BÀI 4 (Phần 2): FREDERIC NIETZSCHE (1844-1900)
Tư tưởng Nietzsche biểu lộ chính cuộc đời và bản thân ông, cả hai làm nên một toàn khối thật tuyệt vời : "Tôi luôn luôn đem vào trong các văn phẩm cả cuộc đời và cả bản thân của tôi, tôi không biết thế nào là trí thức suông". Nietzsche không xếp đặt tư tưởng theo một hệ thống nhất định, cũng không có ý định lưu lại hậu thế một triết thuyết, nhưng là một sứ điệp sống.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
2. Tư tưởng
Tư tưởng Nietzsche biểu lộ chính cuộc đời và bản thân ông, cả hai làm nên một toàn khối thật tuyệt vời : "Tôi luôn luôn đem vào trong các văn phẩm cả cuộc đời và cả bản thân của tôi, tôi không biết thế nào là trí thức suông". Nietzsche không xếp đặt tư tưởng theo một hệ thống nhất định, cũng không có ý định lưu lại hậu thế một triết thuyết, nhưng là một sứ điệp sống.
Cũng như Kierkegaard, Nietzsche phản đối lại Hegel, trào lưu tư tưởng Hegel, cũng như mọi thứ lý thuyết có vẻ hợp lý, được biến trở thành thần tượng. Triệt để hơn, ông muốn phá đổ tất cả nền triết lý duy niệm của Tây Phương dựa trên kiểu suy tư bằng lý trí xuất phát từ Socrate, để đưa ra một học thuyết mang tính cách một nền văn hóa mới với mẫu người lý tưởng là siêu nhân.
Ông cũng đưa ra một thứ "nguyên lý" phi lý cho cuộc đời; trong đó, thế giới thiên nhiên cũng như cuộc đời của con người đều là một mãnh lực mù quáng. Có tác giả[ Xc. Lê Thành Trị, Sđd trang 68; ghi chú số 2, trích lại ý kiến của Cornelius Heim.] nói mâu thuẫn vừa là bản chất, vừa là phương pháp của học thuyết Nietzsche .
2.1. Ý Chí Hùng Cường
Điểm khởi đầu của cuộc cách mạng Nietzsche là Sự Sống được thể hiện trong một Ý Chí Hùng Cường. Đối với Nietzsche, "ý chí" không có nghĩa là một cơ năng riêng biệt, nhưng bao hàm mọi sinh hoạt tâm linh: cảm giác, bản năng, cảm xúc, đam mê, tư tưởng, cử động..., trong đó, nổi bật nhất là bản năng; Nietzsche cho rằng, trong nhân loại, chỉ có những ý chí mạnh và những ý chí yếu; ý chí mạnh, khi một đam mê làm bá chủ các xung lực sơ đẳng; ý chí yếu, khi các xung lực nầy loạn phát.
Chịu ảnh hưởng của Darwin[ Vergez et Huisman lại cho rằng không phải như một huyền thoại phổ biến cho Nietzsche là một darwinnien; thật ra Nietzsche anti-Darwin; và là lamarckien (cho rằng nhu cầu tạo ra cơ năng); Sđd, trang 314.], Nietzsche cũng cho rằng sống là cạnh tranh, là tiến hóa, và là chiến thắng của kẻ mạnh nhất. Nhưng động lực của cuộc tiến hóa này không phải là hoàn cảnh bên ngoài, mà do chính nghị lực nội tại của ý chí. Bản chất của sinh vật là thu hút, xâm chiếm, đàn áp, chiếm hữu hay ít là khai thác... trong cuộc sống này, không có chỗ cho những thứ tình cảm yếu ớt như vị tha, xả kỷ…. Tình ái cũng chỉ là trạng thái của ý chí hùng cường. Đàn ông sinh ra để đánh giặc; đàn bà để giải khuây cho chiến sĩ. Đây không phải là sự ích kỷ theo quan điểm luân lý, nhưng là qui luật của sự sống, vì mọi sinh vật đều muốn tranh đấu và khao khát chiến thắng. Chính Ý chí hùng cường làm cho cuộc sống nên linh hoạt và tiến bộ.
Cuộc tiến hóa này không ngừng lại ở con người và không chỉ nhằm tạo ra các chủng loại, nhưng là để tác tạo những con người thượng đẳng. Ông viết: "Sai lầm căn bản của các nhà sinh vật học trước đây là: mục đích không phải là lợi ích của chủng loại, mà là làm xuất hiện những con người mạnh hơn; đa số chỉ là một phương tiện"; và "Hiện tượng căn bản là : vô số cá nhân phải hy sinh cho một thiểu số".
Ý chí ở đây cũng được áp dụng cho toàn thể vũ trụ. Mọi hành động, mọi năng lực đều biểu lộ ý chí ấy. "Các bạn có biết vũ trụ là gì đối với tôi không? Một quái vật hùng mạnh, vô thủy vô chung, một tổng số nhất định gồm toàn năng lực. Và các bạn muốn biết một tên để đặt cho vũ trụ, một giải pháp để thấu hiểu các bí ẩn của vũ trụ ? Vũ trụ chính là ý chí hùng cường, chớ không gì khác".
Như thế, Nietzsche hiểu ý chí như một khuynh hướng, một khuynh hướng "mù quáng", mạnh mẽ của tất cả vũ trụ, khuynh hướng này là nền tảng của mọi giá trị. Đây là một điểm khá đặc sắc của Nietzsche.
2.2 Qui Hồi Vĩnh Cửu
Vũ trụ không có mục đích bên ngoài nào, không có lý lẽ siêu việt buộc nó phải tuân theo, nhưng chỉ là một sự ngẫu nhiên tuyệt đối. Không có một vị thần nào sáng tạo thế giới. Sự sống là một mãnh lực tuôn chảy mãnh liệt, trong thế giới cũng như trong nhân loại. Sự sống là nguồn năng lực sáng tạo, nó nằm ngay trong vũ trụ và nguồn sinh lực thúc đẩy qua trình tiến hóa không ngừng[ Quan niệm này khác với quan niệm “đà sống” của Bergson. Bergson chia làm hai ngả, vươn lên tới tinh thần và cô động thành vật thể.]. Tất cả vạn vật chỉ là những lúc thể hiện của cuộc tiến hóa ấy[ Cuộc tiến hóa này cũng khác với Hegel, hiểu như là một cách thức tỏ bầy một cách hợp lý vào những thời điểm hợp lý.].
Cuộc đời này trôi chảy theo một vòng tròn Phục diễn bất tận (hay "Qui hồi vĩnh cửu"), không có gì mất đi và không có gì được sáng tạo ra hoàn toàn. Vũ trụ quay theo một chiều vòng tròn, một vật mất hay còn đều không quan trọng, vì mất đi là để tái hiện. Vũ trụ giống như chiếc đèn kéo quân[ Xc Lê Thành Trị, Sđd trang 71-72.].
Ông viết trong quyển Ý chí hùng cường như sau :
"Và các ông có biết đối với tôi thế giới là gì không ? Có cần phải chiếu lại cho các ông xem thế giới ấy không ? Thế giới ấy là một quái lực vô thủy vô chung, một lực lượng đanh thép không thể nhỏ hơn mà cũng không bao giờ to lớn, không làm tiêu hao mà chỉ sử dụng, bất biến trong toàn bộ của nó, một ngôi nhà không chi tiêu hoặc mất mát mà cũng không thu hoạch và không tăng thêm, chung quanh là hư vô làm như biên giới. Thế giới ấy không phải là cái gì mông lung và tự phung phí, không phải là cái gì bao la vô tận, nhưng là một lực xác định, nó được đặt vào trong một không gian xác định và không phải trong một không gian trống rỗng ở một nơi nào đó. Là lực khắp nơi, nó là ba động và giao thoa của các lực, vừa một vừa nhiều, tăng chỗ này giảm chỗ kia, một biến lực xao động mà chính nó là phong ba, vĩnh viễn biến đổi trong một đi lại vĩnh viễn, với những năm khổng lồ trở về, với làn sóng không ngừng đổi mới, từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất, từ yên lặng nhất, cứng cỏi nhất và lạnh lùng nhất đến nóng nẩy nhất, rực rỡ nhất, mâu thuẫn nhất, để rồi lại sau đó đi từ đa phức đến đơn giản nhất, trò chơi mâu thuẫn đến hoan hỉ hòa điệu, tự khẳng định, ngay trong cái đồng hình không thay đổi qua năm tháng, tự chúc phúc vì nó là cái chính phải trở về vĩnh viễn, là một thành hình không chán, không nhờm, không mệt, thế giới ấy, thế giới như tôi thấy, cái thế giới Dionysien của sự sáng tạo vĩnh viễn, tự hủy diệt, cái thế giới huyền bí của khoái lạc hai mặt, thế giới "bên kia thiện ác" của tôi không mục đích, trừ một mục đích nằm trong hạnh phúc của vòng tròn, không ý chí, trừ một vòng tròn có thiện chí, đi theo con đường cũ của mình, luôn luôn đi quanh chính mình và chỉ đi quanh mình : thế giới ấy, như tôi quan niệm, ai có trí tuệ đủ sáng suốt để nhìn ngắm mà không muốn lòa mắt ? Ai mạnh đủ để đưa tâm hồn mình đến trước tấm gương ấy ? Tấm gương bản thân mình trước tấm gương của Dionysos ? Và nếu có ai có khả năng đó, thì không nên làm hơn nữa hay sao? Tự hứa chính mình cho "vòng xích của các vòng xích" ? Với nguyện ước chính mình sẽ trở về ? Với vòng xích của chúc phúc vĩnh viễn mình làm cho mình, của mình tự khẳng định mình một cách vĩnh viễn ? Với ý chính muốn luôn và một lần nữa ? Muốn về lại đàng sau, muốn tất cả những gì đã có ? Muốn tiến lên trước mặt, muốn tất cả những gì sẽ có ? Bây giờ các ông biết thế giới đối với tôi là gì chưa ? Và đã biết chưa điều tôi muốn khi tôi muốn thế giới này ?"[ Trích lại trong Lê Thành Trị, Sđd, trang 71-73.].
Trong cuốn Zarathoustra, ông viết :
"Và con nhện này đang chậm chạp bò dưới ánh trăng, và ngay cả ánh trăng này nữa, và ta, và ngươi đang gặp gỡ nhau dưới trụ quan này, thì thào nói về những sự việc thiên thu vĩnh cửu, há chẳng phải là hết thảy chúng ta đều đã từng hiện thể cả ở nơi đây ?
"Chúng ta há chẳng phải quy hồi và chạy trở lại một lần nữa trên con đường trước mặt đang phóng lên cao, con người viễn tuyệt âm u kia, há chẳng phải là chúng ta phải vĩnh viễn quy hồi trầm luân trở lại ?"[ Zarathoustra, Sđd, trang 321.].
Đây là một đề tài khó và tối tăm của Nietzsche. Chúng ta biết rằng, trong cuốn Zarathoustra, đề tài Quy Hồi Vĩnh Cửu này chỉ được Nhà Tiên Tri độc thoại với chính mình trong phần ba của tác phẩm như là đạo lý tối thượng của ông. Một số tác giả, cho rằng không thể hiểu Qui Hồi Vĩnh Cửu của Nietzsche theo nghĩa vũ trụ luận thô sơ[ Xc Nguyễn Đa, Sđd, trang 13], nhưng chính yếu là bàn về vấn đề luân lý[ Xc Vergez et Huisman, Sđd, trang 316.], trong đó người ta phải chấp nhận cách vĩnh cửu những hành vi của mình như thể đón nhận những thử thách đe dọa được sản sinh ra cách vĩnh cửu do chính lựa chọn của mình. Khi người ta gieo vào đời một hành vi nào, nó sẽ không mất đi, không đi vào hư vô, nhưng sẽ "trở lại", trở lại với những "hoa trái", những hậu quả tất nhiên của qui luật cuộc đời.
Có thể nói cách dễ hiểu như Valéry : "Hãy làm điều anh muốn, nếu như anh có thể chịu đựng nó trong vĩnh cửu".
2.3. Con người đi lên
Nhưng con người không bị nhận chìm trong thế giới hỗn độn đó. Nietzsche luôn nhắc nhở về số mệnh đặc biệt con người. Trong thế giới, con người phải thể hiện mình như một sức mạnh cao cả nhất, phải dùng chính sức mạnh của vũ trụ để biến thành khả năng đi lên, thành cách thức để tự giải thoát mình, để tự nguyện trở về không ngừng và tiến tới không ngừng, muốn những cái đã có và cả những cái sẽ có[ Xc. Lê Thành Trị, Sđd, trang 72.].
Con người đó, trước hết, là con người chỉ tin vào cảm giác. Nietzsche công nhận mọi nhận thức đến từ kinh nghiệm giác quan, giác quan không bao giờ lừa dối, là nhận thức hồn nhiên của thân thể, của dục vọng, nhận thức như của Héraclite trước dòng đời trôi chảy. Nhưng kinh nghiệm ấy, tự nó là mù quáng, không có ý nghĩa gì cả. Các triết gia sau Socrate không dám tin vào giác quan để nhận ra được nàng chân lý nguyên sơ, mà chỉ biết dùng lý trí để vẽ ra chân lý một cách lạnh lùng, chết khô; họ bị bả của Socrate.
Con người đó là con người bạo động. Con người được sinh ra đã là một thứ bạo động rồi, nên tất cả những gì theo sau cuộc sinh nở của con người đều mang tính chất bạo động; Nietzsche nói đến bạo động của sức khỏe, bạo động của tinh thần tự do, bạo động của vinh dự, bạo động của qúi phái, như Christophe Colombe đã bạo động để khám phá ra Châu Mỹ, thì con người cũng phải biết vắt óc, nặn tim để sáng tạo. Ông viết : "Tôi viết sách với chính máu tôi".
"Mọi cố gắng đi sâu đến nền tảng sự vật, làm sáng tỏ các huyền bí, đã là bạo động rồi, một ý chí làm cho mình đau khổ, ý chí cốt yếu của trí tuệ luôn luôn căng thẳng trong phiêu diện và hời hợt. Trong mọi ý chí tìm biết có một giọt nước "độc ác".
Con người đó là con người sáng tạo. Theo Nietzsche, các sự vật tự chúng không có giá trị gì. Giá trị của chúng đều do sự đánh giá của con người.
"Thực sự, con người tự ban cho mình điều thiện cũng như điều ác. Thực sự, họ không chiếm đoạt hay khám phá thiện ác hoặc lắng nghe tiếng nói của điều thiện điều ác, như nghe một tiếng từ trời phán xuống. Chính con người đã đặt giá trị vào sự vật, chính họ đã sáng tạo ý nghĩa cho sự vật, một ý nghĩa nhân linh, vì thế, họ được gọi là người".
Như thế, vũ trụ là mù quáng, không có giá trị khách quan, cố định trường cửu. Sự vật, tự nó, chỉ là hư vô, trống trống, ảo tưởng. Cuộc sống của con người thì, tự đó, chỉ là phi lý. Tất cả chỉ còn có sức mạnh, sức mạnh để đạp đổ và sức mạnh để tiến tới không ngừng. Trong cảnh hùng tráng và hỗn mang đó, con người phải trở thành những vị thần sáng tạo. Sáng tạo bằng việc đánh giá; nhờ việc đánh giá mà giá trị mới có được; không có việc đánh giá, cuộc sống ra trống rỗng. Sáng tạo bằng cách bạo động, bạo động là định luật tạo ra những giá trị. Sáng tạo để tự hình thành con người của mình và để ban cho cuộc đời ý nghĩa từ chính mình.
Nietzsche nói đi nói lại rằng : con người là cái gì phải vượt qua; hay nói cách khác, học thuyết của Nietzsche là chủ nghĩa con người đi lên.
2.4. Đảo ngược giá trị
Để thực hiện cuộc đi lên này, Nietzsche cảm thấy cần phải dọn ra một con đường mới bằng cách phá đổ; phải "triết lý với cái búa", đập tan những thần tượng, những giá trị cũ. Triết lý của Nietzsche cũng là triết lý của sự đảo ngược các giá trị. Dựa trên ý chí hùng cường, ông phân biệt đâu là những giá trị đích thực và đâu là những giá trị cổ hủ làm cản trở sức sống của nhân loại. Chính sự sống mãnh liệt, sự sống của "ý chí hùng cường" mới có thể làm xuất hiện giá trị đích thực.
Nietzsche xếp các giá trị cổ hủ thành bốn loại:
- Giá trị tôn giáo: đó là niềm tin vào Thượng đế, nổi bật nhất trong Kitô giáo,
- Giá trị lý thuyết: triết học và các khoa học, căn cứ trên niềm tin vào chân lý,
- Giá trị luân lý: niềm tin vào bổn phận, nhân đức, tình thương,
- Giá trị xã hội: lý tưởng về bình đẳng, dân chủ, về xã hội chủ nghĩa.
Cần phải đập phá tất các giá trị cũ kỹ đó, giải phóng con người khỏi ách nô lệ của những thần tượng mà chính con người đã tạo ra. Trong số đó, có hai điều Nietzsche muốn dùng hết năng lực để phá đổ :
a. Phá đổ truyền thống triết học duy niệm
Là một giáo sư về ngữ học cổ điển, Nietzsche luôn ngưỡng mộ truyền thống của người Hy Lạp. Ông phân tích những đường nét căn bản trong truyền thống dân tộc Hy lạp trước Socrate.
Trong truyền thống Hy Lạp cổ xưa, có hai vị thần tượng trưng cho tinh thần của dân :
- Dionysus (hay Bacchus): vị thần của rượu và vui chơi, của niềm vui trong hành động, của cảm xúc và hứng cảm xuất thần, của bản năng và phiêu lưu, của sự khổ đau dũng cảm, vị thần của ca, nhạc, vũ và kịch.
- Apollon : vị thần của thanh bình nhàn hạ, nghỉ ngơi, của cảm xúc nghệ thuật, của mặc niệm tri thức, của trật tự hợp lý và niềm bình an triết học, vị thần của hội họa, điêu khắc và anh hùng ca.
Tâm hồn Hy Lạp là một hòa điệu của hai lý tưởng đó : sức mạnh nam tính xung động của Dionysus và vẻ đẹp nữ tính yên lặng của Apollon. Tâm hồn đó được bộc lộ rõ ràng trong kịch nghệ cổ điển của Hy Lạp, trong đó Dionysus khởi hứng cho ca khúc và Apollon cho lời đối thoại; ca khúc xuất phát trực tiếp từ đám diễn hành của những môn đồ Dionysus, lời thoại là ý nghĩa đến sau, một phần hỗ trợ, phản ánh của một kinh nghiệm cảm xúc.
Nietzsche nhìn thấy sức mạnh của tâm hồn Hy lạp biểu lộ trong bi kịch Hy Lạp. Dân tộc Hy Lạp không phải là những người luôn lạc quan, vui tươi, nhưng là những người luôn bị ám ảnh bởi số phận bi đát của kiếp sống con người. Khi Midas hỏi Silenus số phận nào là tốt nhất cho con người, Silenus trả lời:
"Hỡi nòi giống đáng thương chỉ sống có một ngày kia ơi, hỡi những đứa con của tai nạn và buồn rầu, sao ngươi lại buộc ta phải nói những gì mà tốt hơn đừng nên nghe tới ? Số phận tốt nhất không thể có được, ấy là đừng sinh ra đời, không là cái gì cả; thứ đến là chết thật sớm".
Nhưng người Hy Lạp không bị chết chìm dưới gánh nặng của số kiếp; họ có cách để vượt thoát, đó là khả năng biến đau khổ thành cái gì bi tráng, bộc lộ trong bi kịch của người Hy Lạp. Bi tráng là khả năng chấp nhận số phận của cuộc đời một cách anh hùng, hân hoan. Những điều đó là tinh thần bi kịch của người Hy lạp, trong đó ta thấy một sức mạnh vượt qua số phận của họ; "Bi kịch chính là bằng chứng cho sự kiện rằng những người Hy Lạp không bi quan"[ Trích lại trong Will Durant, Sđd, trang 543.].
Nhưng Euripide, nhà soạn kịch theo lối mới, kẻ đã đưa ra tiêu chuẩn "tất cả mọi sự phải hợp lý thì mới đẹp"; rồi Socrate, một kẻ yếu hèn đã không sống được tinh thần hùng mạnh của Hy lạp nên đã lấy những ý niệm cứng ngắt, thay cho sức sống mãnh liệt tuôn trào; những kẻ đó đã giết chết tinh thần Hy lạp.
Nietzsche chống lại toàn thể triết học Tây Phương từ Parménide và Socrate mà ông gọi là duy niệm, thứ triết học muốn lấy tư tưởng trừu tượng thay thế cho sinh hoạt thực sự của ý chí hùng cường. Triết lý kiểu đó chỉ là một cách đầu hàng, thoái lui; Các triết gia toàn là những người uất hận thế giới hiện tại nên mới tạo ra thế giới tưởng tượng; cũng như người kitô hữu, họ là những người bị ảo tưởng của một hậu thế ám ảnh, bởi vì đã không thành công được trong đời này.
b. Phá đổ nền luân lý nô lệ
Một chướng ngại thứ hai mà Nietzsche phải phá đổ là nền luân lý nô lệ, biểu lộ đặc biệt trong Kitô giáo. Ông nhận thấy chỉ có có hai loại luân lý. Luân lý của chủ nhân và luân lý của nô lệ. Nền luân lý của chủ nhân làm cho tất cả mọi sự liên can đến họ đều tốt, và họ là người tạo ra giá trị, họ được phú bẩm cho cho những đức tính ngang tàng, có quả tim sắt đá, để sống thể sống hào hùng.
Ngược lại, nền luân lý nô lệ thuộc về những kẻ nhu nhược, yếu hèn. Bị kiềm chế trong đời sống khổ đau, họ lập ra một bảng giả trị để xoa dịu những khốn khổ cho mình bằng thái độ nhẫn nại, khiêm tốn, tha thứ, từ bi..... Những giá trị này chỉ là những sản phẩm của một tâm hồn bệnh tật.
"Chính những người bệnh cùng những kẻ hấp hối đã khinh bỉ thân xác và mặt đất, đã tạo ra những sự vật thiên đình cùng những giọt máu cứu thế..."[ Zarathoustra, Sđd, trang 49.].
"Thật ra, nhiều khi tôi phải phì cười khi thấy bọn bệnh tật kia; họ nghĩ họ tốt lành chỉ vì chân tay họ bất toại".
Trong viễn tượng đó chúng ta đã thấy khá rõ lập trường vô thần của Nietzsche. Lời công bố của Nietzsche về cái chết của Thượng Đế đã trở thành tuyên ngôn của những trào lưu vô thần nhân bản. Ông phủ nhận tất cả ý nghĩa của thực tại khách quan, nên tất cả những khoa khoa học hay tôn giáo đều không có thực. Ông cho rằng các nhà vô thần của thế kỷ XVIII vẫn chỉ quanh quẩn trong lý thuyết vô thần chứ chưa thấy được tầm ảnh hưởng của chủ trương đó trong chính cuộc sống. Vì nếu không có Thiên Chúa, mọi giá trị đặt nền trên đó cũng phải sụp đổ, tất cả vũ trụ, nhân sinh đều trở thành phi lý; và nếu không có Thiên Chúa thì chính con người phải là Thiên Chúa, tức là con người phải là người tạo ra các giá trị. Điều này về sau Sartre khai triển để chứng minh cho tự do của con người. Chúng ta nên nghe lại một số lời đanh thép của Nietzsche :
- Về Kitô giáo : "Tôi ghét tởm Kitô giáo đến chết được". "Tôi kể Kitô giáo như là một sự quyến rủ và lừa dối tai hại nhất". Ông thù ghét Kitô giáo, chỉ vì nền luân lý Kitô giáo cản trở sự sống : "Cho tới bây giờ, người ta chưa can đảm tấn công Kitô giáo, hơn nữa, lại tấn công không đúng chỗ. Bao lâu chưa cảm thấy rằng: luân lý Kitô là một tội ác căn bản đối với sự sống, thì các người bênh vực vẫn chống trả lại dễ dàng".
Theo ông, vấn đề Kitô giáo có phải là đạo thật hay không là vấn đề rất phụ thuộc, bao lâu người ta chưa đặt vấn đề về giá trị của nền luân lý Kitô. "Kitô giáo là một khuynh hướng suy đồi, kết tụ mọi cặn bả đủ loại. Ngay từ đầu, Kitô giáo là một tổ hợp các thành phần bịnh hoạn. Vì thế, Kitô giáo không có tính cách quốc gia hay chủng tộc gì cả, mà kết nạp hạng người xấu số thập phương".
- Về Đức Giêsu : "Điều tôi không thích nơi ông Giêsu Nagiarét hay nơi đồ đệ Phaolô của ông là mấy ông đã xách động những người chất phác: các ngài tưởng như những đức tính nhỏ nhen của mình có một giá trị quan trọng nào vậy". "Trong cả Tân ước, không có chút gì vui nhộn hài hước cả: cái đó cũng đủ bài bác cả sách rồi".
- Về Kitô hữu : "Họ khinh miệt thân xác, không để ý gì cả. Hơn nữa, họ coi là kẻ thù. Sự điên rồ của họ là tin tưởng rằng người ta có thể dẫn một hồn tốt đẹp đi với một thân xác tiều tụy... Họ cần phải hát cho tôi nghe những bài ca hay hơn, để tôi mới chịu tin vào Đấng Cứu Độ của họ. Các môn đồ của Ngài phải có vẻ được cứu thoát hơn. Tôi muốn thấy họ khỏa thân, vì chỉ có vẻ đẹp mới rao giảng việc sám hối". "Sự cứu rỗi linh hồn bất diệt: một hình thức ích kỷ nhất". "Chúng mong được ân thưởng bội hậu: đó là một thứ tinh thần dơ bẩn nhất hạng".
- Về linh mục : "Linh mục Kitô giáo trên nguyên tắc là tử thù của tình dục... Cái nhìn của linh mục, gương mặt xanh xao, xa cách làm hại cho sự sống hơn là những lợi ích do lòng hy sinh tận tụy của họ mang lại; lối sống cách biệt như thế vu khống sự sống". "Linh mục muốn đạt tới chỗ coi mình là mẫu người cao cả trong nhân loại, muốn thống trị trên cả những người có quyền thế trong tay".
- Về Thiên Chúa : "Thiên Chúa là một ức đoán... Hỡi các bạn, tôi muốn trút hết tâm sự của tôi cho các bạn. Nếu có thần thánh, làm sao tôi có thể chấp nhận rằng tôi không phải là thần thánh ? Vậy, không có thần thánh nào cả ?".
Thật ra, trong một ngôn ngữ khoái hoạt và ngông nghênh và đầy hình ảnh, tư tưởng của Nietzsche được diễn tả như những sấm ngôn mà ý nghĩa của nó không phải chỉ nằm trên mặt chữ. Vị Thượng Đế mà Nietzsche đòi giết đi chỉ là một vị Thượng Đế giả, Thượng Đế của nền luân lý nô lệ[ Xc Vergez et Huisman, Sđd, trang 315-316.]. Khi Nietzsche trích dẫn lời Chúa để quả quyết : Lề luật dành cho những người nô lệ; ông còn muốn coi Giêsu như người phá hủy luân lý. Cũng vậy, trong cuốn Nhật Ký của ông, không ấn hành, và một số bản thảo, Nietzsche thấy Chúa Giêsu có một tâm hồn rất trong sạch, trí óc sáng suốt, có sức mạnh của lòng chân thật, có nhiều điều kiện chứng tỏ rằng Chúa khổ hạnh và có tư tưởng tự do[ Xc Thế Phong, Sđd, trang 105.]. Còn nền luân lý Kitô giáo mà ông muốn phá đổ, chúng ta thấy Kierkegaard cũng dùng hết những năm cuối đời để chống lại; và đọc Dostoievsky, trong anh em Nhà Karamadốp, chương Viên Đại Pháp Quan, chúng ta thấy nền thái độ tôn giáo dễ dãi đó cũng đáng được phê phán mạnh mẽ như thế.
2.5. Siêu nhân
Nietzsche loan báo về siêu nhân, nhưng siêu nhân chưa xuất hiện. Chúng ta có thể thấy trong những gì Nietzsche phá đổ thấp thoáng hình ảnh siêu nhân mà ông muốn trình bày: siêu nhân là người sống trọn vẹn ý chí hùng cường, vượt lên trên những thứ ý triết lý duy niệm cũng như nền luân lý nô lệ, và là người can đảm đối diện với "huyền nhiệm" Qui Hồi Vĩnh Cửu.
a. Siêu nhân là người đối lập với tiện dân
"Người hùng không lấy làm vinh dự khi thấy người ta cũng nghĩ như mình; trái lại ông thấy mất thể diện vì người khác cũng đồng ý với mình, vì như thế là mình chẳng hơn họ chi. Người hùng phải nói : "Ý kiến của tôi là ý nghĩ của tôi; người khác không có quyền nghĩ như thế". Phải giữ mình đừng chia sẻ những ý nghĩ của quần chúng. Điều thiện thì qúi; những cái chi được phơi bày nơi quần chúng thì quí gì nữa. Cho nên, tất cả những gì qúy báu và cao trọng không thể thấy nơi quần chúng, mà chỉ dành riêng cho những kẻ anh hùng mà thôi. Của hiếm dành cho loại người hiếm"[ Par delà le bien et le mal, aph.126,42, trích lại trong T.T.Đỉnh, Sđd, trang 136-137.].
b. Siêu nhân là người tự do hoàn toàn
Siêu nhân là người có ý chí tự quyết, có bản lĩnh tự do, không lệ thuộc vào nếp sống đạo đức của lũ tầm thường. Hắn đã bóp nghẹt tiếng nói lương tâm rồi, và đã tìm lại được thứ lương tâm của người ngoại giáo. Hắn không còn phục lụy một quyền lực ngoại tại nào.
"Người cao thượng là người đã ý thức và tin tưởng đinh ninh rằng mình có quyền nhận định, có quyền đặt lại những giá trị mà không cần được ai chấp nhận hết. Cái gì họ nghĩ là có hại, thì đó là cái có hại, cái gì họ nghĩ là danh dự thì đó là danh dự: người tự chủ là kẻ sáng tạo ra những giá trị (créateur de valeurs). Đó là luân lý của người tự chủ, một luân lý nêu cao vinh dự của con người".
c. Siêu nhân là người dám sống nguy hiểm
"Các bạn hãy tin tôi: chỉ có một bí quyết để thu hoạch.một mùa sống phong phú nhất và giá trị nhất, đó là sống cách nguy hiểm"[ Le gai savoire, aph, 283; trích lại trong T.T.Đỉnh. trang 139.].
Đồng thời cũng làm nên sự nguy hiểm cho người khác
"Những bậc kỳ tài trong thiên họ đều là những người hùng cường : chính họ thúc đẩy nhân loại tiến triển bằng cách làm thức dậy những đam mê vẫn ngủ yên tự xưa cho đến lúc đó...
"Cũng như những thời kỳ oai hùng, những bậc kỳ tài là những chất nổ ghê gớm, vì họ chứa những nghị lực mãnh liệt. Đồng thời những bậc kỳ tài đó trở thành những mối nguy hại: họ tiêu hao tất cả nghị lực và làm tê liệt các kẻ chung quanh và đi sau họ. Người kỳ tài là một tận cùng"[ Crépuscule des idoles, Aph.44; Trích lại trong T.T.Đỉnh, Sđd trang 138.].
d. Siêu nhân là người biết cười
Sau hết, Siêu nhân biết cuời, giữ nét mặt tươi cười. Chẳng những cười chê mọi giá trị cũ: "Ta ra lệnh cho họ cười chê các nhà đạo đức, các vị thánh, các thi nhân, các vị cứu tinh của họ". Nhưng, Siêu nhân còn cười vì tràn đầy nhựa sống, như một đứa trẻ: "Vòng hoa nụ cười, vòng hoa hồng, chính ta đã đặt lên đầu ta, chính ta đã thánh hóa nụ cười vui vẻ của ta. Hỡi các người anh em, ta quăng cho các anh vòng hoa ấy... Hỡi các vị thượng nhân, hãy học cười".
Có thể coi bài thuyết giáo của Zarathoustra về ba cuộc hóa thân của tinh thần như một tiến trình đạt đến tầm mức siêu nhân. Trong đó Nietzsche mô tả tinh thần trở thành lạc đà; rồi lạc đà trở thành sư tử; và sau cùng sư tử trở thành trẻ thơ. Xin trích vài câu :
(Lạc Đà :) - "Có gì nặng nề đâu ? Tinh thần can đảm hỏi như thế; nó quì gối như con lạc đà và muốn người ta chất thật nặng lên lưng mình".
(Sư Tử:) - "Nhưng ở giữa lòng sa mạc hoang liêu cô độc nhất, thành tựu cuộc hóa thân thứ nhì : ở đây, tinh thần biến thành sư tử, tinh thần muốn chinh phục tự do và làm chủ sa mạc riêng của mình".
Ở đây, con mãnh sư phải chiến đấu với con Đại khủng long "Mi Phải"; chiến đấu bằng tinh thần mãnh sư của mình là tinh thần "Ta muốn".
(Trẻ Thơ:) "Như hỡi anh em, hãy nói ta nghe, đứa trẻ thơ có thể làm điều gì mà con mãnh sư đã không thể làm được ? Tại sao con mãnh sư dữ tợn phải biến thành trẻ thơ ?
Trẻ thơ là sự ngây thơ và quên lãng, một sự tái khởi miên viễn, một trò chơi, một bánh xe quay vòng quanh mình, một vận chuyển đầu tiên, một tiếng vâng linh thánh.
Vâng, hỡi các anh em, đối với trò chơi sáng tạo, cần phải có một tiếng "vâng" linh thánh...."
Kết
Thật khó mà đưa ra một phê bình chính xác về học thuyết của Nietzsche; lịch sử vẫn có những cái nhìn khác nhau về con người này. Hơn nữa, việc đánh giá ảnh hưởng học thuyết Nietzsche, ảnh hưởng tốt và ảnh hưởng xấu, lại càng khó hơn nữa.
Người ta thấy ảnh hưởng của Nietzsche với Quốc Xã Đức, quân đội đồng minh đã khám phá thấy trong các trại lính của Hitler có nhiều tập sách nhỏ ghi chép những tư tưởng của Nietzsche về ý chí hùng cường, về con người siêu nhân.
Nhưng Nietzsche cũng làm thức tỉnh thái độ yếu hèn, nô lệ, thụ động của cuộc sống, trong triết học, đặc biệt của đời sống tôn giáo. Tư tưởng của ông như một cơn bão làm tan biến những gì cũ kỹ, nhưng cũng làm lộ ra một chân trời mới.
Có lẽ lời nhận xét của Yves de Montcheuil có thể diễn tả một thái độ đúng đắn của người Kitô hữu đối với hiện tượng Nietzsche :
"Đối với một tín đồ Kitô giáo đã vững tâm, không sợ bị lôi cuốn, chúng tôi có thể quyết rằng ít có chi bổ ích cho tinh thần bằng sự suy nghĩ những trang Nietzsche đã viết; bổ ích vì những trang đó bắt ta suy nghĩ và phản ứng. Nietzsche răn chúng ta đừng theo chước cám dỗ tai hại thường làm chúng ta muốn biện hộ và thần thánh hóa những yếu hèn của chúng ta và những nhu nhược của chúng ta : chúng ta nấp sau những mặt nạ đạo đức để yên thân trong cảnh nhu nhược"[ Trích lại trong Trần Thái Đỉnh, Sđd, trang 151.].
***
Trích văn Sát Thiên
Đây là đoạn văn tiêu biểu nhất cho thấy ý nghĩa giết chết Thượng Đế của Nietzsche.
"Anh có nghe nói về người điên đốt đèn đốt đèn giữa ban ngày, vừa chạy giữa công chúng vừa kêu lên : "Tôi tìm Thượng Đế! Tôi tìm Thượng Đế!"... Người điên nhẩy chồm lên giữa đám công chúng và nhìn trân trối mọi người, hắn la to: "Thượng Đế đi đâu rồi ? Tôi nói cho các người hay đây. Chúng ta giết Ngài rồi, các người và tôi ! Chính chúng ta, tất cả chúng ta, đều là những kẻ sát nhân ! Nhưng làm sao chúng ta làm nổi việc đó ? Làm sao chúng ta có thể tát cạn bể khơi ? Ai cho chúng ta một miếng bọt biển để xóa sạch tất cả chân trời ? Chúng ta làm gì khi đã cởi bỏ sợi dây xích nối liền trái đất với mặt trời ? Bây giờ sợi dây xích đó đi đâu rồi ? Cả chúng ta đây, chúng ta đi đâu ? Đi xa mọi mặt trời ? Chúng ta chẳng rơi xuống liên hồi sao ? Tới trước, tới sau, sang bên, mọi phía ? Còn một trên đầu, một dưới chân nữa ? Chúng ta chẳng đi lang thang như qua một hư không vô hạn ư ? Chúng ta chẳng thấy hơi thở của sự trống trải phà trên mặt chúng ta ư ? Chẳng lạnh hơn trước ư ? Đêm và bao đêm nữa chẳng kéo đến lũ lượt không ngừng đó ư ? Thế chẳng lẽ lại không nên thắp đèn lồng ngay từ sáng sớm ư ? Chúng ta chưa nghe rõ tiếng động của bọn đao phủ đào huyệt chôn Thượng Đế đó sao ? Chúng ta chưa cảm thấy sự tan rã thần thánh đó sao?... Các thần linh thì cũng phải tan rã chứ ! Thượng Đế chết rồi ! Thượng Đế vẫn còn chết ! Và chính chúng ta giết Ngài ! Làm sao chúng ta an ủi nhau được, chúng ta ấy, những sát nhân với những sát nhân ! Cái thiêng liêng nhất và mãnh liệt nhất trên trần gian cho đến ngày nay đã tuôn máu dưới ngọn dao của chúng ta rồi; ai lau sạch máu này cho chúng ta ? Nước nào có thể rửa sạch nó được ? Chúng ta bó buộc phải bày đặt ra cảnh thục tội nào đây, trò chơi thiêng liêng nào đây ? Cái lớn lao của hành vi này quá lớn lao đối với chúng ta. Chúng ta có nên trở thành thần linh chỉ để ra vẻ xứng đáng với sự lớn lao đó không ? Chưa từng bao giờ có hành động nào cao cả hơn và dù sao những kẻ sinh ra sau chúng ta sẽ vì đó mà thuộc về một lịch sử cao hơn bất cứ lịch sử nào trước đây !".
Kẻ mất trí lặng thinh với những tiếng này và lại nhìn các người nghe : họ cũng câm lặng như hắn và ngạc nhiên nhìn hắn. Sau cùng hắn ném chiếc đèn xuống đất cho tan thành muôn mảnh và tắt ngấm. "Tôi đến quá sớm", hắn nói, "thời của tôi chưa tới. Biến cố vĩ đại nay còn đang tiếp diễn trên đường tới đây, nó đi từng bước, nó chưa vọng tới tai mọi người được. Tia chớp và tiếng sét cần thời gian, ánh sáng các tinh tú cần thời gian, hành động cần thời gian, ngay cả khi đã hoàn tất, rồi mới đến mắt tai mọi người được. Hành động này, cái hành động vẫn còn xa xăm với họ như những chòm sao xa xăm kia, lại chính họ đã hoàn tất nó !". Người ta còn kể rằng, cùng ngay hôm đó, người điên đi vào nhiều nhà thờ và vang tiếng cầu kinh Requiem aeternam Deo (cầu cho Thượng Đế an nghỉ vĩnh viễn). Bị tống xuất và vặn hỏi, hắn không ngớt trả lời lúc nào cũng chỉ bằng câu : "Các giáo đường còn là gì nữa, nếu không phải là những nấm mộ và những sinh phần của Thượng Đế ?".
Fréderic Nietzsche, trích trong đoạn 125 của cuốn "Gai Savoir", xb năm 1882, đoạn "Người Mất Trí"; trích lại trong Merleau Ponty, Ca Ngợi Triết Học; nxb Mai Nguyễn,1970; Huynh Phan Anh và một số dịch giả khác.
"Thượng Đế ở đâu ?...Tôi sẽ nói cho các bạn. Các bạn và tôi, chúng ta đã giết Thượng Đế. Nhưng chúng ta đã giết cách nào ? Làm sao chúng ta có thể tẩy trừ ý tưởng Thượng Đế ? Rồi tiến trình dẫn chúng ta về đâu ? Chúng ta sẽ không đi vào bể hư vô sao ? Làm sao chúng ta, những kẻ mưu sát của những kẻ sát nhân, có thể tự an ủi được ? Hành động cao cả này đối với chúng ta không to tát lắm sao ? Tại sao không trở nên Thựơng Đế, để chỉ còn một mình chúng ta tồn tại ? Chưa từng có một hành động cao cả hơn và nhờ hành động này, những kẻ đến sau chúng ta được sinh ra trong một lịch sử cao đẹp hơn lịch sử chúng ta sống cho tới ngày nay".
Lời Zarathoustra :
"Khi ta đến trong loài người, ta thấy họ ngồi quanh một thiên kiến cố cựu: từ lâu , họ vẫn tưởng họ biết cái chi là thiện và cái chi là ác cho con người, cho nên họ cho những cuộc tranh luận về nhân đức là câu chuyện cũ rích.
"Ta đã lay tỉnh họ và bảo cho họ biết rằng : chưa ai biết đâu là thiện và đâu là ác, trừ vị đã sáng tạo nên chúng. Và ta đã bảo họ phá đổ những giá trị cũ kỹ xưa...Ta đã thóa mạ tất cả những giá trị đó. Nhất là ta đã dạy cho họ hiểu chân lý mới này : con người là một cái gì phải vượt qua (L' homme est quelque chose qui doit être dépassé). Anh em ơi, ta đã phong cho anh em quyền sáng tạo : đối với ta, anh em là những vị sáng tạo. Không phải nguồn gốc của em có thể làm vinh hạnh cho anh em, nhưng chỉ ý chí hùng cường và bước đi của anh em mới thực là giá trị và danh dự cho anh em thôi" .
(Ainsi parlait Zarathoustra, p. 276-287
Trích lại trong Trần Thái Đỉnh, trang 137-138).
Ecce Homo
Triết học Pháp đầu thế kỷ XX
Từ giữa những năm 1880 đến 1890, do những tiến bộ lớn lao của khoa học, những triết thuyết như : thực chứng thuyết của Auguste comte, duy cơ thuyết của Lamark và Darwin, và thuyết liên tưởng tâm học (associationisme) trong ngành tâm lý học ở Anh Quốc đã phát triển mạnh mẽ, tạo nên khuynh hướng duy khoa học và một bầu khí chìm ngập trong tất định thuyết.
Phản ứng lại khuynh hướng này, ta lại thấy có trường phái duy linh (spiritualisme); một cách nào đó, trong trường phái tân phê bình (néo-criticisme) và thực dụng (pramagmatisme); và trường phái duy tâm (idéalisme)…