BÀI 4 (Phần 1): FREDERIC NIETZSCHE (1844-1900)

Có nhiều phản ứng khác nhau về con người và triết lý của Nietzsche. Một số người coi ông là kẻ phá hoại những nền tảng của đời sống luân lý con người, là "người chứng" cho những gì ghê tởm nhất của một con người mà triết lý có thể đạt tới. Nhiều người khác lại coi Nietzsche như nhà tiên tri cô độc luôn tha thiết với hạnh phúc của nhân loại.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Sách tham khảo

1. F. Nietzsche, "Zarathoustra Đã Nói Như Thế", bản dịch của Trần Xuân Khiêm, An Tiêm 1971.

2. F. Nietzsche, "Tôi là Ai ?”, Phạm Công Thiện dịch, Phạm Hoàng, 1969.

3. Thế Phong, "Frederic Nietzsche và chủ nghĩa đi lên con người", Đại Nam Văn Hiến, 1967.

4. Nguyễn Đa, Zarathoustra là ai ?, Tập San Triết Học, Hạ/72, trang 1-15.

5. Nguyễn Nam Châu, Sứ Mệnh Văn Nghệ, Đại học 1958.

******

Có nhiều phản ứng khác nhau về con người và triết lý của Nietzsche. Một số người coi ông là kẻ phá hoại những nền tảng của đời sống luân lý con người, là "người chứng" cho những gì ghê tởm nhất của một con người mà triết lý có thể đạt tới. Nhiều người khác lại coi Nietzsche như nhà tiên tri cô độc luôn tha thiết với hạnh phúc của nhân loại.

Có lẽ cuộc đời và triết lý của Nietzsche có cả hai điều đó. Ông vừa thực sự là kẻ phá hoại, phá hoại chính cuộc đời của mình và phá hoại cuộc sống nhân loại; nhưng đồng thời ông cũng làm cho cuộc đời của mình thật bi tráng, cũng như làm lực đẩy cho cuộc sống nhân sinh cất bước đi lên. Học thuyết của Nietzsche là một phản ảnh khá trung thực về con người và cuộc đời đó. Hào hùng và bi thảm; tinh tế và giả tạo, khinh ghét và yêu mến, mạnh mẽ và yếu nhược... tất cả những điều trái nghịch được pha trộn với nhau trong hiện tượng Nietzsche, để tạo nên một thứ cay, thứ đắng làm cho người ta phải xuýt xoa chảy nước mắt; nhưng cũng là thứ cay đắng có thể làm người ta say sưa và nghiện ngập vì mùi vị quyến rũ riêng của nó. Thật khó có thể đánh giá một lần về con người và học thuyết này. Nhưng qua Nietzsche, ta không khỏi cảm thương cho thân phận con người. Có lẽ cuộc đời của ông cũng là một "bi kịch hy lạp" như chính ông đã hết lời đề cao; và có lẽ ta không nên dễ dàng đánh giá Nietzsche, cho bằng chiêm ngắm ở đây một "bi kịch" của thân phận con người và một lời "ngôn sứ" cho chính thân phận con người.

1. Tiểu sử và tác phẩm

Fréderic Nietzsche sinh ngày 15 tháng 10 năm 1844 [Đây cùng là ngày sinh của vua Áo đang cai trị, Frederick William IV. Thân phụ Nietzsche, người đã từng làm gia sư cho nhiều người trong hoàng tộc, rất vui mừng trước sự trùng hợp ấy, và đặt tên cho cậu bé theo tên vua. "Dù sao cũng là một lợi điểm trong việc tôi đã chọn ngày ấy để ra đời; suốt thời thơ ấu, sinh nhật tôi đã là một ngày vui công cộng" Ecce Homo; trích lại trong Will Durant, Sđd, trang 535.] tại Rocken, thuộc miền Saxe nước Phổ [ Đây cũng là nơi chào đời của Luther.]. Cha là mục sư gốc Balan, thuộc dòng dõi trưởng giả. Lên 5 tuổi, Fréderic đã phải mồ côi cha và gia đình sống khá chật vật. Hơn nữa, sau cái chết của thân sinh một vài tuần, người em trai Joseph Nietzsche cũng qua đời; sự kiện đó làm cho Fréderic trở thành người con trai duy nhất, sống trong gia đình toàn những phụ nữ : bà, mẹ, hai dì và em gái là Elizabeth; cậu được cưng chiều và mang trong tâm hồn một sự nhậy cảm, tế nhị đầy nữ tình.

Frederic Nietzsche sống thời thơ ấu và thiếu niên trong bầu khí đạo đức, với nếp sống ngoan ngoãn, đàng hoàng cho tới năm 17 tuổi. Khi còn nhỏ, cậu không chơi với những đứa bé hư hỏng hàng xóm, không thích những chuyện phá làng phá xóm, bắt tổ chim, phá vườn hoa, chơi trò lính tráng và hay nói dối như những đứa trẻ chung quanh; cậu chỉ thích đơn độc, đọc Thánh Kinh hay đọc cho người khác nghe với một giọng thật cảm động làm cho họ phải rưng mắt lệ. Lên 14 tuổi (tháng 10-1858), Fréderic được học bổng nội trú 6 năm ở trường trung học danh tiếng Schulpforta[ Nơi đây đã từng đào tạo ra Klopstock, Novalis, Fichte, anh em nhà Schlegel.]; và trong thời gian này, Frederic vẫn có dáng vẻ trang nghiêm, tế nhị, thích làm thơ, thích nhạc. Bạn bè gọi cậu là "mục sư tí hon", hoặc "Đức Giêsu ở trong nhà thờ".

Tuy nhiên, trong con người nghiêm trang, nhạy cảm đó, vẫn ẩn tàng một niềm kiêu hãnh và một ý chí mạnh mẽ: khi những người bạn học hoài nghi chuyện về Mucius Scaevola[ Mucius Scaevola, một thanh niên người Roma, trong thời gian những người Etrusques bao vây thành Roma [507 tcn], đã xâm nhập vào trong doanh trại quân thù và thay vì giết Porsenne, đã giết nhằm vị tướng của ông. Bị dẫn đến trước nhà vua, ông đặt bàn tay mình trên than hồng như chấp nhận hình phạt vì sự lầm lẫn của mình.], cậu đã minh chứng sự kiện ấy bằng cách đốt cháy một hộp diêm trong lòng bàn tay. "Cái gì không phải bản tính tôi, cái đó đối với tôi chính là Thượng Đế và đức hạnh".

Năm 1864, Fréderic vào đại học Born. Ban đầu chàng định học thần học, nhưng ít lâu sau, lại chuyển sang môn ngữ học cổ điển, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Hy ngữ Ritsch. Rồi Nietzsche theo giáo sư Ritsch sang đại học Leipzig. Năm sau đó, Frederic Nietzsche tình cờ tìm được cuốn sách của Schopenhauer trong một tiệm sách cũ, tác phẩm "Thế Giới, Ý Dục và Biểu Tượng"; ông đọc ngấu nghiến suốt hai tuần liền và nhận thấy tác phẩm đó là "một tấm gương, trong đó tôi nhìn thấy thế gian, cuộc đời và chính bản tính của tôi được trình bày với một vẻ hùng tráng kinh hồn"; cậu nghiền ngẫm từng chữ trong tác phẩm đó, và cảm thấy "Dường như Schopenhauer đang nói riêng cùng tôi. Tôi cảm thấy nguồn phấn khởi của ông, và tưởng như thấy ông trước mắt. Mỗi hàng chữ đều kêu gào thúc dục sự khước từ, chối bỏ, cam chịu". Cuốn sách đó tạo nên trong chàng thanh niên Fréderic một cơn khủng hoảng tôn giáo trầm trọng, chàng bắt đầu ý thức về giai đoạn lịch sử nhân loại với phong trào vô thần đang bành trướng mạnh mẽ trong xã hội. Nietzsche cho rằng mình bị đánh lừa trong tôn giáo và đã bị mất mát tất cả; bừng mắt ra, cuộc đời trở nên trống rỗng và vô nghĩa. Rồi chàng lao mình vào một cuộc đời phóng đáng, ăn chơi cùng các bạn cùng trường ở Bonn và Leipzig, cố gắng tập những nghệ thuật ăn chơi của nam giới như hút thuốc và uống rượu. Nhưng chẳng bao lâu, chàng chán ngấy rượu, thuốc lá, đàn bà, và tỏ vẻ khinh bỉ những điều đó nữa. Thời gian này, Nietzsche có làm một luận án về Schopenhauer, nhưng không được chấp nhận.

Năm 23 tuổi (1868), chàng tình nguyện gia nhập quân đội, dù đáng lẽ chàng được miễn vì là con một góa phụ và bị cận thị. Nhưng thời gian quân ngũ của Nietzsche chẳng được bao nhiêu. chàng bị ngã ngựa vẹo xương sườn. Chứng bệnh từ cú ngã ngựa đó vẫn đeo đẳng Nietzsche mãi. Thất bại trong cuộc đời quân ngũ, nhưng chàng luôn tỏ ra tôn sùng hình ảnh các quân nhân như là những người anh hùng, chịu được dãi dầu, cam go. Chàng trở lại đại học Leipzig và vùi đầu vào việc học.

Nhờ giáo sư Ritsch giới thiệu, tháng 2 năm 1869, Frederic Nietzsche được bổ nhiệm làm giáo sư môn ngữ học cổ điển tại đại học Bâle, Thụy Sĩ, dù không có bằng tiến sĩ. Ngày nhận chức, ông đọc bài thuyết trình về đề tài "Homère và Ngữ Học Cổ Điển", bài diễn văn này được mọi người ca ngợi. Công tác dạy học của Nietzsche khá thành công, nên ông được cấp bằng tiến sĩ và thăng cấp giáo sư chính thức. Ông nhập quốc tịch Thụy Sĩ và dạy học tại đó suốt 10 năm.

Khi ở Bâle, Nietzsche làm quen với nhạc sĩ Richard Wagner. Khi đó Nietzsche mới có 24 tuổi, nhạc sĩ thì đã gần lục tuần, đang sống với người vợ trẻ Cosima, con gái của nhạc sĩ Lizt. Nietzsche và Wagner đều say mê Schopenhauer, còn với Cosima thì Nietzsche ngưỡng vọng với một nỗi niềm say mê câm lặng. Cuộc gặp gỡ với Wagner là một biến cố quan trọng trong cuộc đời Nietzsche. Khâm phục tài năng của Wagner, ông muốn nói lên giá trị của Wagner cho cả thế giới; ông coi Wagner như một Achilles tân thời.

Nietzsche lên tận núi Alpes để được an ổn viết; ở đấy, năm 1870, Nietzsche nghe tin Đức và Pháp lâm chiến, ông gia nhập quân đội với vai trò y tá điều dưỡng. Ở Frankford, trên đường ra trận tuyến, chàng gặp một kỵ binh diễn hành với vẻ hùng tráng, chàng đột nhiên cảm thấy như đó chính là hình ảnh triết lý của mình : "lần đầu tiên tôi cảm thấy rằng ý chí muốn sống mãnh liệt nhất và cao độ nhất, không phải biểu thị trong một cuộc vật lộn thảm hại để sống còn, mà trong một ý chí muốn chiến tranh, một ý chí muốn quyền lực, một ý chí muốn khắc phục". Trong vai trò y tá, Nietzsche chẳng hiểu được sự tàn bạo đích thực của chiến trường; ngay cả trong việc nuôi bệnh mà ông cũng chịu không nổi. Máu me làm ông kinh sợ. Ông bị xỉu, rồi lại bị mắc bệnh tả lỵ, bệnh đau yết hầu; ông được đưa về nhà, thân xác kiệt quệ. Từ đó về sau, W. Durant nói, "chàng có những sợi thần kinh của một Shelley[ Shelley [1792-1822], một thi sĩ trữ tình của Anh. Hứng khởi thi phú của Shelley luôn có tính cách lãng mạn và buồn thảm.] và bao tử của một Carlyle[ Thomas Carlyle [1795-1881], nhà sử học và nhà phê bình người anh. Tác phẩm chính của ông là "Les Héros et le Culte des héros"]; tâm hồn của một thiếu nữ dưới lớp áo của một quân nhân". Tuy nhút nhát như thế, nhưng tâm hồn ông lại lại thích lý tưởng hóa hình ảnh người chiến sĩ "bằng tất cả cường độ tưởng tưởng của kẻ thiếu kinh nghiệm", theo kiểu nói của W. Durant.

Năm 1872, Nietzsche trở về Bâle, thể xác đau yếu, nhưng tinh thần bừng cháy tham vọng, ông viết : "Tôi có trước mắt công việc đủ để làm trong 50 năm nữa và phải canh chừng thời gian một cách nghiêm ngặt". Ngày đầu năm 1872, ông cho xuất bản tác phẩm "Nguồn Gốc Bi Kịch Hy Lạp từ Tinh Thần Âm Nhạc", nhằm đề cao Wagner; tác phẩm này được dư luận khen ngợi và coi Nietzsche như vị cứu tinh của dân tộc Đức bằng con đường âm nhạc. Năm sau, 1873, ông cho ấn hành hai phần đầu của tác phẩm "Quan Điểm Phi Thời Gian" với những tựa đề : “David Strausse, tín đồ và nhà văn”; “Về sử dụng và nguy hại của sử học đối với đời sống”.

Lúc này Nietzsche đã hơi thất vọng về chiến tranh. quân Đức đã chiến thắng vào năm 1871 và người Đức có vẻ tự phụ một cách thô lỗ. Nietzsche cho rằng thái độ đó cản trở sự trưởng thành đích thực của tâm hồn. Ông viết phần 3 của cuốn Quan Điểm Phi Thời Gian năm 1874, với tựa đề "Schopenhauer, Nhà Giáo Dục", trong đó ông than thở : "Đế quốc Đức quả đang tuyệt diệt tinh thần Đức". Ông quay mũi súng vào các đại học có tinh thần ái quốc quá trớn. Thời gian này, trong những bài tiểu luận của ông, chúng ta đã thấy nhen nhún tư tưởng đề cao thiên tài :

"Kinh nghiệm dạy chúng ta rằng không gì chướng ngại cho sự phát triển những triết gia lớn cho bằng thói tục nâng đỡ những triết gia tồi trong các đại học quốc gia; không quốc gia nào sẽ dám bảo trợ những người như Platon và Schopenhauer... Quốc gia luôn luôn sợ những người như thế"[ Schopenhauer, Nhà Giáo Dục, đoạn 8.].

"Không phải sự cải thiện số đông cái quần chúng mà xét riêng từng người, là những kẻ vô giá trị nhất" mà chính là " sự tạo dựng thiên tài"[ Schopenhauer, Nhà Giáo Dục, đọan 6.].

Năm 1876, ông viết bài tiểu luận "Richard Wagner ở Bayreuth" (phần 3 của cuốn "Quan điểm phi thời gian"), trong đó ông hết lòng ca ngợi Wagner như người anh hùng Sierfried, "người chưa từng biết sợ hãi". Bài tiểu luận kêu gọi Đức Quốc phải nhận ra ý nghĩa hào hùng của buổi lễ trình diễn nhạc Wagner sắp tới : "Bayreuth với chúng ta có ý nghĩa là phép bí tích ban mai vào ngày lâm chiến".

Nhưng rồi sau đó Nietzsche lại bất mãn với Wagner; ông không chịu được thái độ Wagner công kích người Pháp, ông kinh ngạc vì sự ganh tị của Wagner đối với Brahms. Trong những đêm trình diễn nhạc Wagner (bản nhạc Chiếc Nhẫn Nibelungen,1976), Nietzsche khó chịu với những trò ca tụng quá thô thiển. Ông nói "họa là điên tôi mới ở lại đây", và "tôi khủng khiếp chờ đợi từng đêm trình diễn dai dẳng ấy...tôi không thể chịu đựng được nữa"; ông "chán ngấy trước tất cả những gì có tính cách đàn bà, vò vè vô kỷ luật trong cái lãng mạn ấy, trong sự lừa dối ấy, trong sự làm yếu mềm lương tâm con người, những gì đã chinh phục được một trong những linh hồn dũng cảm nhất ở đây". Thế là ông bỏ đi không nói một lời với Wagner, giữa lúc Wagner đang ở tột đỉnh vinh quang. Sau đó, ở miền Sorento xa xôi, ông lại chạm mặt Wagner, nhạc sĩ đến đó để nghỉ ngơi sau vinh quang của mình và đang hình thành một bản nhạc kịch mới (Parsifal, đấy sẽ là một bản tụng ca Kitô giáo, lòng trắc ẩn, và tình yêu không xác thịt, ca tụng một thế giới được cứu chuộc nhờ một "người điên thuần túy", "người điên trong Chúa Kitô"), Nietzsche không thèm nhìn mặt Wagner và không bao giờ nói chuyện với ông này nữa. Nietzsche không thể tha thứ cho Wagner vì ông ca tụng Kitô giáo. Trong cuốn Trường Hợp Wagner, ông chửi rủa thậm tệ :

"Wagner nịnh hót mọi thiên tính ngã về Phật Giáo hư vô, và ngụy trang nó bằng âm nhạc; hắn nịnh hót mọi thứ Kitô giáo và mọi hình thức tôn giáo biểu thị của suy đồi. Richard Wagner,... một kẻ lãng mạn vô vọng đã tàn bại, bỗng ngã quị thình lình trước Thánh Giá. Chớ không có người Đức nào có con mắt nhìn, có tấm lòng trắc ẩn mà khóc cái cảnh tượng kinh khủng này hay sao ? Vậy hóa ra tôi là kẻ độc nhất hắn đã làm cho khổ đau hay sao ?.. Ờ mà tuy nhiên, tôi là một trong những thằng hâm mộ Wagner đồi trụy nhất... Được rồi, tôi là đứa con của thời đại này, y hệt như Wagner, nghĩa là một thằng suy vi; nhưng tôi ý thức được chuyện đó, tôi bảo vệ cho tôi chống lại chuyện đó".

Về sau, trong một giây lát minh mẫn giữa cơn điên loạn cuối đời, khi nhìn bức ảnh Wagner đã chết từ lâu, ông khẻ thốt lên: "Chính người ấy, ta đã yêu nhiều nhất".

Tâm hồn của Nietzsche thật tinh tế; ông nhận ra ngay những gì lố bịch, những gì có chút giả tạo trong cuộc đời. Nhưng khốn khổ thay sự tinh tế ấy lại không nhận ra được tính hay làm bộ của chính mình. Chúng ta thấy, tự bé, Nietzsche thích đọc Tin Mừng cách thật cảm động cho người khác; Nietzsche ca tụng người chiến sĩ khi mình không làm được... những điều ấy vừa phản ảnh một sự tinh tế trong nhận xét thế giới, vừa có vẻ gì như một sự ve vuốt chính bản thân của mình. Tâm hồn Nietzsche vừa cần sự an ủi, vừa khát khao sự hùng dũng. Will Durant nói: "Nietzsche vốn có thói quen tự đánh lừa và vốn là một người viết tự thuật không đáng tin cậy lắm".

Sức khỏe của ông càng lúc càng xấu đi nhiều; bắt đầu từ năm 1875, Frederic Nietzsche đã có những triệu chứng bệnh thần kinh; ông thường bị những cơn đau đầu kinh hồn đến nôn mửa liên miên; đôi mắt thì yếu và không chịu được ánh sáng. Năm 1876, ông phải ngưng dạy học một năm để đi dưỡng bịnh và năm 1879 phải từ chức giáo sư. Nhưng chính lúc này, triết gia mới bỏ khuynh hướng bi quan của Schopenhauer và tuyệt giao với Wagner. Những văn phẩm "Nguồn Gốc Bi Kịch" và "Những Quan Điểm Phi Thời Gian", trong khoảng 1872-1876, còn phản ảnh tư tưởng bi quan. Còn những tác phẩm "Nhân Đạo, Quá Nhân Đạo" và "Du Khách Với Bóng Mình" sẽ biểu lộ tâm trạng mới, không bi quan.

Từ năm 1879 đến năm 1889, triết gia sống đời giang hồ, mùa đông du ngoạn những miền trong Địa Trung Hải như Nice, Pháp, Ghenova, Ý; mùa hè trở về Thụy sĩ. Trong thời gian nầy, trong những miền cao cô quạnh, ông đã cảm hứng cho những tác phẩm vĩ đại nhất của mình "Zarathoustra Đã Nói Như Thế" (1885), và "Vượt Qua Thiện Ác" (1886)

Về cuốn Zarathoustra, Nietzsche cho rằng đây là một tuyệt tác, ông viết : "Tác phẩm này đứng một mình một cõi, đừng để chúng ta nhắc đến những thi sĩ trong cùng một hơi; có lẽ chưa từng có cái gì đã được sáng tạo từ một mãnh lực tràn trề đến thế. Dù cho tất cả sự hăng hái và sự hài hòa của mọi tâm hồn lớn đều qui tụ lại, cũng không thể sáng tạo nên chỉ một bài duy nhất trong những bài giảng của Zarathoustra".

Thời gian này, ông sống đơn độc một mình và, với một thần kinh quá nhậy bén cùng với một thân xác vốn yếu ớt, ông không khỏi cảm thấy cô độc và chua cay. Trong bức thư cuối tháng 7 năm 1888, gởi người bạn cố tri, cô De Meysenbug, ông viết :

"Trống rỗng đã vây quanh tôi. Nói trắng ra là không một ai nghĩ đến hoàn cảnh của tôi. Bi đát nhất là từ 10 năm nay, tôi không được nghe một lời an ủi và tôi mới hiểu ra rằng nhân tình thế thái phải là như vậy. Quả tim tôi bị đâm thủng vì không tiếp nhận được một câu trả lời, một chữ trả lời, vì phải một mình, kinh khủng một mình, mang chịu gánh nặng đáng lẽ được người ta chia sẻ, gánh nặng mà ai cũng muốn trút bỏ, bởi không thì viết làm gì ? Đến rồi phải ngã gục vì "bất tử" mất. Sự tình cờ đưa đẩy cái số phận khốn nạn của tôi là sống đồng thời với sự nghèo nàn tinh thần của Đức Quốc, sống với một chua xót đáng thương hại...".

Tuy thế, ông luôn cương quyết thể hiện cuộc sống theo đúng triết lý của mình. Có một lần, lúc nguy tử, Nietzsche nói với em gái của ông: "khi anh chết, chỉ có những người bạn được đứng cạnh quan tài, cấm lũ người tò mò thóc mách. Hãy để ý đừng cho một linh mục hay bất cứ ai khác thốt những lời bá láp bên mồ anh, khi anh không còn thể tự bảo vệ; hãy để anh đi xuống mồ nguyên vẹn là một đứa vô thần chân chính" (Nietzsche, Con Người Cô Đơn, tr. 65). Tuy nhiên, ông lại khỏi bệnh, và có lẽ chính trận ốm nặng đó đã làm nẩy sinh một ý chí mãnh liệt hơn trong cuộc chiến đấu với tử thần; ông tìm thấy một tiếng "vâng" ngọt ngào của sự sống ngay cả trong niềm cay đắng nhọc nhằn; và có lẽ trận ốm đó đã làm nẩy sinh một nỗ lực muốn vươn tới chỗ hoan hỉ chấp nhận những giới hạn tự nhiên, chấp nhận số phận đau thương con người, theo tinh thần của Spinoza: "Công thức của tôi về sự về sự vĩ đại là Amor Fati (thuận mệnh); không những chỉ chịu đựng mọi điều không thể tránh, mà còn yêu thương nó".

Năm 1888, ông soạn tác phẩm "Chiều Tàn Của Thần Tượng"; đồng thời, ông cũng dự định tổng hợp tất tư tưởng của mình trong một tác phẩm mang tên : "Ý Chí Hùng Cường". Nhưng dự định này không thành công, vì từ đầu năm 1889 ông phát điên. Câu chuyện như sau : tháng Giêng năm 1889, khi chứng kiến cảnh một người phu xa đánh đập tàn nhẫn vào đầu một con ngựa trên đường phố Turin, ông chạy đến, ôm cổ con vật, hôn nó, rồi bỗng xây xẩm mặt mày và ngã lăn ra. Từ đó ông sống trong tình trạng tê liệt hoàn toàn cả về thể xác và tâm hồn. Ông còn sống thêm 11 năm nữa, và qua đời tại Weimar ngày 25-8-1900.

Xem tiếp phần 2