Đề tài : Tìm Lại Giá Trị Bản Thân - Phần 2

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Nhân loại có một sự bất bình đẳng khó có thể giải quyết ở mức độ công bằng xã hội hay nói chung là ở mức độ con người : Có người muốn hợp thức hóa sự bất bình đẳng (các triết gia Hy Lạp, đặc biệt là Aristote); có người lại muốn cào bằng một cách khiên cưỡng (K. Marx), hoặc như chúng ta thấy trong thời bao cấp. Bao giờ thì xã hội chủ nghĩa có thể đạt đến giai đoạn “ làm theo khả năng, hưởng thụ theo nhu cầu” ? ? ?

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

3. Sống với Chúa bằng giao ước bản thân

3.1 Hiện tượng : Bệnh cào bằng

Nhân loại có một sự bất bình đẳng khó có thể giải quyết ở mức độ công bằng xã hội hay nói chung là ở mức độ con người : Có người muốn hợp thức hóa sự bất bình đẳng (các triết gia Hy Lạp, đặc biệt là Aristote); có người lại muốn cào bằng một cách khiên cưỡng (K. Marx), hoặc như chúng ta thấy trong thời bao cấp. Bao giờ thì xã hội chủ nghĩa có thể đạt đến giai đoạn “ làm theo khả năng, hưởng thụ theo nhu cầu” ? ? ?

Căn bệnh cào bằng ấy, trong nhà tu, thánh Âu Tinh đã từng nêu lên như một sự bất công : “…vì không phải tất cả anh em đều khoẻ mạnh như nhau, nhưng ai cần bào nhiêu sẽ cho bấy nhiêu… và cũng đừng cho là bất công” (Tu Luật thánh Au Tinh giám mục, số 1). Chủ trương ăn đồng chia đều trong nhiều nhà dòng cũng là một thứ cào bằng…

Sâu xa hơn, đó chính là sự cào bằng trong luân lý : lấy một tiêu chuẩn chung của luật pháp, của thói quen để kết án người khác; sinh ra bệnh xầm xì trong đời sống chung. Bởi vì mỗi người có một khởi đầu khác nhau và có một hành trình khác nhau, nên khi ta lấy một tiêu chuẩn chung nào đó để đoán xét nhau, đó cũng là cào bằng và cũng là bất công. Tinh thần Đa Minh chủ trương luật không buộc thành tội… và chỉ can thiệp trong mức độ lối sống của anh em ảnh hưởng tới nề nếp chung, chứ không đoán xét anh em trong lương tâm của anh em trước mặt Chúa. Đó chính là cách thức giải quyết nề nếp chung trong sự tôn trọng phẩm giá lương tâm của người khác. Khi quan niệm cá nhân con người chỉ là một thành phần phụ thuộc của xã hội, người ta lấy tiêu chuẩn luân lý của một thời đại, tiêu chuẩn luân lý của một lập trường chính trị, không phải chỉ để kết án về hệ quả chính trị, nhưng lại kết án về luân lý đối với người người đó, người ta vi phạm đến phẩm giá con người. Lối kết án luân lý quá dễ dàng, với những lời lẽ nặng nề về luân lý trong các nước xã hội chủ nghĩa thường làm nên những chuyện dở khóc dở cười, có những kẻ bị coi là phản động, phá hoại, đốn mạt… rồi bỗng chốc lại trở nên anh hùng, … Căn bệnh cào bằng đã làm nên không ít bất công hơn căn bệnh bóc lột.

* Ý nghĩa

Cào bằng là một phương cách tìm sự hiệp nhất trong sự đồng loạt, bằng một kiểu thống nhất nghèo nàn. Đó cũng là cách thức “hiệp nhất” của sinh vật cấp thấp, là “đồng nhi bất hòa” chứ không phải “hòa nhi bất đồng”. Cào bằng là cách phá hủy tính cách riêng biệt độc đáo của cá nhân; chủ trương đồng nhất luôn tạo nên tính cách đoàn lũ trong cách sống.

Quá đề cao “công bằng vật lý” chia đều lợi tức, theo tinh thần duy vật, điều đó không thể tạo nên cơ hội để mỗi người là mình một cách chân thực và là mình để thực sự thực thi bác ái, bao bọc, hy sinh cho nhau… Quả thật cuộc sống con người không thể giải quyết được bằng giải pháp duy vật, mà chỉ có thể giải quyết được bằng giải pháp tinh thần, đúng hơn là giải pháp tôn giáo và giải pháp tình yêu.

* Hệ quả

Bất công vẫn hoàn bất công, vì cào bằng không có khả năng tính đến hành trinh cá nhân, không có khả nằn tính đến tấm lòng con người, không có khả năng đi vào hoàn cảnh riêng của mỗi người. Cào bằng làm được một sự “ra vẻ công bằng”, khi chỉ xét đến hiện tượng bên ngoài, nhưng lại tạo nên một sự bất công sâu xa khác khi tính đến tấm lòng, tính đến tinh thần của con người, tính đến thiện chí, tính đến huyền nhiệm của mỗi vận mạng con người.

Cào bằng gây nên một số oan ức, xúc phạm phẩm giá một số người khác : luật chung không phải bao giờ cũng đúng cho mọi trường hợp; nhất là khi người ta lấy luật chung để tạo nên một tiêu chuẩn đạo đức; rồi dùng tiêu chuẩn đạo đức đó để kết án người khác.

3.2 Giá trị nhân bản Kitô giáo : xác tín phẩm giá con người

Con người sinh ra đã có một sự bất bình đẳng mà không thể nào xóa đi được bằng các biện pháp cào bằng : nam - nữ, khoẻ - yếu, tài - kém, đẹp - xấu…; nhưng không ai được quyền xúc phạm đến phẩm giá làm người của một người xem ra thua sút mọi sự đối với người khác. Phẩm giá là người không nằm trong những điều ấy. Các triết gia lớn nhất của Hy Lạp cũng không phân biệt được “tài năng” và phẩm giá con người.

Nhưng phẩm giá của con người đặt căn bản ở đâu ? Trong công ước của nhân loại ư ? Nhưng nếu “công ước” của nhân loại hay luật lệ của nhà nước cũng chỉ là những thành tựu ngẫu nhiên của lịch sử, thì một người nào đó vẫn có thể chối từ khi họ có quan điểm khác; thì một người nào đó, khi bị đe dọa đến sự sống của mình chẳng hạn, vẫn có thể vi phạm; thì ai và lấy tiêu chuẩn nào để hình thành nên lý tưởng trọn vẹn của đời mình ? Và ai cũng như lấy tiêu chuẩn nào để xét xử, để ra hình phạt cho người khác ?

Thật sự người ta chẳng thể tìm được căn bản của phẩm giá con người nếu không tìm thấy nơi tình thương của Thiên Chúa, và đặc biệt nơi giáo huấn của Đức Giêsu :

"Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này ; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt 18,10)

Chính mặc khải ấy đã soi chiếu cho lịch sử nhân loại một luồng ánh sáng cao quí mà nhân loại không thể chối từ, ánh sáng làm nổi bật lên phẩm giá con người. Dưới ánh sáng ấy, mọi con người đều bình đẳng với nhau về phẩm giá là người, cho dù tài năng của mỗi người có khác nhau, có hơn kém, có chênh lệch thế nào đi nữa. Một khi ta xác tín manh mẽ về phẩm giá là người, phẩm giá bình đẳng của mọi con người, ta thoát được sự tự ti hoặc tự tôn để biết trân trọng bản thân ta và trân trọng bản thân của mọi người khác.

Hơn nữa, vận mạng của con người không phải đã hoàn thành. Con người không thể an tâm về phẩm giá LÀ NGƯỜI của mình, rồi mặc kệ cuộc đời. Con người cần phải nỗ lực trên hành trình LÀM NGƯỜI nữa. Trên hành trình này, vẫn tồn tại một sự bất bình đẳng, rất cụ thể và rất gay gắt. Những người có nhiều tài năng vẫn được hưởng nhiều lợi thế, nhiều ưu đãi mà nhiều khi người ta không khỏi mong muốn giải quyết bằng giải pháp cào bằng. Ở đây, Chúa Giêsu lại cho chúng ta một giáo huấn về sự bình đẳng trên hành trình làm người.

“Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói : "Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó ; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình." (Mc 12, 43-44)

Như thế, phẩm giá làm người không hệ tại người ta có nhiều tài để làm được nhiều chuyện lớn lao hơn người khác và để coi thường người khác. Nhưng phẩm giá làm ngừơi hệ tại khả năng cho đi nhiều hay ít chính bản thân mình; người mẹ già có thể chẳng có bao nhiêu tại năng và vốn liếng để ban tặng cho con, nhưng bản thân người mẹ lại hết sức cao quí đối với đứa con, đó là vì mẹ dám cho hết, cho hết những gì mình có và cho cả bản thân mình. Chính tâm lòng trân trọng con người của Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta biết nét cao cả của phẩm giá là người và phẩm giá làm người. Điều đó khác hẳn đường lối cào bằng một cách khiên cưỡng; đường lối đó thật hơn và cho thấy rõ hơn ý nghĩa của sự tự do, của tình yêu, của sự hoàn thành vận mạng của con người trong niềm tin vào Chúa. Quả thật, đê con người bình đẳng về phẩm giá với nhau, phẩm giá là người và phẩm giá làm người, người ta không thể qui chiếu vào qui luật biện chứng của vật chất, nhưng chỉ có thể tìm thấy nơi mạc khải của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô.

Phân biệt để hiệp nhất, đó là một nét tinh thần của thánh Thomas, (dựa theo tinh thần của Dòng ?). Khi người ta không biết phân biệt để hòa hợp, người ta chỉ còn biết cào bằng…. Khi phân biệt, người ta trả về cho cá nhân khả năng là người và làm người của chính họ, trả về để mời gọi mỗi người tự nguyện công hiến, tự nguyện cho đi. Ở đây, chúng ta thấy xuất hiện nguyên tắc tự nguyện như một đức tính nhân bản Kitô giáo cần thiết trong qui trình hiệp nhất đích thực mang tầm mức con người. Muốn có một sự hiệp nhất đích thực mang tầm mức con người, con người phải được trả lại phẩm giá tuyệt đối của họ, nghĩa là xác định con người có cứu cánh nơi chính mình. Không bao giờ được quyền biến con người thành một phương tiện, nhất là không bao giờ được coi con người như một phương tiện để làm phân bón cho một sự vật nào, một hòa điệu nào khác. Theo tôi, tự nguyện là điều cần được nhấn mạnh hơn bao giờ hết trong đời sống đức tin của người tín hữu Việt Nam.

“Con người là tạo vật duy nhất trên trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ; nên con người chỉ có thể tìm gặp được chính mình nhờ thành thật hiến dâng” (MV 24)

Người ta chỉ có thể hòa hợp với người khác đích thực khi biết phẩm giá của mình và dám sống trọn vẹn phẩm giá bản thân mình bằng cách cho đi chính bản thân mình.

3.3 Giải pháp tâm linh : Sống giao ước bản thân

Con đường tìm công bằng trọn vẹn không thể có được trong phương thức cào bằng hoặc hợp thức hóa sự bất bình đẳng, nhưng chỉ có thể thực hiện được bằng một cộng đồng, chảng hạn một gia đình, một cộng đoàn đầy tình huynh đệ, và nhất là trong một ý nghĩa của đời sống đức tin sâu xa; nghĩa là tìm thấy nơi Chúa một cộng đồng ngôi vị, nơi đó, mỗi người được là mình một cách bình đẳng trong phẩm giá là người và phẩm giá làm người, để rồi hướng tới một sự trao tặng toàn vẹn bản thân mình cho người khác.

Một em bé mồ côi cả đời chỉ mong ước tìm được một mái ấm gia đình. Đã có một lần em được nhận vào một gia đình làm con nuôi, nhưng đó chỉ là một sự lợi dụng. Lần khác, em tìm gặp được chính người mẹ ruột và được sống trong nhà với mẹ. Nhưng người mẹ ấy không chấp nhận nỗi những xáo trôn gia đình vì đứa con rơi và tìm cách chối từ đứa con của mình một lần nữa. Năm nay em đã hai mươi bốn tuổi và vẫn lủi thủi đi về một mình trong nỗi cô đơn.

Một lần em đến hỏi ý kiến của tôi về việc một gia đình nọ muốn nhận em là con nuôi. Tôi mừng cho em. Tuy nhiên,sau khi suy nghĩ, tôi góp ý với em đại khái như sau: theo tôi, em không nên nhận lời; bởi vì, nền tảng của một đời sống gia đình chính là tình nghĩa thuộc về nhau. Trong gia đình, dù có những tính khí khác biệt nhau, dù có những xung đột chuyện này chuyện kia, những thành viên trong gia đình vẫn còn có một nền tảng để gắn bó với nhau.

Những trục trặc trong gia đình, bình thường, chỉ là sự lỏng lẻo”trên kèo cột”; nền móng củangôi nhà gia đình ấy vẫn còn vững bền, vì mọi người trong gia đình, bình thường, vẫn còn nhận ra mình thuộc về nhau. Nhờ nền tảng ấy, những người cha mẹ, con cái, anh chị em vẫn còn liên đới với nhau. Trái lại, Khi em vào trong một gia đình, nền móng ‘thuộc về nhau” ấy chưa có. Dù có cố gắng lắm, em chỉ nối kết với người khác bằng cách sống tốt, bằng việc “gắn kết kèo cột”; nhưng nền tảng thì chưa xây dựng được. Trong tình hình ấy, chỉ cần một chút khác biệt cũng có thể làm đổ vỡ mọi sự. Điều cần thiết nhất để một gia đình được bền vững chính là tâm tình thuộc về nhau, đó là nền móng mà khi không xây dựng được thì mọi” kiến trúc thượng tầng” đều có nguy cơ đổ vỡ bất cứ lúc nào.

Tôi khuyên em nên can đảm sống tình trạng hiện tại, cho đến khi nào chính cách sống hiện tại của em gắn kết với người khác, dần dần xây dựng với nhau một bề dầy nghĩa tình. Đừng vội vã tìm cho mình bất cứ một”mái ấm” gia đình nào, kẻo lại thêm một lần thất vọng đau thương. Bởi vì nếu không xây dựng được một thứ thuộc về nhau bằng chính bản thân, thì mọi cố gắng nối kết khác đều có nguy cơ đổ vỡ.

Khi chúng ta mua bán ngoài chợ, chúng ta chỉ trao đổi với nhau một chút tiền bạc và của cải của nhau. Khi chúng ta ký hợp đồng với một công ty, chúng ta trao đổi với nhau, tiền bạc và tài năng của mình. Khi chúng ta kết nghĩa đệ huynh, chúng ta thường chỉ đón nhận nơi nhau những điều tốt đẹp mà thôi. Nhưnng khi đi vào hôn nhân, chúng ta trao cho nhau trọn vẹn cuộc đời. Đó là một cộng đồng ngôi vị; nghĩa là một sự cộng thông của chính bản thân người này với người kia. Giao ước bản thân, trước tiên, là rắc rối hơn nhiều, vì tất cả sự đều dính dáng tới người phối ngẫu của mình; nhưng đó cũng là cách để chúng ta có thể tin tưởng giao phó trọn vẹn bản thân mình cho người khác, trong mọi tình huống của cuộc đời vốn thăng trầm, bấp bênh của mình. Tuy nhiên, điều có ý nghĩa hơn nữa là khi giao ước bản thân, đó là người ta biết phó thác trọn vẹn bản thân, thì cũng biết hy sinh trọn bản thân. Chẳng hạn như những linh mục triều, khi về già, khi bắt đầu chớm bệnh, mà nếu không có đời sống tâm linh sâu xa, thì rất dễ rơi vào tình trạng chơi vơi, tôi không thuộc về ai mà cũng không ai thuộc về tôi. Tôi không dám để mọi lo lắng cuộc đời tôi, căn bệnh của tôi cho người khác lo, mà tôi cũng chẳng dám trao phó hết tiền bạc của tôi cho ai, hy sinh trọn vẹn bản thân tôi cho ai. Tôi phải dự phòng cho bản thân tôi, tôi phải tính toán cho bản thân tôi chứ đừng cậy dựa vào ai khác… Như thế, được chấp nhận bản thân, đó là một con đường giải thoát của con người, để con người có thể vượt qua nỗi cô đơn và sợ hãi của phận người. Bởi vì gặp gỡ đích thực là gặp gỡ bản thân của nhau.

Trong ý nghĩa đó, Thiên Chúa ký kết với chúng ta một giao ước có khả năng thấm nhập vào tận cùng mọi chi tiết trong bản thân ta. Giao Ước cũ chỉ được ký kết giữ Chúa và Dân, một giao ước với tập thể, mà trong đó, mỗi người vẫn phải, vừa bảo đảm được giao ước chung, vừa phải tự mình lo cho bản thân mình. Chính vì thế mà người dân vẫn chưa an tâm về bản thân mình, và họ thường xuyên vi phạm giao ước. Vào thế kỷ thứ VII trước công nguyên, Giêrêmia, rồi Edêkien đào sâu ý nghĩa trách nhiệm cá nhân đối với giao ước, nhưng (hình như ?) vẫn chưa khẳng định quyền lợi của cá nhân trong giao ước ấy. Giao ước mới : vượt qua cựu ước, hướng tới sự chấp nhận bản thân của mỗi người : gọi tên từng con chiên một, bỏ chín mươi chín con để đi tìm một con chiên lạc, không còn người này phải dạy người kia, nhưng mọi người sẽ được biết Chúa, được biết Chúa trong trái tim bằng thịt….

Như thế, khi lãnh nhận bí tích rửa tội, mỗi người kitô hữu vừa gia nhập vào Giáo Hội, vừa ký với Chúa bằng chíh bản thân mình. Trọn vẹn bản thân của mình được chết đi, để sống cho con người mới, con người làm con của Chúa. Bí tích Rửa Tội không chỉ là rửa tội tổ tông và tội riêng rồi sau đó người Kitô hữu phải tự lo gìn giữ bản thân mình cho khỏi tội nữa, nhưng bí tích Rửa tội làm cho ta trở thành con Chúa, trở thành một công đoàn ngôi vị với Chúa, trở thành thuộc về Chúa trong từng chi tiết nhỏ nhất của cuộc đời mình.

Chính Chúa đã muốn sống giao ước bản thân với ta : Ngài xuống thế làm người, hy sinh và lễ vật Chúa không ứng nen này đây con đến để thực thi ý Chúa; chọn đường lối cứu độ khác với các cám dỗ, hy sinh mạng sống, và cuối cùng là trao ban thịt máu của Ngài trong bí tích Thánh Thể.

Sống giao ước bản thân là dám tin vào Chúa trong trọn hành trình bản thân chứ không phải chỉ là một cuộc mua bán trả vay công đức với Chúa. Có thể nói là trong giao ước ấy, Chúa trở nên đồng trách nhiệm với chính bản thân ta. Sống trọn hành trình bản thân với Chúa có nghĩa là sống trong sự bình an, cho dù cuộc đời mình vẫn còn đầy tội lỗi; đó không phải là ỷ lại, nhưng chính là sống luật tiệm tiến, nghĩa là từng bước khát khao, từng bước mở tấm lòng và ở cuộc đời mình để Chúa thực hiện ơn cứu độ của Ngài.

Đặc tính của thái độ sống với bản thân là : nhận ra giao ước dính dáng sâu xa đến bản thân mình; dám từ bỏ chương trình của mình để chiều ý Chúa; và hướng tới một sứ mệnh trong đời sống, nghĩa là cuối cùng, người ta lao trọn cuộc đời mình vào trong giao ước.

Sống giao ước bản thân là dám vui khi nhận ra những yếu đuối của bản thân mình, bởi vì tinh yêu của Chúa còn lớn hơn bản thân mình. Đó cũng là nét đặc trưng của ơn cứu độ Kitô giáo.

“Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Ki-tô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh.” (2Cr 12,10)

Sống giao ước bản thân là xác tín tôi là người được Chúa yêu. Nhận ra khả năng lãnh nhận trong con đường của tình yêu, lại chính là con đường bình đẳng dành cho mọi người.

4. Sống như con cái là trao tặng chính bản thân cho Chúa

4.1 Hiện tượng : Bệnh hình thức

Trong khi đối với người Hy Lạp, theo tinh thần đi tìm bản chất độc lập của sự vật, thì những gì liên hệ tới thân xác bị coi là xấu, là chất thể không hoàn hảo; và những gì thuộc về tinh thần thì tốt, tinh thần nhận thức được mô thể hay “hình thức” của sự vật. Hình thức là bản chất của sự vật. Nhưng đối với người Do Thái, là đạo sống với, thì thái độ của con người bị biến chất khi mà người Dân chỉ giữ luật, thực hành các nghi thức phượng tự và lo sợ vì những qui định thanh sạch – ô uế một cách máy móc, mà không còn diễn tả lòng trung tín Đó là cung cách thực hành các “hình thức” nhưng nhằm mục đích quay ngược về với chính mình, giữ luật để cho bản thân mình được hoàn hảo, giữ hình thức để đề cao chính mình. Đó là cách diễn tả chỉ chú trọng đến hình thức mà không còn sức sống đích thực của tâm hồn. Do đó, Luật luôn là luật Môsê, vì Môsê là trung gian của giao ước; và gĩư luật luôn là luật Môsê, nghĩa là luôn giữ cho được ý nghĩa trung tín của giao ước. Trong lịch sử cứu độ, cám dỗ nguy hiểm nhất là sự biến chất của những cung cách diễn tả; nghĩa là thay vì giữ lề luật vì trung tín với Chúa, người ta giữ lề luật và tìm thấy niềm tự hào về sự hoàn thiện của bản thân; thay vì thực hành nghi lễ phượng tự để tôn thờ Chúa, người ta lại coi đó như tiêu chuẩn hoàn thành nghĩa vụ tôn giáo và lơ là trong đời sống luân lý cũng như trong lòng tôn trọng những người nghèo; thay vì giữ tấm lòng trong sạch trước mặt Chúa, người ta tìm sự trong sạch bằng cách tránh những uý kỵ hoàn toàn hình thức. Chúng ta thấy các ngôn sứ đã mạnh mẽ tố cáo những cám dỗ nguy hiểm ấy, chẳng hạn Isaia, Amos. .

Trong đời sống đức tin, nhiều người Công giáo chỉ biết đọc kinh mà không biết cầu nguyện; chỉ biết cách tham dự các nghi thức phụng vụ mà không sống tâm tình thờ phượng đích thực; chỉ biết tham gia các sinh hoạt chung mà không bao giờ có được một chút gặp gỡ riêng tư với Chúa… đó cũng là bệnh hình thức.

Bệnh hình thức là cám dỗ của lối sống “chuẩn hoá”. Bệnh hình thức là một cách thức chuẩn hóa phong cách của con người, nhưng càng chuẩn hóa bao nhiêu thì sự “giả dối” lại nhiều bấy nhiêu. Nơi thành thị, người ta chuẩn hóa phong cách và tự coi mình là văn minh hơn những người dân quê chất phát. Xã hội càng văn minh, người ta càng phải chuẩn hoá cung cách sống của con người : chào hỏi, áo quần, nghi lễ, lịch sự... Một con người “văn minh” phải là người biết thể hiện phong thái lịch sự, sành điệu trong cung cách và lời nói. Tuy vậy, khi con người phải sống với nhau bằng quá nhiều tiêu chuẩn mẫu mực, thì nguy cơ của lối sống hình thức càng gia tăng. Người ta đánh giá nhau qua trình độ được chuẩn hoá và mọi người muốn hội nhập vào xã hội càng phải chuẩn hoá bản thân, chuẩn hoá cung cách sống của mình. Người ta gặp gỡ nhau trước tiên qua “lớp vỏ” của văn minh và chính vì thế, càng trong các đô thị, người ta càng phải giữ luật lệ và càng cô đơn. Trong đời sống thành thị, sống giữa một rừng người, ta khó gặp được một người thân quen; sống và làm việc với biết bao người, ta vẫn khó có thể tìm thấy một sự cảm thông.

Trong đời sống Giáo Hội Công giáo, người ta cũng rất thường thấy khuynh hướng “chuẩn hoá” qua nghi thức phụng tự, qua lời kinh chung, qua kỷ luật và nề nếp tu trì . . . Ở trong các tu viện, có tình trạng các tu sĩ “sống chung” nhưng lại không có đời sống huynh đệ; nơi giáo xứ, người linh mục thường thích một sự trật tự, thẳng hàng ngay lối, thích sự đồng đều, rập ràng, giống nhau mà không chú ý đến hoàn cảnh tâm hồn của mỗi con người. Đó cũng là một thứ cào bằng và nhiều khi thái độc cào bằng ấy “hành khổ” những người có hoàn cảnh riêng biệt, có nỗi khó khăn riêng.

Bệnh hình thức như thế khiến cho người ta chỉ chú ý đến phong cách, phong cách quí tộc, cung cách lịch sự mà quên đi tấm lòng thành của con người. Bệnh hình thức là một thứ đẹp vô hồn, đẹp mà không có duyên, đẹp theo một hình ảnh mẫu mà không có nét hài hòa bên trong, hài hòa nội tại của một con người.

Bệnh hình thức khiến cho người ta chỉ biết đánh giá mình và đánh giá người khác qua những gì bên ngoài; rồi đồng hóa bản thân một con người với những phong thái, cử chỉ bên ngoài. Bệnh hình thức cũng là một thứ “đạo sinh hoạt”, nghĩa là tổ chức phong phú sầm uất, rước sách ì xèo, … và người Kitô hữu công giáo cứ việc tham gia vào các sinh họat mà không có sự tự nguyện, tự do của mình.

* Ý nghĩa

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này chính là sự phân cách trong con người, phân cách giữa tinh thần và thể xác. Người ta luôn cần diễn tả bản thân mình, nhất là diễn tả tinh yêu qua thân xác, nhưng người ta cũng luôn có nguy cơ đồng hóa mình một cách giả tạo với những diễn tả của thân xác mà không còn là một cách diễn tả của tình yêu qua thân xác.

Nguyên nhân khác là người ta lầm lộn nội dung và hình thức, lấy lễ nghĩa thay cho tình người. Đó cũng là giải pháp thứ III, nghĩa là cuối cùng làm nên một trật tự rất đẹp, nhưng đó là hai đường song song do qui định, do một tiêu chuẩn qui định cho đúng.

Bệnh hình thức là kết qủa của một bầu khí thiếu tự do. Ở những nơi mà tự do sáng tạo bản thân của con người không được tôn trọng, người ta phải giành lấy một chỗ riêng trong tâm hồn mình; và để bảo đảm bản thân mình trước những áp lực bên ngoài, người ta phải tạo ra những hình thức bên ngoài để che chắn. Đây cũng có thể là tình trạng một lương tâm thiếu trưởng thành. Khi áp lực bên ngoài quá lớn, người ta lấy việc thực hành những qui định bên ngoài thay cho tâm hồn.

* Hệ quả

Bệnh hình thức làm nên một hệ thống nghi lễ thay thế cho sự gặp gỡ đích thực của con người với nhau. Phú quí sinh lễ nghĩa : vui buồn, phán đoán giá trị luân lý dựa theo những tiêu chuẩn của lễ nghĩa. Có một cuộc họp của các vị lãnh đạo một nhà dòng kia, trong đó ngời ta dự định lên án việc “dô dô” khi ăn nhậu. Nhưng thật ra điều đó, tự bản chất của nó, không có gi là xấu; hơn nữa nếu so với việc có thói quen xơi rượu tây một cách văn minh thi việc sau còn tệ hơn việc trước nhiều.

Mê tín và nệ luật cũng là một thứ duy hình thức, vi phạm vào giới răn thứ hai (chớ kêu tên đức Chúa Trời vô cớ).

Bệnh hình thức tạo nên một sự an tâm khi chu toàn các hình thức bên ngòai. Có lẽ nhà tu lấy hình thức bên ngoài của kinh nguyện để thay thế cho sự cầu nguyện đích thực cũng là như thế, một thứ duy hình thức…

4.2 Giá trị nhân bản Kitô giáo : tự do và dâng tặng

* Thành thực hiến Dâng : Con người có một khả năng làm trọn hảo mọi sự, đó là cách đưa vào trong mọi sự chính tấm lòng của mình và đem dâng tặng. Khi ta dâng tặng một món quà, món quà đó không còn là nó nữa, nhưng đã biến nên một giá trị nhân văn, đó là dâng tặng một phần bản thân của mình cho người khác. Khi ta ăn tiệc chẳng hạn, gặp một món không ngon lắm, nhưng được giới thiệu là “cây nhà là vườn”, thì tức khắc món ăn đó trở thành quí giá, vì như thế là thực khách được tham dự vào đời sống của gia chủ. Cũng thế, và hơn thế nữa, khi ta dâng tặng bản thân cho nhau, dù “của ít lòng nhiều”, là khi mà tặng phẩm đã trở nên chính bản thân của người trao tặng. Đó là một món quà quí giá mà không có gì có thể mua bán trả vay cho “công bằng” được. Đó cũng là ý nghĩa nhân văn Kitô giáo : con người ta chỉ xử dụng sự vật như phương tiện để diễn tả bản thân, chứ con người ta không giản lược bản thân con người vào trong sự vật, cho dù là sự vật mắc mỏ thế nào. Quà tặng không phải cao quí do chính bản thân của món quà, nhưng là do chính bản thân của người trao tặng, giống như vấn đề Chúa mạc khải chính bản thân của Chúa qua Lời Chúa và Hành Động của Chúa.

* Giá trị của tự do và chân thật

Người Hy Lạp chỉ biết đến tự do như là quyền phát biểu ý kiến trước mặt người khác. Tự do ban đầu ấy chỉ thuần tuý nằm trong lãnh vực chính trị. Nhưng tinh thần của Kitô giáo lại khác. Thánh Âu tinh triển khai một chiều kích tự do trong tâm hồn. Tự do là không bị những áp lực chi phối của sự dữ trong chính tâm hồn mình. Tự do, trước tiên và một cách căn bản, phải là một sự giải thoát khỏi những áp lực “ngoại lai” chi phối tâm hồn mình. Như thế, tự do trước tiên không còn phải là được làm điều mình muốn, nhưng tự do phải thể hiện sâu xa hơn trong chính bản thân mình với mình, nghĩa là : tự do là thật sự muốn điều mình làm. Như thế, tự do gắn liền với sự chân thực, hồn nhiên; tự do làm cho ta không còn bị đe dọa để phải giả bộ tạo ra một cung cách lẩn trốn, che chắn bằng những hình thức bên ngoài để an toàn cho một cái khác ở bên trong.

4.3 Giải pháp tâm linh : Dâng trọn bản thân

Dâng trọn bản thân cho Chúa, đó là cách sống tự do của con cái Chúa : người tín hữu, đầu đội trời, nghĩa là chỉ tin vào một mình Thiên Chúa là Cha yêu thương, thì có thể hiên ngang “đạp đất”, nghĩa là coi thường tất cả những thế lực, những giá trị “phương pháp”, luật lệ xét như luật lệ mà thôi… Đó là cách sống sự tự do của con người. Người làm công thì có bản thân mình phải lo, cho nên người ta cố gắng thu vén cho mình càng nhiều càng tốt. Nhưng đứa con, bản thân đã có cha mẹ lo, nên chỉ xin những điều hằng ngày dùng đủ. Lo lắng những điều linh tinh, nhỏ mọn, đó chính là cách sống không dám đóng góp trọn bản thân mình vào cuộc; đó là sống kiểu “giữ ngày giữ tháng” như thánh Phaolô đã khiển trách trong thư Galát. Sống như con cái là sống trọn vẹn bản thân mình trong gia đình, đó là dám tin tưởng và phó thác trọn cuộc đời mình như một cộng đồng sự sống và môt cộng đồng trung tín; là thông chia cho nhau tất cả mọi phúc lợi và tín trung trọn vẹn cả trong những lúc yếu đau cũng như lúc mạnh khoẻ, lúc khó khăn cũng như lúc thuận lợi. Cách sống đó khác hẳn mức độ sống chung của những em mồ côi được sống trong viện mồ côi.

Dâng phó trọn vẹn bản thân nghĩa là sống trong nền tảng chính yếu của tình nghĩa, là một sự liên đới trong móng nền. Khi những anh chị em sống gia đình, họ có thể cãi nhau, và họ cố gắng làm hòa với nhau. Đó là những cố gắng để ráp lại sự ăn khớp kèo cột cho chặt chẽ hơn. Nhưng cố gắng đó luôn nhờ vào nền tảng là chính sự gắn kết trong móng nền. Ngược lại, khi ta chơi với bạn bè, người ta cố gắng nối kết kèo cột mà không có sự liên kết móng nền, như là anh chị em với nhau, thì sự gắn kết ấy vẫn luôn bấp bênh, vẫn luôn có nguy cơ đổ vỡ.

Dâng trọn vẹn bản thân là dám dấn thân trọn vẹn để khẳng định giá trị của Nước Trời. Sống đời tu là sống linh đạo hiện diện, tức là bước cả hai chân vào Nước Trời. Ở đó, người tu sĩ nhận ra và làm chứng về hạt, về men, về muối và về ánh sáng của Nước Trời. Nước Trời như một chiếc xe chở hàng đang hướng về Nhà; trong đó, giáo dân là những người đang chất đồ đạc lên xe, giáo sĩ là những người lái xe, nhưng tu sĩ là những ngừơi ở trong lòng xe để sắp xếp, để mời nước, để lau những giọt mồ hôi cho anh chị em của mình, và để làm nổi bật lên niềm vui của Nước Trời. Người tu sĩ khấn ba lời khuyên Phúc Am để sống trước mầu nhiệm Nước Trời, không phải chỉ là mô phỏng lối sống tương lai, nhưng chính yếu là ở đó để khám phá và cảm nhận được những niềm vui Nước Trời đã có mặt như men như hạt. Căn tính của đời tu không phải là hiệu năng của công việc, như lớp giáo sĩ và giáo dân phải làm, nhưng là dâng trọn bản thân để sống trong mầu nhiệm Nước Trời đang hiện diện giữa lòng cuộc sống hôm nay.

Xem lại Phần 1

Xem tiếp Phần 3 (phần cuối)