại thế chỉ hiện hữu nhờ siêu vượt (transcendance), tức là dự phóng, là vượt lên, là duy trì hữu thể của mình trong tư thế vươn lên mãi. Hành vi siêu việt không phải là tiến trình tri thức hoặc là nhằm tới một thế giới siêu việt nào khác, chính là hành trình thuộc bản chất của hữu thể người. Vì đó mà thế giới của “hữu tại thế” không thuần túy là thế giới tự nhiên của các vật thể, hay một tập thể người nào đó. Thế giới đây chính là cơ cấu liên hệ của hữu thể người (the relational Structure of the existence) trong tư thế là một hữu thể siêu việt.

* Trong trục hiện hữu tại thế, Heidegger nhấn mạnh ba yếu tố :

. tính cách bị bỏ lại đó [dereliction]

. sự cắt nghĩa [intepretation]

. bước triển khai [discursivity]

1/ yếu tố “bị bỏ lại đó” xác định tình cảm nền tảng của con người. Con người “,ở mắt ra” đã “thấy mình đã ở đó” như một “sự kiện có sẵn” [kinding oneself there, facticity], với tất cả hoàn cảnh cụ thể, giới hạn. Tính chất “bị bỏ rơi” [dereliction], “thấy mình bị ném sẵn ở đó” [finding-oneself-there]. Nhận ra điều này là cái nhìn hối khứ [retrospectivity] để có thể có bước siêu việt theo sau. Con người, tự căn bản, vẫn mang tâm tình “bị ném ra đó”. Đó là quá khứ mà cho dù đi đến đâu, sống làm sao thì hữu thể người vẫn phải đảm nhận, không thể chối từ. Tôi là quá khứ của tôi.

2/ Yếu tố “cắt nghĩa” cho thấy con người lại luôn dự phóng, luôn xoay sở thể hiện vận mạng của mình với những dự định cho tương lai. Bản chất của hiện hữu con người là dự định trước cuộc đời của mình. Con người cũng dự phóng bằng sự chăm lo để tạo nên thế giới, để ra khỏi chính mình [ouside itself], đó thực sự là ex-sistere.

3/ Bước triển khai là yếu tố thuộc về hiện tại, đặt mình giữa quá khứ và tương lai để phát triển siêu việt của mình. Con người sống luôn là là giằng co giữa tâm tình bị ném ra đó và những dự định trước cho cuộc đời mình. Những ai bỏ quên hai đầu mối quá khứ và tương lai của cuộc sống sẽ là những người hiện hữu không chân chính, chỉ để đời mình trôi theo những khoảng khắc độc lập hoặc chỉ tính đếm đời mình bằng một chuỗi thời gian kéo dài của ngày tháng khách quan. Hiện hữu không chân chính là một hiện hữu không có lịch sử, bởi nó là một hiện hữu tầm thường.

Ba khía cạnh căn bản này làm nên thời gian nội tại và cũng là thời gian siêu việt trên đó trải ra hiện hữu của con người. Ba khía cạnh ấy gắn liền với cuộc sống con người, nghĩa là gắn liền và làm nên bản chất của hiện hữu người. Điều đó xác định con người là “hữu thể tại thế” chứ không phải là một hữu thể trừu tượng hay có nguồn gốc thần thánh gì cả.

* Hữu thể lo âu

Hai yếu tố “bị ném ra đó” và hình thành những “dự phóng”. Dasein vừa “bị ném vào” trong thế giới, lại vừa dự phóng hình thành ra thế giới. Vì thế, Hữu tại thế vừa bao hàm tự do vừa là một sự qui phục cái tất yếu. Đó là cự căng thẳng nền tảng của hữu thể tại thế. Hữu thể người vừa “tự-do-biết-ý-thức-về” đối với những giới hạn tất yếu ngoại tại. Con người tự do trong hành vi dự phóng thế giới nhưng luôn phải ý thức mình bị qui phục dưới thế giới. Con người cần tới thế giới, đồng thời vẫn tự do.

Tình trạng ấy làm cho cuộc sống của hữu thể người luôn ở trong tình trạng lo âu. Heidegger phân biệt lo âu với sợ hãi. Lo âu là là tâm tình của con người khi phải lựa chọn chính mình, lựa chọn cách thức thực hiện vận mạng của mình, lo âu là lo âu về chính mình. Còn sợ hãi là sợ hãi một điều gì ở ngoài mình, chẳng hạn sợ ma, sợ người khác, sợ đói…

Đây là tính chất căn bản của tất cả những tâm tình của con người trong cuộc sống, nó cắt nghĩa những tâm tình thường ngày của con người như lo làm ăn, lo học hành, lo thăng tiến bản thân, lo đến tình yêu… tất cả những tâm tình đó chỉ là biểu lộ của một nỗi lo siêu việt, nỗi lo vì đồng thời thấy mình tự do để hình thành nên những dự phóng, đồng thời thấy mình vị ném vào giữa lòng thế giới với những giới hạn cụ thể không thể vượt qua được. Lo âu, xao xuyến là tâm trạng căn bản của hữu thể người.

Lo âu là thái độ chính thực, luôn ý thức về cái đe dọa liên tục và tận căn trào lên lên từ chính hữu thể thâm sâu và cô đơn của con người. Lo âu là chân nhận gốc rễ hư không, chân nhận tính phù du của chính thân phận người. Trên nền tảng ấy, ngay cả những mối lo tâm lý như sự mất tình yêu, sự mất lương thực, cũng là những nét của cái lo siêu việt… Cái gốc rễ hư vô thấm nhập vào toàn thể mọi chi tiết của hiện hữu người.

Bởi vì con người phải luôn tiếp tục dự phóng, cho đến cái dự phóng và thể hiện cuối cùng là cái chết. Như thế, đón nhận cái chết cũng biểu lộ tính chất siêu việt của hữu tại thế.

* Hữu thể tự do

Con người là hữu thể tự do, nhưng không phải là một tự do hoàn toàn. Ngay chính khi hình thành nên những dự phóng của đời mình, hữu thể người đồng thời vẫn sống tâm trạng mình bị bỏ rơi giữa lòng thế giới. Cho nên tính chất tự do của hữu thể người luôn luôn ở trong thế liên hệ, trong thế giằng co với thế giới xung quanh. Con người luôn có những dự phóng và cũng luôn vấp phải những giới hạn nên lại phải tiếp tục dự phóng mãi.

Đây không phải là một thứ tự do trừu tượng, hoặc ảo tưởng như thể bay bổng trên mây xanh, mà là một thứ tự do trong hoàn cảnh giới hạn thực tế.

Tự do cũng chỉ là một tên gọi khác của sự siêu việt, nó mang phẩm tính đặc trưng của một hữu thể tại thế, có ý nghĩa bản thể, chứ không phải một hành vi riêng của ý chí. Tự do ấy không phải là tính tự phát, bởi vì sự tự phát chỉ liên hệ với khởi đầu của những hành vi. Tự do tạo ra một cách liên hệ và thể hiện chính mình, nên đó là tự do nền tảng (grund) của mọi nền tảng, nhưng chính tự do là một vực thẳm không nền tảng (Abgrund).

* Hữu thể chăm lo

Chính sự việc con người luôn có những dự phóng cho thấy con người là một hữu thể tự do, con người thể hiện hành vi tự do của mình bằng việc chăm lo. Con người là hữu thể mở, luôn thực hiện vận mạng của mình trong các mối liên hệ với các hữu thể khác. Có hai khía cạnh luôn bao hàm nhau : tính chất thế giới nơi con người, như nó đã là; và tính chất của con người hiện diện trong thế giới như một tự do. Không có chủ thể nếu không có thế giới, và không có thế giới thì cũng chẳng có chủ thể.

+ Con người chăm lo đến tha nhân, vì xét theo cơ cấu hữu thể học, không có chủ thể nào tách biệt khỏi các chủ thể khác. Việc chăm lo cho tha nhân là nhằm giúp tha nhân thể hiện được dự phóng của tha nhân chứ không phải như phương tiện hữu dụng cho mình.

+ Con người cũng chăm lo đến các sự vật, bởi vì điều đó nằm trong kế hoạch dự phóng của con người. Dự phóng của con người được thực hiện qua việc khám phá khía cạnh sự vật trở nên hữu dụng cho con người. Heidegger lưu ý đến tính chất hữu dụng của sự vật, bởi vì sự vật phải được nhìn nhận từ con người. Ngay cả trong những hoạt động trí thức như khoa học, nhận thức, phán đoán đều thông qua tính hữu dụng như thế.

Những sự chăm lo ấy là “chăm lo siêu việt”, nó không phải chỉ là “việc làm thêm”, nhưng chính là hoạt động thể hiện bản nhất người trong dự phóng của bản thân.

* Hữu thể hướng về cái chết

Sự việc hữu thể người lo âu về những dự phóng của đời mình, luôn xao xuyến về việc thực hiện bản thân của mình cho thấy có một sự mỏng manh, dang dở, đe dọa căn bản nào đó. Mặt khác, cuộc đời là dự phóng, và dự phóng này nối tiếp dự phóng khác như một diễn tiến hàm chứa tính phù du, tính cách tạm bợ của chính bản thân mình. Hoặc nói một cách triệt để hơn, điều đó biểu lộ mầm mống của hư vô trong chính hữu thể người. Hư không nằm trong bản chất của hữu thể người, nó ám vào tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống. Sự hư không là bản chất hữu thể học, bởi vì thực thể của hữu thể đã là hư không trước tất cả những gì là dự phóng, ngay trong chính điều đã hoàn thành.

“Sự chết” là hình thức biểu lộ của hư vô. Hữu thể người dù có loay hoay đến đâu đi nữa thì rồi cũng đi đến cái chết; cái chết là điều con người phải đón nhận, không phải chỉ ở cuối cuộc đời, nhưng là ấn dấu in đậm trong tất cả những ưu tư, những dự phóng, trong tự do của con người. Trước cái chết, hữu thể người thực sự là mình với tất cả sự độc đáo của mình, bởi vì con người chết một mình và tự mình phải tự nhận lấy nó. Cái chết là điều tuyệt đối riêng tư, cái chết không được tháp tùng… Do đó, có thể “định nghĩa” con người là hữu thể hướng về cái chết.

Ở đây, người ta thấy tính cách “bi quan”, tính cách “phi lý” trong triết học Heidegger. Con người phải dự phóng, con người phải lo âu để thực hiện bản thân mình, con người tự do…. Tất cả đều hướng tới, hoặc đúng hơn mang sẵn trong mình, cái chết. Hơn nữa, con người chỉ thực sự tự do khi dám tự do đảm nhận cái chết. Hư vô phải là ý thức thâm sâu nhất của hữu thể người, khi đó, hiện hữu trở thành chính thực khi nó nhìn nhận cái chết như thế, khi nó đảm nhận lấy cái chết trên chính nó, coi như là khả thể tối hậu. Cái chết hoàn thành cuộc đời con người, nhưng là hoàn thành trong sự dở dang. Cái có thể của phận người rốt cuộc chính là sự hiểu biết về cái không có thể.

* Hữu thể và tính chính thực

Tất cả những điều nói trên đều là những tính chất căn bản của hữu thể, bộc lộ trong hiện hữu của con người. Hiện hữu thực tế của con người không còn phải nhằm vươn tới một cuộc sống hạnh phúc mai sau; hoặc trở nên siêu thoát, cao cả gì hết. Nét căn bản của đời sống chỉ còn là hoặc sống chính thực, hoặc sống giả trá với bản chất của mình

* Con người sống chân chính, hay hữu thể chính thực, là hữu thể đảm nhận trung thành những tính chất đó : không lẩn trốn nỗi lo âu về bản thân mình; hình thành những dự phóng của đời mình, dù biết chắc rằng nó sẽ chấm dứt trong sợ dở dang; nhận ra tính cách hư không, dấu ấn của sự chết trong mọi bước đi của cuộc hiện hữu con người…

* Ngược lại sẽ là một cách sống hư ngụy, giả trá, lừa dối chính mình :

- Người ta biến lo âu về chính mình trở thành sợ hãi một điều gì đó ở ngoài mình; điều đó làm cho những khó khăn của hiện hữu con người có vẻ dễ giải quyết hơn.

- Con người sống giây phút hiện tại như thể một giây phút độc lập, không dính dáng gì tới quá khứ và tương lai, không dám nhìn thẳng vào sự kiện con người bị ném ra đó và không hình thành nên những dự phóng căn bản của đời mình.

- Con người quay về mình và không biết chăm lo tới tha nhân và không chăm lo cho thế giới.

- Người ta lẩn trốn cái chết, ngầm giả tưởng như mình không chết; chết chỉ là điều xẩy ra cho “người ta”.

3.6. Một nền triết học phổ sinh còn bỏ ngỏ

Thật ra, Heidegger không muốn chấp nhận coi triết lý của mình là triết học hiện sinh. Theo ông, Có hai loại hiện hữu : hình thức hiện hữu cá thể [the existensive hay ontic]; và hình thức “hữu thể học nói chung” [the existentiale or the ontological]. Từ đó, cũng có hai học thuyết hiện sinh : học thuyết "cá sinh" (philosophie existentielle) và học thuyết "phổ sinh" (philosophie existentiale). Thuyết “cá sinh” là sự phân tích nếp sống cụ thể của con người trong lịch sử, còn có thể gọi là thuyết hiện sinh duy nghiệm. Thuyết "phổ sinh" (philosophie existentiale) chuyên tìm hiểu cái thực thể bản thể của Dasein, còn gọi là thuyết hiện sinh siêu hình.

Heidegger tha thiết muốn tìm đến một nền tảng hữu thể học tổng quát, có khả năng đảm nhận tất cả trọng lượng của hữu thể chân chính. Con đường mà ông dấn thân vào là triển khai một nền hữu thể học nền tảng, dựa vào việc phân tích những tính chất căn bản của hữu thể người. Tuy nhiên, Heidegger lại mới chỉ đi được một đoạn đường. Công trình của ông dừng lại ở việc phân tích hữu thể người; một công trình dở dang như chính học thuyết về hữu thể dở dang của ông vậy.

3.7 Những nỗ lực cuối cùng

Con đường Heidegger đã đi qua quả thực là một con đường gai góc. Heidegger không tiếp tục được phần hai của cuốn “Hữu Thể và thời gian”. Những nỗ lực cuối cùng của ông quay sang một hướng khác : bình luận thi ca. Hình như giai đoạn này xuất phát từ chỗ thất bại của công trình trên giai đoạn trước.

Con người được hữu thể bị ném ra đó. Nhưng vị thế của con người lại trở thành “mục tử canh giữ hữu thể”, để tỏ hiện chân lý của hữu thể. Con người tư duy, hỏi và tìm cách trả lời, đó là việc duy trì thái độ mở ra cho hữu thể và cho phép hữu thể được diễn đạt.

Ông cho rằng ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ thi ca có một khả năng bộc lộ những tính chất của hữu thể. Con người không sử dụng ngôn ngữ nhưng sống trong ngôn ngữ; ngôn ngữ là ngôi nhà của con người.

Điều mà lý trí trừu tượng đã thất bại trong lịch sử triết học, thì Heidegger lại tìm thấy nó trong thi ca; thi ca là “chứng nhân” cuối cùng về bản chất của hữu thể đích thực. Trong thi ca, con người chăm chú nghe lời tỏ lộ của hữu thể.

Trong giai đoạn này thay đổi thứ ngôn ngữ gai góc, hóc búa của mình để tìm đến một thứ ngôn ngữ tươi mát hơn. Ông lao vào việc bình luận thi ca của Horderlin. Heidegger cũng tiên báo rằng, trong thời kỳ mới, không phải siêu hình học chi phối lịch sử tư tưởng nữa, nhưng chính ngôn ngữ sẽ bộc lộ sức mạnh và khả năng mặc khải hữu thể.

Kết

1. Triết học của Heidegger là chủ nghĩa vô thần?

Ông cho rằng việc không đặt vấn đề về Thượng Đế nhằm để suy tư triết học được trọn vẹn, điều đó không phải là thái độ vô thần.

Điều mang dáng dấp trang trọng trong tư tưởng của Heidegger là tính thể. Con người là cái "le là" của tính thể, nghĩa là "vùng trời soi sáng của tính thể". Như thế, tính thể ném con người trong hiện hữu để con người coi sóc chân tính của tính thể. Tính thể biến con người thành nơi cư ngụ của chân lý ấy. Tính thể qui định con người phải hiện hữu nhằm để tính thể ở đó.... Những đường nét ấy có vẻ như muốn “ngôi vị hóa” tính thể.

Tuy vậy, "Tính Thể” không phải là Thiên Chúa. Tính thể không phải là một hiện thể nào. Tính thể chỉ là "sự siêu vượt thuần túy và đơn thuần", nó là chính nó. Tính thể có hữu hạn trong yếu tính, và chỉ tỏ bày trong sự siêu việt của Dasein. Đó là một thứ một thứ siêu hình về hữu hạn.

Mặt khác việc giải thích hữu thể luận về hiện hữu của con người như là "hữu thể tại thế", không loan báo, hoặc một cách tích cực hoặc tiêu cực, về khả thể của một "hữu- thể-vì-Thiên-Chúa".

Thêm nữa, Heidegger không loại bỏ tính cách tình cờ của một sự thất bại đối với tư tưởng gắn liền với việc suy tư về chân tính của tính thể…

Điều đó có đưa tới lập trường vô thần, dù ông chưa nói ra? Ta vẫn khó có câu trả lời dứt khoát.

2/ "Ngẫu nhiên tính chủ quan" hay "siêu việt khách quan"?

J.P Sartre cho rằng "Hiện hữu vượt trên yếu tính" (L' existence précède l' essence), công thức của Heidegger trong Hữu Thể và Thời gian "Yếu tính của hiện-(tính)-thể nằm ngay trong sự hiện hữu của nó". Hai công thức ấy có phải cùng khẳng định ý nghĩa đời người là một thứ "ngẫu tính chủ quan" (contingence subjective) không ?

Lập trường của Sartre, hiện hữu của con người không chịu giả thiết một hữu thể tối cao nào ở bên ngoài, chỉ còn lại mình như một hữu thể đóng kín. Như thế, rõ ràng hiện sinh của Sartre đậm nét "ngẫu tính chủ quan". Trong khi đó, lập trường của Heidegger chăm chú vào cấu trúc của hữu thể, và đó là một cấu trúc tuy có những yếu tố tất định, nhưng cũng hàm chứa một nẻo đường sáng tạo để trở nên chính thực. Điều này khác với thứ tự do vượt qua tình trạng ngụy tín theo kiểu của Sartre.

Tuy nhiên, phải công nhận, Heidegger và Sartre đều suy tư về phận người trong sự vắng bóng Thượng Đế, và kết luận “cứ lý”, thì điều đó hướng đến chủ nghĩa vô thần và cũng có nét của một thứ hư vô chủ nghĩa.

3/ Người ta có thể nhận ra khá nhiều nét tương tự giữa tư tưởng của Heidegger và tín lý Kitô giáo. Ông đã đi vào triết lý với con người được đào tạo trong Kitô giáo, điều đó dùng ông muốn cố tình gạt bỏ thì nó vẫn lộ ra đâu đó trong suy tư của ông. Thậm chi ta còn có cảm tưởng Heidegger cố gắng để tư tưởng của mình không phải là một bản sao giáo lý Kitô giáo, nên đã bẻ quặt một sống đường nét, và theo tôi, đó lại là những chỗ kém thuyết phục nhất của Heidegger. Ông đặt vấn đề hữu trong mối tương quan với hư vô, đó là một nền tảng của Kitô giáo. Từ tính thể của Heidegger đến một Thiên Chúa ngôi vị của Kitô giáo có một sự khác biệt, dĩ nhiên là không nhỏ, nhưng cũng không phải là sự đối lập. Cũng vậy, khẳng định cái chết như một sự dở dang phải chấp nhận không khỏi là một sự chối bỏ cảm thức tự nhiên của phận người…. Gần như tất cả những gì còn lại đều am hợp với giáo huấn Kitô giáo.

Bài đọc thêm THỰC THỂ TỬ QUY

Thường tình con người ta, trong cái vô vị của các sự giao thiệp hàng ngày giữa con người với con người, chỉ "biết" cái chết như một tai nạn xẩy ra không ngớt; người ta được biết những "vụ chết". Bà con quyến thuộc, người này người nọ, bạn bè quen biết, kẻ này kẻ kia "chết". "Cái chết" hiện ra như một biến cố rất quen thuộc nó xảy ra trong nội bộ thế gian. Do đó, cái chết không làm gián đoạn cái sự thiếu bất ngờ nó tiêu biểu cho cái thứ tự vô vị của các biến cố hằng ngày. "Người ta" cũng lại lo sẵn một giải thích cho cái biến cố ấy. Dù cho lời nói có chân thật hay trái lại, nó rất thường hay "lẩn trốn" bằng ngàn lối quanh co, thì chẳng qua cũng chỉ bảo rằng : rốt cuộc một ngày kia người ta cũng chết; nhưng, trong khi chờ đợi, người ta vẫn còn là người ta, còn sống nhăn ra đấy.

Phân tách mấy chữ "người ta chết" cho thấy rõ ràng cái tư cách của cái thực-thể-tử-qui trong cái vô vị hằng ngày của nó. Cái chết được hiểu, trong cái lối nói này, như là một cái gì vô định, nó chắc chắn sẽ xẩy ra một ngày nào đó, từ một nơi nào đó, nhưng nó, đối với chính ta, trong khi chờ đợi, là một thực-tại-chưa-cho-ra, mà do đó, sự đe dọa không có gì phải sợ. Điều "người ta chết" phổ biến cái dư luận cho rằng cái chết hầu như chỉ liên hệ đến "người ta". Lối giải thích về cái thực tại người thường được nghe trong các câu chuyện giữa thiên hạ là: "Người ta chết"; vì khi nói "người ta chết", từ kẻ khác một và chính mình, cùng lúc ấy, có thể tự phụ được; phải, người ta chết; nhưng, mỗi lần, đâu có phải tôi, cái "người ta" chả là ai cả. Cái "việc chết" do đó được thu lại tầm mức một biến cố chỉ quan hệ đến thực tại người, nhưng không đụng chạm đến riêng ai cả. Nếu bảo rắng các sáo ngữ hàng ngày là mập mờ thì chính là ở đây, trong cái ngôn ngữ về cái chết. Cái chết nó không thể có dự khuyết ấy, trước hết, là cái chết của tôi; thì đây nó biến thành một biến cố thuộc về địa hạt công cộng; chính là cho "người ta" mà nó xẩy đến... do một sự mập mờ như thế mà cái thực tại người... sẵn sàng chìm vào cái "người ta". Cái "người ta" chứng minh và làm tăng thêm cái xu hướng tự mình giấu diếm mình cái thực-thể-tử-qui, cái thực thể tuyệt đối bị chiếm làm của riêng.

Cái lối lẩn tránh cái chết bằng cách che đậy nó ấy chi phối cái vô vị hằng ngày một cách tàn bạo đến nỗi, trong các sự giao thiệp giữa con người với nhau, các "bà con quyến thuộc" thường cố làm cho kẻ "hấp hối" tin rằng mình sẽ tai qua nạn khỏi; họ đưa hắn trở lại cái vô vị êm lặng của cái thế giới của hắn, của cái thế giới nó là sự lo lắng của hắn. Một "đám tả hữu" như thế đó nhất định "an ủi" kẻ hấp hối như thế đó... Sự bận tâm đến "người ta" nhằm đưa lại một sự trấn an vĩnh viễn về vấn đề chết. Nhưng thật ra, sự trấn an này không những chỉ có giá trị với "kẻ hấp hối" những cũng có giá trị không kém đối với những người "an ủi" hắn. Và ngày cả trong trường hợp hắn chết, cũng còn phải làm sao cho cái tai nạn đừng va chạm và đừng làm xao xuyến cái cảm thức của thiên hạ trong cái vô tư lự của họ. Người ta không phải là không thường thấy trong cái chết của kẻ khác một sự bực bội giao tế, nếu không phải là một sự thiếu ý nhị cần nên tránh cho kẻ khác.

Đồng thời đưa lại sự an ủi ấy cho thực-tại-người mà nó đẩy xa cái chết ra, cái "người ta" vừa được quyền vừa được kính nể vì nó mặc thị qui định thái độ mà người ta thói thường cần phải giữ đối với kẻ chết. Cứ cái việc "nghĩ đến cái chết" cũng đã bị cảm thức thiên hạ cho như là một sự sợ hãi khiếp nhược, một sự thiếu tin tưởng ở cái thực-tại-người, một sự lẩn tránh bi thảm khỏi thế gian. Cái "người ta" không thể tha thứ cho can đảm lại có thể lo âu trước cái chết. Như nó được giải thích công khai, cái "người ta" này có một thế lực mạnh mẽ đến nỗi nó quyết định cả tình-trạng-xúc-cảm nào là xác định cho thái độ phải giữ đối với sự chết. Trong cái lo âu trước cái chết, thực-tại-người bị đặt trước chính mình, như bị phó mặc cho cái khả năng không thể vượt qua được của nó. Cái "người ta" lo biến cải cái lo âu ấy, khiến nó chỉ là một sự sợ hãi trước một biến cố nào đó sắp tới. Biến thành sợ hãi rồi, và được trùm dưới lớp mập mờ rồi, lo âu lại còn bị phê phán như thể một sự hèn yếu mà một thực-tại-người tự tin ở mình, không có quyền biết đến...

Rằng cái thực-tại-người, mỗi khi là ta, xưa nay quả phải chết, nghĩa là ở vào một phạm thức thực-thể nó là thực-thể-quy-về-cái-chung-cục-của-mình, đó là điều mà cái thực-tại-người ấy tự giấu diếm mình bằng cách thay đổi bộ mặt của cái chết : nó làm cái chết chỉ còn là một trường hợp hằng ngày xẩy ra một cách vô vị ở các kẻ khác và hẳn nhiên còn bảo đảm rõ ràng hơn nhất rằng chính mình "người ta còn sống". Nhưng, vì sự lẩn trốn trước cái chết kia phai lạt dần, cái vô vị hằng ngày của sinh hoạt chứng thực rằng chính mình cái "người ta" trong mỗi trường hợp nhất định cũng đã là thực-thể-tử-quy rồi, và là thế dù cho nó không hẳn hòi di dịch trong một "tư tưởng về cái chết" đi nữa.

Martin Heidegger (Sein und Zeit)

(Bản dịch pháp ngữ của Henri Corbin, Gallimard. Trích lại trong R. Campbell, bản dịch của Nguyễn Văn Tạo, Sđd)