Đời sống Thánh hiến, một hồng ân - Hạnh phúc và niềm vui

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Cha ông ta thường nói “tu là cõi phúc”. Chắc hẳn nhiều bậc ông bà, cha mẹ khuyên con cháu đi tu cũng có suy nghĩ mang máng như thế, và rất có thể cũng có một số người đi vào đời tu để tìm thứ cõi phúc giông giống như vậy… Tuy nhiên, có lẽ không nên dễ dàng suy nghĩ đến thứ “hội nhập văn hóa” để quảng diễn sứ điệp Tin Mừng theo đường lối ấy. Người Việt Nam nói riêng và các dân tộc ngoài Sách Thánh nói chung, chẳng những không có một quan niệm về thế giới siêu nhiên, và chắc chắn lại càng không có được một chân trời của Nước Thiên Chúa như trong Tân Ước. Do đó, “cõi phúc” mà cha ông ta nói đến có lẽ bao gồm nhiều nội dung của một của một thứ an nhàn, vang vọng ý nghĩa của một lý tưởng siêu thoát, đạt được một sự “an nhiên tự tại” trong bản thân mình… Những điều như thế xuất phát từ tư tưởng giác ngộ, hoặc tùy thuộc vào khả năng làm chủ bản thân, hoặc gặp được duyên may trong dòng cuộc sống… chứ không phải do mối liên hệ ngã vị như trong linh đạo Do Thái – Kitô giáo. Vì thế, hồng ân của đời sống thánh hiến dễ bị hiểu lầm….

Đời sống Thánh hiến, một hồng ân

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Cha ông ta thường nói “tu là cõi phúc”. Chắc hẳn nhiều bậc ông bà, cha mẹ khuyên con cháu đi tu cũng có suy nghĩ mang máng như thế, và rất có thể cũng có một số người đi vào đời tu để tìm thứ cõi phúc giông giống như vậy… Tuy nhiên, có lẽ không nên dễ dàng suy nghĩ đến thứ “hội nhập văn hóa” để quảng diễn sứ điệp Tin Mừng theo đường lối ấy. Người Việt Nam nói riêng và các dân tộc ngoài Sách Thánh nói chung, chẳng những không có một quan niệm về thế giới siêu nhiên, và chắc chắn lại càng không có được một chân trời của Nước Thiên Chúa như trong Tân Ước. Do đó, “cõi phúc” mà cha ông ta nói đến có lẽ bao gồm nhiều nội dung của một của một thứ an nhàn, vang vọng ý nghĩa của một lý tưởng siêu thoát, đạt được một sự “an nhiên tự tại” trong bản thân mình… Những điều như thế xuất phát từ tư tưởng giác ngộ, hoặc tùy thuộc vào khả năng làm chủ bản thân, hoặc gặp được duyên may trong dòng cuộc sống… chứ không phải do mối liên hệ ngã vị như trong linh đạo Do Thái – Kitô giáo. Vì thế, hồng ân của đời sống thánh hiến dễ bị hiểu lầm….

1. Trên nền tảng Kitô giáo

1.1 Hai loại “phúc”

Nếu trở lại với Tin Mừng của Đức Giêsu, nhất là với Bài Giảng Trên Núi, ta sẽ thấy một sự đảo ngược kỳ lạ của Tin Mừng. Sự đảo ngược ấy cho thấy sự khác biệt, có khi được diễn tả gần như đối nghịch giữa hai chữ phúc; cái phúc của Tin Mừng khác biệt hoặc đảo ngược cái phúc của người đời. Tính cách đảo ngược ấy quan trọng đến độ ta có thể nói một khi người Kitô hữu chưa thấy được tính cách đảo ngược (métanoia) của Tin Mừng, so với cách hiểu của người đời, thì nguy cơ hiểu sai, hoặc hiểu chưa tới, sẽ chiếm phần trăm khá lớn.

Mặt khác, trong tư tưởng ngoại giáo, khi con người có được ánh sáng giác ngộ, hoặc đạt được khả năng làm chủ bản thân vững chắc thì con người ấy đạt được một “đẳng cấp” vững bền, một tình trạng “dư đầy” của chính mình. Từ đẳng cấp ấy, người “đắc đạo” có thể siêu vượt, an toàn trước những biến động ở bên ngoài…. Trong khi đó, hành trình sống mối phúc Kitô giáo thì chẳng bao giờ đưa tới một năng lực vững bền; chẳng bao giờ người tín hữu có thể an ổn ở “đẳng cấp” cao mà “khinh địch”… Ở cội nguồn, năng lực cho hành trình đức Tin lại bao hàm thái độ chân nhận sự “thiếu thốn” của chính mình. Linh đạo Kitô giáo mang dáng dấp ngược đời : “Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,10), được tha thứ nhiều thì yêu mến nhiều (X. Lc 7,47)….. Thế đứng ấy của người Kitô hữu không phải là một dáng dấp hùng dũng trên “đôi chân” của mình, mà là chơi vơi trên “giây treo”, gắn liền hành trình của mình với một Thực Tại tuyệt đối. Tình trạng này làm cho thế đứng của người Kitô hữu chẳng những không có được trạng thái vững bền tự tại, nhưng gắn liền với tâm trạng “kính sợ”. Đây không phải là thứ “sợ” về một “đối tượng” đe dọa bên ngoài, mà là thứ “sợ” về sự bấp bênh của bản thân mình : “Bởi vậy, ai tưởng mình đang đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã”. (1 Cr 10,12). Đó là thứ sợ dựa trên tâm trạng “mắc nợ nghĩa tình”, đưa đến lòng tri ân và thôi thúc phải “cẩn trọng” giữ gìn… Đây là thứ “run rẩy” trước một hồng ân được tặng không, một hồng ân lớn lao mà chính bản thân mình không được lấy công đức, tài năng, địa vị nào để đòi hỏi hoặc đảm bảo được cho mình được… Hành trình đời sống đức Tin không phải là một chiến tay đôi giữa “bản lĩnh tinh thần” nội tại và những “biến động” ngoại tại của thế giới bên ngoài; nhưng là một hành trình trong thế tay ba, hành trình “đu giây”, bám chắc vào “điểm mốc siêu việt” để lướt qua những gai góc vẫn luôn rình rập ở dưới chân… Hành trình ấy thôi thúc người Kitô hữu, càng bám chắc vào điểm móc trên cao và càng vươn cao hơn, thì lại càng tránh xa được hầm chông lởm chởm; hành trình tiến đến gần “cảnh vật thần linh” thì càng xa lành được “cảnh vật thế gian”.

Nhưng cần lưu ý rằng, ở đây, “điểm mốc siêu việt” không phải là một sự vật, sự vật hiểu như là những gì khác với ngã vị, cho nên việc gọi là “bám chắc vào” không phải là nhờ vào năng lực của chính mình, không phải là nhờ tới một phương pháp…, nhưng tùy thuộc vào ý muốn của Ai Khác. Chính điều ấy, một cách nào đó, lại càng gia tăng tính bấp bênh của hành trình đức Tin. Cũng cần lưu ý rằng tính cách “thế gian” ở đây không đồng nhất hoàn toàn với thực tại trần thế; nhưng thế gian ở đây là “tinh thần thế gian”, là thứ hư hoại lôi kéo thực tại thế gian, vốn tốt lành vì là tạo vật của Chúa, rơi vào quy luật thực dụng, rồi rớt vào tình trạng sa đọa của satan. Hành trình của đức Tin Kitô giáo không phải là một chiều hướng thoát tục, nhưng chính là chiều hướng dấn thân.

1.2 Giống mà không giống

Có một cách hiểu quan trọng trong suy tư Kitô giáo : suy tư loại suy (analogue), nghĩa là một thứ so sánh không phải dị nghĩa (équivoque) mà cũng không phải đồng nghĩa (univoque). Đây là một thứ so sánh do triết gia Aristote đề ra, nhưng được thánh Thomas nâng lên tầm quan trọng đặc biệt để con người có thể hiểu về thế giới siêu nhiên và tìm ra nẻo đường đến với Thiên Chúa.

Lý do sâu xa là, theo đức Tin Kitô giáo, Thiên Chúa sáng tạo mọi sự trong Ngôi Lời (X. Ga 1,3); và Thiên Chúa cứu độ mọi sự trong Ngôi Lời Nhập Thể (X. Ga 1,16). Nước Thiên Chúa, do đức Giêsu tỏ bày và thông ban cho con người tiếp tục công trình đã được sáng tạo, sửa chữa lỗi lầm do tội tổ tông gây ra, và nâng cấp lên một đẳng cấp cao hơn. Do đó, thực tại Nước Trời vừa giống vừa khác với thực tại “tự nhiên”. Thánh Thomas đã nói lên châm ngôn vàng : “…ân sủng không thủ tiêu, một là kiện toàn tính tự nhiên…” (ST I, q.1, a.8, ad 2).

Như thế, chúng ta hiểu rằng tính cách đảo ngược của Tin Mừng không phải là một sự ngang ngược, không phải xuất phát từ một Thiên Chúa muốn khẳng định quyền bính trổi vượt của mình, muốn làm gì thì làm, muốn đổi trắng thay đen tùy ý Ngài… Ngược lại, “cái lý”, “cái tình” của Thiên Chúa cũng phản ảnh trong cái lý cái tình của tâm thức con người; cho nên cách Thiên Chúa đảo ngược, nói chung, đối với lương tri ngay thẳng, sẽ đưa đến cảm nhận thán phục vì điều tuyệt vời của Chúa, chứ không phải một thứ ngang ngược ép buộc lý trí con người phải ấm ức chấp nhận. Nước Trời không phải là một thực tại hoàn toàn xa lạ, và đời sống đức Tin Kitô giáo không phải là một thứ “đạo chịu vậy”.

Cũng thế, đời sống thánh hiến là hành trình xuất phát từ lòng khao khát vượt lên mà không loại bỏ những nhu cầu tự nhiên nhất của bản chất người. Ba lời khấn của người sống đời sống thánh hiến, một cách chính yếu, không phải là sự trốn chạy trần gian, nhưng là một sự dấn thân, là chấp nhận và làm chứng về giải pháp Tin Mừng cho những thực tại căn bản nhất của cuộc sống con người : của cải, tình yêu và chính trị. Giải pháp của Tin Mừng vừa giống vừa khác với giải pháp trần gian, nghĩa là vừa nối tiếp, vừa gạt bỏ những điều không thích hợp, vừa nâng cấp lên một đẳng cấp cao hơn.

Chỉ riêng trong lãnh vực những thực tại căn bản của đời sống con người, của cải, tình yêu, chính trị, không kể những lãnh vực của nề nếp tu trì, trách nhiệm học hành, lao động… người ta đã có thể thấy đời sống thánh hiến quả thực là một hành trình thập giá. Điều đó không giống với thứ phúc mà người đời thường nghĩ.

1.3 Khát vọng tuyệt đối

Đồng thời, vị thế nghèo khó lại thôi thúc người Kitô hữu “tham lam” hơn nữa, mong ước nhiều hơn nữa, van xin những hồng ân lớn lao hơn nữa. “Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất…”. (1 Cr 12,31). Hành trình ấy là hành trình vươn lên không có điểm dừng, xét theo khả năng lãnh nhận của con người. Hành trình ấy mở ra chân trời vô biên của Tuyệt Đối. Mức độ của đời sống Kitô hữu nói chung, đặc biệt của người sống đời sống thánh hiến là không có mức độ. Lập trường của người tín hữu không phải là “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, không phải là thái độ “liệu cơm gắp mắm”… nhưng một cách nào đó, hơi giống với thái độ “được voi đòi tiên”… Chân trời mà Thánh Thần Thiên Chúa mở ra trong tâm hồn người tín hữu thôi thúc vượt qua mọi nhãn giới “đụng trần”, hoặc tự giới hạn những khao khát bên ngoài, để tìm sự an ổn, thanh thản trong tâm hồn… Trên nền tảng linh đạo Kitô giáo, người sống đời sống thánh hiến không thể đơn giản chỉ tìm cái phúc trong đời sống tương đối an nhàn, trong sự thoát khỏi những xót xa của tình trường, trong vị thế được trọng vọng ít nhiều, trong nét thanh thản bên ngoài của nề nếp tu tŕ.

Tâm trạng Kitô giáo vừa là một sự bình an, lại vừa là tình trạng bấp bênh; nói đúng hơn là một sự bình an giữa những bấp bênh và cả những sóng gió trong cuộc đời. Niềm bình an Kitô giáo không dựa vào sự bình lặng bên ngoài, không phải nhằm tới một sự “yên hàn trong trật tự”, nhưng được xây dựng trên lòng trông Cậy, được “bảo đảm” nhờ một Ai Khác chứ không phải nhờ vào những cái gì. Nền tảng của sự bình an Kitô giáo là lời hứa của Chúa, dựa trên nền tảng của giao ước và hướng tới một thực trạng “thuộc về nhau”.

2. Hành trình của mối phúc Kitô giáo

Đời sống thánh hiến là một hiện hữu ở ngay giao điểm của sự đảo ngược Tin Mừng. Do đó, người sống đời sống thánh hiến luôn phải chiến đấu, một cuộc chiến đấu gay gắt, đụng chạm đến những thực tại thiết thân nhất của đời sống con người. Cái phúc của đời sống thánh hiến Kitô giáo không phải là thứ phúc trong quan điểm đời thường hoặc quan điểm của “thế gian”; nhưng cũng không phải là một thứ phúc xa xôi, lạ lẫm với thực tại con người.

Để đạt được mối phúc của Tin Mừng, con người không thể tự mình tu luyện hay giác ngộ, nhưng cần đến một hồng ân tặng không của Thiên Chúa. Đời sống thánh hiến là một hồng ân tặng không và hồng ân này bao gồm một “hành trình” không đơn giản.

2.1 Từ tầng sự kiện đến tầng ý nghĩa

Điều dễ thấy và điều đầu tiên con người cảm nhận được chính là những thực tại “hữu hình” trong thế giới này. Ta tạm gọi đó là thế giới trên tầng sự kiện, tức những gì xẩy ra trong khung cảnh của thế giới thường ngày, được xác định trong hệ thống không gian và thời gian. Sung sướng chẳng hạn, là một thực tại trên tầng sự kiện. Sung sướng là điều có thể đo đếm được. Mối phúc đời thường phần lớn là những gì thuộc về tầng sự kiện mả bất cứ người nào cũng có thể thấy một cách rõ ràng, có thể xác định chính xác. Tuy nhiên, tầng sự kiện không phải là tất cả thực tại đời người. Tầng sự kiện của đời sống là một chuỗi những biến cố bất tận. Người ta giải quyết sự kiện này, rồi lại gặp sự kiện khác, hết khó khăn này rồi lại khó khăn kia….để rồi kết thúc với cái chết như một thực tại dở dang. Trên tầng sự kiện bản chất người không thể nào thoát khỏi kết cục dở dang.

Do đó, “ngõ thoát” của đời người không phải ở tầng sự kiện mà ở một thực tại khác mang phẩm giá người, thực tại của ý nghĩa. Thật sự “ý nghĩa” không phải là cái gì thêm vào, không phải là điều viển vông, không phải khía cạnh râu ria, tùy phụ, nhưng là điều mang lại “bản chất” đích thực cho thế giới ở đẳng cấp người. Trong khi thực tại ở tầng sự kiện là điều con người “phải” chấp nhận, thì ở thực tại ở tầng ý nghĩa là là điều biểu lộ chủ thể tính, biểu lộ tính tự do và địa vị cao cả của con người giữa lòng thế giới. Ý nghĩa là điều phải do chính con người, tuy không phải là sáng tạo nên, nhưng vẫn là khám phá trong tự do của chính mình.

Ngoài khả năng dùng lý trí để thống trị thế giới, con người còn có một khả năng khác, khả năng sống với những ý nghĩa do chính tâm hồn con người “sáng tạo” nên. Có những điều tốt đẹp trên tầng sự kiện nhưng lại là điều xấu xa hoặc nhục nhã đối với con người đứng ở tầng ý nghĩa. Được ăn ngon thì thân xác thoả mãn, đó là sung sướng; nhưng có khi không được ăn, thân xác khổ sở mà con người lại nhận được hạnh phúc, nhờ khám phá được ý nghĩa chân thật và sâu xa…

Để đón nhận được mối phúc của Tin Mừng, con người không thể chỉ đứng ở tầng sự kiện, nhưng cần phải biết “chìm” xuống tầng ý nghĩa. Người ta chẳng bao giờ có quyền nói rằng : đi tu, được đủ ăn đủ mặc; được học hành, được kính trọng, được cung phụng mọi sự…còn đòi hỏi gì nữa ? Tất cả những điều ấy chỉ là những thực tại của tầng sự kiện. Chỉ ở trong “tầng” diễn tả phẩm giá người, tầng ý nghĩa, người Kitô hữu mới có thể bước vào cánh cửa của sự “đảo ngược Tin Mừng”.

2.2 Từ ý nghĩa về bản chất đến ý nghĩa tương quan ngã vị

Vị thế của con người giữa lòng thế giới là thế đứng chênh vênh giữa hai thực tại, như triết gia B. Pascal từng cảm nhận : “|con người không phải là thiên thần, cũng không phải là thú vật” (Les Pensées, s. 176); con ngưòi “là hư vô đối với vô hạn, là tất cả đối với hư vô, là một trung điểm giữa hư vô và tất cả” (Les Pensées, s. 84)… Con người hiện diện giữa thế giới không phải như thực tại bên cạnh những thực tại khác. Con người vừa mang bóng dáng một vị thần thống trị, đặt tên cho muôn vật (X. St 2, 19-20), lại vừa đứng trước cám dỗ muốn tự mình quy định thiện ác cho vũ trụ (St 3, 4-5). Do đó, sự vật được trao cho con người để được “đặt tên”, nhưng con người vẫn phải dùng tự do của mình mà đưa ra đáp án chân thực về “tên” của muôn vật. Tính chủ thể của con người không phải là tuyệt đối. Nếu thế kỷ XX đã vượt qua được não trạng coi con người là một bài toán thực nghiệm, nghĩa là con người không phải là sản phẩm tất yếu của những phản ứng khoa học thực nghiệm, khiến cho người ta trở nên sản phẩm của tất định thuyết…; thì thế kỷ XX lại đưa con người và một thái cực khác, thái cực tự coi mình là chủ nhân ông toàn quyền trên thế giới. Theo đó, ý nghĩa về bản chất sự vật thuộc về tự do hoặc thuộc về một thứ giá trị mà con người ngẫu hứng gán cho sự vật…

Tuy nhiên, thật sự con người không tự sáng tạo nên chính mình, nhưng được sáng tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa (X. St 1,27). Điều thực sự làm thoả lòng con người cũng mang dáng vẻ Thiên Chúa, một Thiên Chúa của tình yêu, nghĩa là mang tính chất của thứ tạm gọi là tương quan ngã vị.

Đức Tin Kitô giáo mời gọi con người chủ động, không phải để “sáng tạo” theo nghĩa tuyệt đối, mà là chủ động khám phá, trong tự do, ý nghĩa của sự vật, đặc biệt là ý nghĩa trong mối tương quan ngã vị. Bản chất của sự vật chỉ trọn vẹn ý nghĩa khi được con người sử dụng để tạo nên mối tương quan chân thật với ai khác. Đối với con người như một chủ thể, cái bánh, chẳng hạn, có thể sinh sôi vô cùng ý nghĩa : lương thực, sức lao động, tài năng, đẳng cấp phú quý….; đó là tài năng lớn lao của con người. Nhưng chỉ có ý nghĩa tương quan ngã vị chân thật mới có thể làm sáng lên bản chất người và mang lại ý nghĩa đích thực của sự vật. Ở đây, bài toán của thực tại không phải là chuyện tay đôi giữa con người với sự vật, nhưng là thế đứng “tay-ba” : người trao tặng cái bánh - cái bánh - và người lãnh nhận cái bánh…:

“Con người đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú, nhưng con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng…” (St 2, 20)

Thế đứng vượt trội của con người trong thế giới không chỉ là khả năng của lý trí trừu tượng hơn con vật, không phải là khả năng thống trị thế giới, nhưng nhất là ở chỗ con người có khả năng thổi ý nghĩa nhân sinh, ý nghĩa tương quan ngã vị, ý nghĩa yêu thương cho sự vật. Vai trò của con người không phải là hưởng thụ sự vật, mà là dùng sự vật để xây dựng tình nghĩa, tình nghĩa nhân bản…

“Con người nói : phen này, đây là xương bổi xương tôi, thịt bởi thịt tôi !” (St 2, 23)

2.3 Từ ý nghĩa tự nhiên đến ý nghĩa siêu nhiên

Khát vọng tuyệt đối trong tâm hồn con người, con người mang hình ảnh Thiên Chúa, sẽ là động lực đưa hành trình đời người và một nẻo đường siêu việt tuyệt đối, nẻo đường tìm về với Thiên Chúa. Nhân học Kitô giáo cho thấy con người được sáng tạo nên “giống hình ảnh Thiên Chúa”, điều đó bao hàm ý nghĩa sâu xa rằng con người chỉ có thể hoàn thành cuộc đời mình khi “chơi với Chúa”. Nói cách khác, ý nghĩa tương quan ngã vị mà con người khám phá ra trong thế giới con người với nhau chỉ có thể được hoàn tất khi đạt đến mối tương quan ngã vị với Chúa, chứ không phải bị sa đà vào mối tương quan thực nghiệm của mỗi người với sự vật vô ngã. Công đồng Vatican II diễn tả ơn gọi mang tính siêu nhiên của con người :

“Thực vậy, mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể” (MV 22)

Sự “hiện diện” của nhãn giới “siêu nhiên” trong truyền thống Do Thái - Kitô giáo là một nét độc đáo mà không nơi nào khác có được; và chỉ trong nhãn giới siêu nhiên này, ý nghĩa hồng ân của đời sống thánh hiến mới được tỏ lộ.

3. Một hồng ân…

Người sống đời sống thánh hiến hiện hữu ở ngay giao điểm của sự đảo ngược Tin Mừng. Đời sống “có phúc” của người sống đời thánh hiến thiết yếu gắn với hành trình thập giá-Phục sinh, gắn liền với sự từ bỏ liên lỉ, sám hối liên lỉ, để đi vào quy trình đảo ngược kỳ diệu của ơn cứu độ. Người sống đời sống thánh hiến luôn mang vác những “cái dằm” trong thân xác như thánh Phaolo mà chẳng bỏ đi được (2 Cr 12,7). Quả thật, để nhận ra được cái phúc của Tin Mừng Nước Trời, người sống đời thánh hiến không thể nào không đón nhận được chính Thần Khí của Đức Giêsu.

“Con người sống theo tính tự nhiên thì không đón nhận những gì của Thần Khí Thiên Chúa, vì cho đó là sự điên rồ; họ không thể biết được, bởi vì phải nhờ Thần Khí mới có thể xét đoán. Nhưng con người sống theo Thần Khí thì xét đoán được mọi sự, mà chẳng có ai xét đoán được người đó.” (1 Cr , 14-15)

Hồng ân của đời sống thánh hiến không phải là một thực tại rõ ràng mà ai cũng thấy được, người tu sĩ nào cũng đón nhận được… : “Thật vậy, anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa” (Cl 3,3). Hồng ân ấy là một sự sống mới tiềm tàng, được tỏ lộ trong một hành trình lịch sử, gắn liền với tính chủ thể của mỗi cá nhân, và nhất là luôn hàm chứa thái độ “rộng mở” với thế giới siêu nhiên. Bầu khí của tu viện không phải là một phương pháp đã hoàn hảo và tự an ổn trong chính mình, nhưng cần luôn rộng mở những “cánh cửa” đợi chờ. Người sống đời sống thánh hiến cũng không phải là người cắm đầu vào thực tại mang qui luật thực nghiệm của thế giới tự nhiên, nhưng là người ngửa mặt đón chờ hồng ân tặng không của một Ai Khác.

Tạm kết

Nhìn lại đời sống thực tế của người sống đời sống thánh hiến, ta cũng thấy khá rõ sự đảo ngược của tinh thần Tin Mừng. Hồng ân đấy, nhưng cũng khổ cực đấy; vui đấy, nhưng cũng đầy rẫy nỗi đau đấy; được đấy, những cũng mất đấy… Cuộc sống thánh hiến có hai hệ số thường tỷ lệ nghịch với nhau : sung sướng và hạnh phúc. Khốn khổ cho những tu sĩ nào vừa không được sung sướng mà cũng chẳng thấy hạnh phúc. Cũng khốn khổ cho những ai chỉ thấy có sung sướng và tưởng đó là hạnh phúc thực…

Một cách nào đó, nói đời sống thánh hiến là một hồng ân là đụng chạm đến thách đố căn bản của đời sống đức Tin Kitô giáo, đụng chạm đến phẩm tính căn bản của đức Tin Kitô giáo, đụng chạm đến sinh-huyệt, hoặc tử-huyệt của đời sống thánh hiến trong Giáo hội tại Việt Nam.

Hạnh phúc và niềm vui

Con đường Kitô giáo là con đường hẹp... nhưng đó không phải là con đường đi tìm khổ hạnh mà là con đường tìm hạnh phúc. Điều quan trọng là phải hiểu thế nào là hạnh phúc.

1. Hạnh Phúc

Điều người ta thống nhất được với nhau, đó là mọi người đều khao khát hạnh phúc và đều cố gắng tìm cho mình một đời sống hạnh phúc. Nhưng “hạnh phúc là gì”, đó lại là điều người ta không dễ dàng đồng ý nhất với nhau. Hạnh phúc là một điều không dễ định nghĩa. Có bao nhiêu quan niệm về con người khác nhau thì cũng có bấy nhiêu những định nghĩa khác nhau về hạnh phúc. Đó là chưa kể đến những khao khát thực tế của mỗi người, trong hoàn cảnh riêng của mỗi con người. Có lẽ một trong những nguyên nhân gây nên bất hạnh cho con người, đó là vì người ta đã có một quan niệm “sai lầm” về hạnh phúc, cách minh bạch hay mập mờ, trong lý thuyết hoặc trong thực tế. Chẳng hạn có người nghĩ hạnh phúc là sự vắng mặt của đau khổ. Điều đó có vẻ dễ hiểu; nhưng đó lại là một cách nhìn không mang lại ý nghĩa tích cực cho cuộc sống; vì mấy khi cuộc sống con người vắng mặt đau khổ ? Cũng có nhiều “phương sách” giúp tìm hạnh phúc bằng một vài kỹ thuật sống… nhưng hạnh phúc là mục đích chính yếu của đời sống con người thì có lẽ chẳng phải do một chút khôn khéo của kỹ thuật sống mà có được…

Thật ra, hạnh phúc khó mà lại dễ, dễ nhưng mà khó. “Khó mà dễ”, thực sự cũng là một tính chất chung của vận mạng con người. Cái dễ một cách khách quan nhưng lại khó một cách chủ quan; cái khó không phải là do một tình trạng bất lực căn bản, nhưng là do một thái độ sai lầm nào đó của chính con người, mà con người lại không dễ thay đổi thái độ, thay đổi cách nhìn…

1.1 Hạnh Phúc khác với sung sướng

Ở đây, ta không tìm một định nghĩa về hạnh phúc, nhưng chọn một cách tiếp cận khác, đo là so sánh để phân biệt giữa "hạnh phúc" và "sung sướng". Người ta rất dễ lầm lạc giữa hạnh phúc và sung sướng. Chúng ta thử xác định một vài tính chất khác biệt của hai khái niệm này :

1.1.1 Sung sướng “đo đếm” được, hạnh phúc không “đo đếm” được

Ta có thể dễ dàng khẳng định người này sung sướng hơn người kia khi nhìn vào nếp sống bên ngoài của họ : người có nhà ở tiện nghi thì sướng hơn người vô gia cư, hoặc ở trong nhưng khu ổ chuột; người thường được ăn nhà hàng thì sướng hơn người phải chạy gạo từng bữa..Nhưng nhìn từ bên ngoài như thế, ta khó có thể biết được người này có hạnh phúc hay không, hạnh phúc nhiều hay ít, có hạnh phúc bằng người kia không…Sung sướng là điều ta đo đếm được; còn hạnh phúc lại là điều không thể đo đếm được.

Sung sướng giống như một bông hoa để cho người khác có thể xem thấy; hạnh phúc giống như một hạt giống âm thầm. Bông hoa thì khoe sắc cho người khác thấy; còn hạnh phúc thì ôm lấy sự sống trong bản thân. Bông hoa thì được đánh giá đẹp hay không đẹp; nhưng hạt giống lại tự nó ấp ủ sức sống trong chính nó.

Cái đo đếm được thì nó lù lù trước mặt khiến cho nhiều người bị cuốn hút vào cuộc tranh đua, còn cái không đo đếm được thì lại bàng bạc mơ hồ… Đó lại là chính cạm bẫy của cuộc đời con người. Biết bao người rơi vào cạm bẫy và đánh mất hạnh phúc chỉ vì lao vào cuộc tìm kiếm sung sướng bằng bất cứ giá nào ! Biết bao người rơi vào cạm bẫy vì không biết hái lấy hạnh phúc trong tầm tay, mà lại mải mê đi tìm ở đâu khác ! Biết bao người đánh mất trọn vẹn một cuộc đời được Chúa sáng tạo nên để sống hạnh phúc, chỉ vì không chịu chấp nhận hạnh phúc của yêu thương !

1.1.2 Sung sướng là do so sánh với người khác, hạnh phúc lại bắt nguồn từ việc khám phá ý nghĩa cuộc đời

Đứa học trò thường chỉ vui khi so sánh điểm của mình với bạn bè xung quanh để vui hay buồn. Người ta cũng luôn cảm thấy mình sung sướng hay khổ sở khi so sánh đời mình với những người chung quanh. Cái đo đếm được (sung sướng) thì cũng so sánh được; và chính bài toán so sánh làm cho cái được đo đếm ấy trở thành nhiều hay ít, tốt hay xấu… Đó là thế giới của khổ sở và sung sướng.

Một bàn ăn đơn sơ nhưng đầy ắp tiếng cười của trẻ thơ, bầu khí hạnh phúc ấy “thách thức”cả thế giới xa hoa xung quanh; hai anh chị cười rúc rích trên chiếc xe đạp, bất chấp những người xung quanh đang vi vút với những chiếc xe tay ga sang trọng…Đây lại là thế giới đầy ắp hạnh phúc. Cái đáp số của hạnh phúc không phải là kết quả của bài toán so sánh, nhưng là kết quả của tình yêu sâu sắc hay hời hợt.

Quả thật, con người chỉ là mình trong tương quan, nhưng đó là tương quan hiệp thông chứ không phải tương quan cạnh tranh. Tương quan cạnh tranh dễ làm cho người ta đánh mất ý nghĩa bản thân mình, vì lo khẳng định mình “theo đuổi” người khác; tương quan hiệp thông lại giúp ta khám phá khát vọng bên trong và giúp ta khẳng định mình trong hoàn cảnh riêng của chính mình.

Hạnh phúc trần gian không là gì khác hơn những giây phút loé sáng của tình yêu chân chính; đó là lúc, con người nhận ra bản thân mình thực sự là mình nhờ thành thật hiến dâng. Sung sướng được gia tăng khi sự hưởng thụ sự vật được gia tăng, hoặc khi tỷ lệ chênh lệnh sự sung sướng của mình được vượt trội so sánh với sự sung sướng của những người chung quanh. Trong khi đó, mức độ hạnh phúc lại tùy thuộc và “độ sâu” của ý nghĩa mà người ta khám phá ra được. càng khám phá ra ý nghĩa sâu xa hơn của cuộc đời, những ý nghĩa gắn liền sâu xa hơn với vận mệnh đời người. Người nào càng “khám phá” ra ý nghĩa sâu xa hơn của đời người thì càng có cơ may khám phá niềm hạnh phúc sâu xa hơn; ý nghĩa đó được thực hiện thể hiện trọn vẹn khi mà người ta khám phá ra được ý nghĩa của trọn vẹn cuộc đời, nghĩa là ý nghĩa duy nhất của vận mạng đời người thì người ấy càng có nhiều cơ may tìm thấy hạnh phúc thật cho cuộc đời của mình. “Khám phá” ở đây dĩ nhiên không phải là một sự minh bạch của lý trí, nhưng là một lòng can đảm dám chấp nhận hy sinh vì tình yêu. Trong tình yêu, con người có khả năng khám phá ý nghĩa duy nhất của trọn vẹn cuộc đời, và trong tình yêu, người ta có thể tìm được hạnh phúc trọn vẹn của cuộc đời.

Khi người mẹ biết rằng đứa con cần tới bàn tay chăm sóc của mình, khi người cha hiểu rằng sự hiện diện của mình mang lại niềm tin tưởng cho con cái… khi đó, người cha, người mẹ mới thấy mình hạnh phúc khi ðýợc chãm sóc cho con.

1.1.3 Sung sướng mang lại cảm giác thoả mãn; hạnh phúc mang lại cảm nhận sung mãn

Sung sướng làm thỏa mãn khát vọng hưởng thụ sự vật; hạnh phúc hình thành nên một ý nghĩa sung mãn cho bản thân. Khi ta được đi ăn một bữa tiệc ngon, ta sung sướng thưởng thức các món ăn. Nhưng càng thỏa mãn nhiều thì càng để lại mệt mỏi nhiều và yếu nhược sức sống. Khi ta tổ chức một bữa tiệc mừng con ta thi đậu; ta chẳng ăn được bao nhiêu, ta bận tâm lo chuyện này chuyện khác…Nhưng bù lại, ta cảm thấy sung mãn trong tâm hồn và có thể dậy sớm sáng hôm sau, để lo bữa ăn sáng cho đứa con thân yêu của mình.

Chìều hướng của sung sướng và chiều hướng của hạnh phúc hoàn toàn khác nhau : sung sướng thì hướng tới sự “tiêu thụ” trực tiếp giữa ta và sản phẩm. Hạnh phúc thì lại giúp ta quay về với ý nghĩa chân chính của bản thân, rồi thôi thúc ta cống hiến bản thân mình cho người khác. Người làm cha/ mẹ sống niềm hạnh phúc được làm cha/ mẹ, và ý nghĩa ấy thôi thúc cha mẹ cống híến hơn nữa cho con cái. Cảm nhận thỏa mãn trong sung sướng dễ đưa đến thái độ thích hưởng thụ và dễ gắn liền với ích kỷ. Hạnh phúc thì cung cấp ý nghĩa cho bản thân và gia tăng năng lực cho cuộc sống.

Lý do sâu xa là vì sung sướng gắn liền với sự vật. Sự vật là tất cả những gì không phải là một ngôi vị, tức là không phải một ai khác, nhưng chỉ là cái gì : một căn nhà, một tư tưởng, một hào quang danh vọng, một học vị hay một tài năng. Tìm sự vật, đólà qui chế sống của con vật. Con vật tiêu thụ sản phẩm; và khi tiêu thụ hết sản phẩm trong sự sung sướng, con vật phải tiếp tục tìm sản phẩm khác để hưởng thụ. Con người sung sướng cũng tiêu thụ sản phẩm như thế và không còn lại điều gì cho bản thân như một ngôi vị có giá trị sống, chỉ còn là một cảm giác trống vắng, cô đơn. Sung sướng không làm cho bản thân con người sung mãn thêm.

Hạnh phúc gắn liền với tương quan ngôi vị (đón nhận chính “cái tôi” của nhau, chứ không phải chỉ đón nhận người khác như một tài năng, sắc đẹp ..) nó là qui chế sống của con người, là sống nhu cầu lớn nhất của con người. Hạnh phúc đi theo chiều hướng tìm lại bản thân mình, và khám phá khát vọng thâm sâu, khát vọng đích thực,chân chính của bản thân , đó không là gì hơn khát vọng yêu thương. Nói cho cùng, hạnh phúc chỉ có trong yêu thương, vì yêu thương là bản chất sâu xa nhất của con người. Hạnh phúc là cảm nhận được ý nghĩa của yêu thương và thôi thúc dâng tặng trong yêu thương. Hạnh phúc là hoa trái của yêu thương và chỉ trong yêu thương người ta mới tìm thấy hạnh phúc đich thực. Nhưng yêu thương chân chính chỉ có thể là yêu thương theo tinh thần của đức Kitô, mà lý tưởng không là gì khác hơn “hy sinh mạng sống vì bạn hữu”. Hạnh phúc làm nên cảm nhận sung mãn thôi thúc ta đi trên nẻo đường ấy.

1.1.4 Sung sướng chỉ tốt khi nó được bao bọc trong hạnh phúc

Trong qui chế sống của con người, sự vật chỉ là phương tiện để giúp con người gặp nhau và hịệp thông với nhau. Sự vật là nhịp cầu để con người đến với nhau, sự vật là phương tiện con người dùng để chính bản thân con người đến được với ai khác trong ỵêu thương. Khi người ta đi tìm sự vật để tiêu thụ sự vật như một sản phẩm, người ta sung sướng; ngược lại, khi người ta dùng sự vật để diễn tả lòng yêu thương của mình đến ai khác, người ta gặp gỡ người khác và khi đó người ta mới đạt tới được hạnh phúc.

Chính vì không sắp xếp được thứ bậc giá trị giữa hạnh phúc và sung sướng, nhiều người tưởng rằng khi có thêm điều kiện để sung sướng, thì ta cũng đương nhiên cóthêm hạnh phúc. Rồi khi đạt được một lối sống sung sướng hơn, người ta lại thường đánh mất hạnh phúc.

Đúng ra sung sướng chỉ có thể làm gia tăng hạnh phúc khi con người biết hưởng dùng trong tình yêu và để diễn tả tình yêu. Chẳng hạn: người đi mua dâm thì chỉ tìm được sự sung sướng; nhưng chỉ trong tính yêu vợ chồng, chuyện chăn gối đồng thời mang lại cả khoái cảm sung sướng lẫn hạnh phúc. Bởi vì mua dâm là mua thân xác người khác như một sự vật; không phải là sự gặp gỡ người yêu bằng trọn vẹn bản thân của mình.

Tuy vậy, cũng phải luôn nhớ rằng sung sướng là một cạm bẫy rất dễ làm tha hóa con người. Người nào quá chú trọng tìm sung sướng thường là người ít có khả năng nếm cảm hạnh phúc.

1.2. Đi tìm hạnh phúc

1.2.1. Bớt so sánh để khám phá bản thân mình

Chuyện ngụ ngôn của La Fontaine có kể chuyện về một con cóc, vì muốn phồng to lên bằng con bò mà vỡ bụng chết. Thực sự con cóc không thể là con bò; không phải vì nó hoàn toàn kém hơn con bò, nhưng chỉ vì nó là con cóc; và đối với con cóc đực thì chính con cóc cái mới là “tiên nữ” chứ không phải con bò.

Trong cuộc sống, mỗi người đều có nét độc đáo riêng của chính mình. Không ai có thể là tất cả và cũng không ai có thể thay thế hoàn toàn một người khác. Cho dù đức Khổng Tử có bao nhiêu đức độ, nhưng ngài cũng chẳng thể thay thế cho tôi để sống và chu toàn trách nhiệm một người cha đối với đứa con nhỏ của tôi.

Bạn hãy bớt so sánh với người xung quanh để “hiểu ra” tôi là tôi, tôi có cuộc đời riêng của tôi. Bạn hãy quay trở về với chính mình để khám phá ý nghĩa cuộc đời “thằng tôi” này đây, nghĩa là biết được tôi là ai, nghĩa là biết được đâu là hiện hữu chính ỵếu của mình. Rồi bạn hãy nghĩ đến những người thân yêu đang cần đến mình, hãy nhận thấy khả năng cho đi của chính mình… Đi vào chiều hướng ấy, bạn mới có thể tìm thấy hạnh phúc chân thật.

1.2.2 Biết cảm nghiệm hạnh phúc thật, để bớt cám dỗ hưởng thụ

Kinh nghiệm của Adong : Adong được đặt trong vườn địa đàng để dặt tên cho muôn vật (X. St 2, 19-20). Đó là sứ mệnh thống trị thế giới mà Chúa ban cho con người. Nhưng niềm vui thống trị và chiếm hữu, tự nó, bị hụt hững. Sau khi đặt tên cho muôn vật, Adong cảm thấy buồn, vì “không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng” (St 2,20). Khát vọng thống trị, cảm giác thỏa mãn khi chiếm hữu mang lại sự sung sướng cho con người, nhưng nó không làm đáp ứng trọn vẹn khát vọng hạnh phúc của con người. Chỉ khi Adong gặp Evà, thì ông mới reo lên được tiếng reo vui của phận người “phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bời thịt tôi” (St 2,23).

Trong cuốn Tìm Được Đường Về, Henri Nouwen có kể về một thiếu niên 15 tuổi, bị bại não, sống trong cộng đoàn L’Arche, đó là Adam. Adam “không nói được, không tự mình thay quần áo, không tự mình đi được mà cũng chẳng tự mình ăn được nếu không có người giúp đỡ. Anh không khóc, không cười và họa hoằn lắm mới dám nhìn vào người đối diện”…Thế nhưng khi sống và phục vụ cho Adam, tác giả nhận ra được một món quà quí giá từ con người khuyết tật ấy, đó là sự bình an, một sự bình an bén rễ sâu trong con người, bén rễ sâu trong tâm hồn và một sự bình an có khả năng qui tụ thành nên một cộng đoàn xung quanh anh. Con người đầy những khổ đau và mất mát như Adam vẫn trọn vẹn là một món quà quí báu cho người khác.

Có người cả đời vẫn chỉ biết niềm vui khoái chí vì chiếm hữu và hưởng thụ sự vật mà không biết đến niềm vui gặp gỡ, niềm vui hiệp thông; đó là người chưa trưởng thành trong vận mạng làm người, đó là Adong đang vui vì “đặt tên cho muôn vật”. Vượt lên trên niềm vui chiếm hữu và thống trị, để khám phá niềm vui gặp gỡ, đó lả một bước nhảy cần thiết để bước vào thế giới hạnh phúc. Khi gặp gỡ trong tình yêu, con người mới biết mình thật sự, biết thật khát vọng sâu xa của mình.

1.2.3 Dừng lại để đón nhận hạnh phúc đang có

Thật ra, cuộc sống con người chẳng mấy khi vắng mặt đau khổ, nhưng cuộc sống củng không khi nào thiếu vắng hạnh phúc. Điều tai hại là người ta chỉ thấy đau khổ mà không thấy hạnh phúc. Thái độ so sánh khiến cho người ta quên mất bản thân, và không nhận ra những hạt men hạnh phúc. Khi tìm lại được chính ý nghĩa của cuộc đời mình, ta có thể bắt đầu cảm nhận được những niềm hạnh phúc “nho nhỏ” đang ở chung quanh mình, trong tầm tay của mình. Hãy tận hưởng những hạnh phúc ấy như năng lực bổ dưỡng cho hành trình cuộc đời.

Có một số người đến với tôi trong tâm trạng khổ sở; khổ sở vì nghèo, khổ sở vì đang bị hiểu lầm, khổ sở vì một tình huống rắc rối trong đoàn hội… Nhưng khi hỏi về con cái, thì tôi thấy người ấy có con ngoan, học giỏi,… tôi nói: Anh/chị có muốn đổi lấy một gia đình giàu có, nhưng con bị nghiện không ? Tất cả đều trả lời rằng không. Tôi đề nghị anh/ chị hãy biết thường xuyên “hít thở” hạnh phúc mình đang có; rồi anh/chị sẽ thấy những nỗi khổ của mình nhẹ đi rất nhiều.

1.2.4 Tin tưởng vào Chúa để vững vàng bước đi trên con đường tìm hạnh phúc

Cuộc đời bạn sẽ chẳng mấy khi vắng mặt đau khổ; và có thể cám dỗ sung sướng như một cách giải quyết khổ cực sẽ thường xuyên sôi lên trong lòng bạn. Đôi lúc những nỗi đau châm chích mạnh vào tâm hồn bạn khiến bạn không thể nào quên nó đi được…

Niềm tin vào Chúa, một Thiên Chúa yêu thương bạn đến nổi dám hy sinh mạng sống vì bạn, một Thiên Chúa đang đồng hành và đang chờ đợi để dẫn đưa bạn vào niềm hạnh phúc trọn ven, chính niềm tin ấy sẽ trở nên như một lộ trình được mở ra cho bạn, như một bàn tay đang dẫn dắt bạn vững bước trên hành trình tìm hạnh phúc. Tin tưởng vào Chúa, bạn sẽ nếm cảm được niềm hạnh phúc được yêu thương vẫn đang ở ngay trong lòng bạn, niềm hạnh phúc vĩnh cửu ở cuối đường vẫn đang chờ đợi bạn. Chính niềm tin - cậy - mến đối với Chúa sẽ giúp bạn luôn tỉnh táo trước những hoàn cảnh phức tạp trong cuộc sống, để luôn biết tìm kiếm và trân trọng hạnh phúc yêu thương.

Một cô gái đang sống trong hạnh phúc được yêu có thể cười thầm với lòng mình khi bị ai đó chê trách; hoặc có thể rộng rãi cho đứa em mình 10.000 đ khi nó chỉ xin có 2.000đ. Cũng thế, nếu ai đó thường xuyên chìm ngập trong niềm tin vào Chúa có thể xem nhẹ những khổ đau xảy ra trên đường đời, một đường đời chẳng mấy khi vắng mặt khổ đau; và có thể an vui ngay trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.

Niềm bình an mà Chúa ban cho không phải là một ngôi nhà an toàn, nhưng là có được một Đấng Đồng Hành trên hành trình sương gió.

1.2.5 Khám phá hạnh phúc trong tình yêu hy sinh

Hạnh phúc chỉ có được khi người ta tìm về với ý nghĩa chân chính của bản thân mình; sống trọn ý nghĩa chân chính ấy, và từ ý nghĩa ấy, con người biết cho đi chính bản thân mình. Đó không là gì khác hơn nẻo đường của tình yêu mang nét đặc trưng của Kitô giáo. Hạnh phúc là khát vọng sâu xa và bao quát nhất của con người, khát vọng ấy cũng không thể được thoả mãn ở đâu khác hơn nơi chính động lực căn bản, ý nghĩa căn bản của đời sống con người, tức là tình yêu. Tuy nhiên tình yêu Kitô giáo thì bao giờ cũng hướng tới lý tưởng :

"Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình." (Ga 15,12-13)

Tạm Kết

Đã có nhiều người tố cáo Kitô giáo như đạo của những con người phẫn chí; những con người bế tắc trong cuộc sống, và tìm cách trốn chạy thực tại bằng một giải pháp ảo tưởng, bằng những giá trị bịa đặt. Dấu hiệu minh chứng là trong sách Tin Mừng không có hoặc có quá ít dấu hiệu của niềm vui.

Thật ra, niềm vui Kitô giáo không phải là sự "vui vẻ", nhưng nẻo đường Kitô giáo dính dáng đến thân phận con người, dính dáng đến sự sống-chết của kiếp người, nên niềm vui Kitô giáo mang phẩm tính của một sự vui-mừng.

Do thái - Kitô giáo là đạo của lịch sử, đạo gắn liền với những biến cố và sự kiện cụ thể trong dòng lịch sử. Thái độ Kitô giáo thiết yếu là hòa nhập vào dòng thời gian. Do đó, sống đức tin chân chính không là gì khác hơn sống lịch sử đời mình như một lịch sử ơn cứu độ.

Trên hành trình lịch sử đời-đạo ấy, cần có một thái độ căn bản: "nhớ và mơ". Người Dân Israel vừa luôn phải nhớ lại "những kỳ công dấu lạ Chúa đã làm cho cha ông", vừa thiết tha mơ ước về một "đất hứa" mà trong thực tế không bao giờ họ có thể đạt tới. Cũng thế, người Kitô hữu, luôn phải đọc Kinh Thánh để có thể nhận ra những gì Chúa đã làm trong lịch sử đời mình; và đồng thời luôn phải "mơ" về ngày Chúa thực hiện trọn vẹn nhiệm cục cứu độ trong ngày Quang Lâm của đức Giêsu. Chỉ trong hai đầu "nhớ" và "mơ" ấy, giây phút hiện tại của người tín hữu mới được "định hình" trong vận hành đức Tin, thứ đức Tin "sống lịch sử đời mình như một lịch sử ơn cứu độ". Chúng ta có thể nhận ra hai "tác động" cụ thể không thể thiếu trong đời sống đức Tin của người Kitô hữu :

+ Ướm : ướm là một phần trong tác động "đọc dấu chỉ" của người tín hữu. Việc đọc ý nghĩa siêu nhiên của dấu chỉ được thực hiện bằng cách ướm một sự kiện, một hoàn cảnh, một tình huống cụ thể của lịch sử vào cuộc Vượt Qua của đức Giêsu Kitô, Đấng là Trung Tâm của lịch sử.

+ Cử hành : cử hành tức là thực hiện một hành vi của thể chất, được gồm gói thật đầy ý nghĩa của tinh thần. Việc cử hành tức là thực hiện long trọng một biểu tượng có tính văn hóa để toát lược ý nghĩa và để truyền sức sống của ý nghĩa ấy cho thực tại. Cử hành đúng đắn một hành vi phượng tự chẳng hạn, như cúi mình trước Thánh Thể, diễn tả tâm tình tôn kính, thờ phượng thẳm sâu của tâm hồn trước Thiên Chúa...Cử hành chính là đóng con dấu của vĩnh cửu vào dòng thời gian...

Chính như thế, người tín hữu có thể sống giây phút hiện tại một cách sung mãn; sống phẩm tính "siêu hình" trong thái cử "luân lý"; sống thực tại mang phẩm tính cứu cánh như là chính nguyên lý của hành động hiện tại...

Trên nền tảng của những giá trị và phương thức đặc trưng Kitô giáo ấy, chúng ta có thể khám phá ra thứ hạnh phúc và niềm vui mang phẩm tính Kitô giáo.