Câu Chuyện Mác-ti-nô - Phần 2

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Sau một thời gian bỏ rơi vợ con, Juan có phần hối hận. Ông trở về Lima để đón nhận lại hai đứa con, rồi đưa Jane và Martino đến với cậu của ông là Don Diego tại Santiago Guayaquil. Đây là lần đầu tiên Martino được gặp cha mình. Hai chị em đã được ở đó 2 năm trời, trong tình yêu thương của ông-cậu và được đi học ... Sau đó, Juan được đặt làm thống đốc miền Panama. Ông quyết định để cô Jane ở lại với cậu Don Diego; còn Martino thì ông đưa trả lại cho bà Anna ở Lima. Nhưng ông cũng tìm được một bác sĩ giỏi để gửi Martino học nghề, bác sĩ Marcela de Rivaro. Khi làm việc với bác sĩ Rivaro, Martino được mọi người ca ngợi về sự cẩn trọng, tài chữa bệnh, dù chỉ mới là một cậu bé 15 tuổi. Đó là một công việc thích hợp, vừa có thể giúp cậu bộc lộ tài năng, lại vừa có thể mang lại một tương lai tươi sáng hơn. Nhưng Martino lại muốn trở thành một người giúp việc vô danh trong tu viện. Quyết định đó làm mọi người bỡ ngỡ...

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

3. Thiên Chúa đón nhận từ chân

Sau một thời gian bỏ rơi vợ con, Juan có phần hối hận. Ông trở về Lima để đón nhận lại hai đứa con, rồi đưa Jane và Martino đến với cậu của ông là Don Diego tại Santiago Guayaquil. Đây là lần đầu tiên Martino được gặp cha mình. Hai chị em đã được ở đó 2 năm trời, trong tình yêu thương của ông-cậu và được đi học ...

Sau đó, Juan được đặt làm thống đốc miền Panama. Ông quyết định để cô Jane ở lại với cậu Don Diego; còn Martino thì ông đưa trả lại cho bà Anna ở Lima. Nhưng ông cũng tìm được một bác sĩ giỏi để gửi Martino học nghề, bác sĩ Marcela de Rivaro.

Khi làm việc với bác sĩ Rivaro, Martino được mọi người ca ngợi về sự cẩn trọng, tài chữa bệnh, dù chỉ mới là một cậu bé 15 tuổi. Đó là một công việc thích hợp, vừa có thể giúp cậu bộc lộ tài năng, lại vừa có thể mang lại một tương lai tươi sáng hơn.

Nhưng Martino lại muốn trở thành một người giúp việc vô danh trong tu viện. Quyết định đó làm mọi người bỡ ngỡ...

3.1 Khát vọng được chấp nhận

Là con người, ai cũng muốn được yêu, được kính trọng, được thành đạt, được khen ngợi, hoặc được ai khác biết đến... Đó là khát vọng sâu xa của mọi người, trong mọi giai đoạn của cuộc đời : khát vọng được chấp nhận. Để thỏa mãn được khát vọng này, người ta tìm cách khẳng định chính mình; khẳng định mình bằng tài năng, bằng sắc đẹp, bằng địa vị, bằng đức độ và thậm chí cả bằng cách làm những chuyện điên rồ, trái khoáy. Ê-rốt-trát chẳng hạn, vì muốn nổi danh nên đã đốt đền thờ thần Artemis......

Khổ thay, khi người ta muốn được chấp nhận bằng cách khẳng định mình như thế, thì nỗi cô đơn sâu thẳm vẫn không được hóa giải. Người ta coi trọng tôi vì tôi có tài... Nhưng khi đó người ta thực sự không chấp nhận chính bản thân tôi. Bao lâu tôi còn có tài, người ta còn cần tới tôi. Khi người ta không còn sử dụng được tài năng của tôi, hoặc khi tôi mất đi tài năng, thì cái tôi duy nhất sẽ bị loại bỏ... Con đường khẳng định mình bằng sắc đẹp, địa vị, tiền bạc... cũng đi theo cùng một quy luật ấy.

Con người ta như kẻ đứng dưới nước sâu, chân không đụng đất mà đầu thì cứ muốn vươn lên "bằng chị bằng em". Trong tình trạng ấy, ai cũng tưởng rằng chiều hướng phải nhắm tới là vươn lên, vươn lên cao hơn nữa... Trong tình huống ấy, nếu có ai muốn kéo tôi xuống đất, cho tôi thực sự là tôi, thì tôi sẽ phải đạp văng kẻ xấu xa ấy ra... Tình trạng "chân không đụng đất" chính là "hũ mắm" trong bụng mỗi người mà ai cũng muốn dấu đi. Sống trong xã hội, người ta chọn thái độ "tốt khoe, xấu che", đừng dại "vạch áo cho người xem lưng", ... Quả thật mặc cảm phòng vệ chính là căn bệnh tâm lý sâu xa của con người, bắt nguồn từ khát vọng được chấp nhận đi kèm với nỗi sợ không được chấp nhận. Chính từ căn nguyên bệnh tật ấy mà người ta rớt vào tình trạng tự ty hay tự tôn, kiêu căng hay rụt rè, cường điệu hay nhu nhược, trốn tránh hay phản kháng. Khát vọng được chấp nhận là một khát vọng chân chính, trong thực tế, thường lại được giải quyết bằng một phương thức giả tạo. Không ít tật xấu của con người có thể được hóa giải khi người ta hóa giải được khát vọng được chấp nhận.

Chưa hóa giải được khát vọng ấy, người ta chưa xây được móng nền cho đời mình, và mọi công trình trên nền móng nhão nhoét ấy đều là công trình "bằng giấy". Làm sao người ta có thể vươn lên cao được khi mà chân không đụng đất ? Cuộc đời như thế chỉ là một trò chơi bi đát, con người cao lên hay xuống thấp cũng chỉ là dập dềnh theo sóng nước bấp bênh...

3.2 Cúi xuống để được chấp nhận và biết chấp nhận

Có một nẻo đường khác để hóa giải được khát vọng được chấp nhận, nẻo đường mà ít người dám bước vào : cúi xuống để khám phá ra con người thật của mình, để hòa giải được mình với mình và dám chờ đợi một tình nghĩa chân thật nhất : Có ai chấp nhận cái tôi chân thật này không ? Và tôi có dám chấp cái tôi chân thật của ai khác không ?

Có nẻo đường như thế không ?

Nếu trở về với kinh nghiệm gia đình, ta sẽ thấy nẻo đường này được hé lộ. Đừng tưởng rằng một kẻ nào đó gồm tóm hết mọi nết xấu thì sẽ chẳng được một ai thương cả; và cũng đừng tưởng rằng một ai đó thâu hóa được tất cả mọi tài năng, đức độ thì sẽ được mọi người yêu thương hơn hết. Người mẹ, người cha yêu thương đứa con của mình hơn hết, bất chấp tài năng và đức độ của nó thế nào. Người mẹ người cha không yêu thương một đứa con hàng xóm quá tốt lành hơn chính đứa con của mình. Dĩ nhiên một đứa con ngoan sẽ làm cho cha mẹ vui, nhưng dù nó không ngoan thì vẫn là con. Đứa con nào nghĩ rằng mình phải lấy được điểm 10 để được làm con, đứa đó không thực sự là con, đó là thứ "con nuôi". Đứa con nào nhận ra món nợ nghĩa tình mình đã được lãnh nhận tặng không, mình đã được là con rồi, nên ráng lấy được điểm 10 cho cha mẹ vui,... đây mới thực sự là đứa con trong nhà.

Hai nẻo đường trái ngược nhau. "Bài toán xã hội" là bài toán trao đổi : tốt thì được thương; giỏi thì được kính,... "Câu chuyện gia đình" thì lại hàm chứa một nguyên lý nào đó đi trước, vượt lên trên sự trao đổi, Nguyên lý yêu thương vô điều kiện, tình yêu tha thứ, tình yêu đón nhận chính bản ngã, chính cái tôi của nhau... Điều đó cho thấy món quà lớn nhất mà người ta có thể tự nguyện trao tặng và lãnh nhận chính là bản thân của nhau, chính "cái tôi" đơn thuần chỉ là cái tôi.

Nguyên lý căn bản của tình yêu tặng-không cho thấy một qui luật "tín lý" sâu hơn. Con người được sáng tạo từ hư vô, tất cả mọi sự con người có được và nỗ lực vun đắp được cho đời mình đều luôn luôn phải gắn chặt vào cội nguồn hư vô của phận người. Con người cần phải khiêm nhường, không phải chỉ như một thái độ luân lý nhưng căn bản hơn là vì con người đã được lãnh nhận cho-không. Từ nền tảng ấy, sống đã là tri ân, sống tốt hơn lại càng phải là tri ân, sống thánh thiện không là gì khác hơn sống trọn cuộc đời để đáp trả tình nghĩa mà Chúa đã tặng không.

Quả thật, thế đứng chân chính của một con người, trong Tin Mừng của Đức Giêsu chính là thế đứng của người quản gia hoặc người tá điền. Đó là thế đứng vừa thể hiện vai trò làm chủ, lại vừa đòi hỏi con người biết trả lẽ trước ông chủ cao hơn; Ông Chủ ấy có toàn quyền trên bản thân và cuộc đời của mình.

Hoàn cảnh của cậu bé Martino dường như còn bi đát hơn nữa. Sự hiện diện của cậu bé da đen, của cô chị da đen đã khiến cho người cha quí tộc da trắng buồn lòng và bỏ rơi..... Hai năm được đón nhận và được sống sung túc, được đi học là một "đại lượng" quá ít cho bài toán cuộc đời. Bài toán bất công trên cuộc đời Martino tưởng như đã đủ dữ liệu để đưa đến đáp số... Người ta ngỡ rằng vận hành "logic" của bài toán ấy sẽ là sự bất mãn, sẽ là sự phản kháng, sẽ là một phương thức trả thù đời. Thế nhưng câu chuyện đã quay sang một hướng khác. Martinô đã chẳng chọn hướng giải gỡ đời mình bằng một sự vươn lên, mà lại là cúi xuống, càng cúi xuống sâu hơn nữa đến những phận người cùng khổ... Bị đẩy xuống bùn đen, người ta sẽ vùng vẫy và tìm mọi cách để vươn lên. Bị đẩy xuống bùn đen, người ta sẽ căm ghét thứ bùn đen bẩn thỉu. Bị đẩy xuông bùn đen, người ta sẽ nhận diện cho rõ mặt của những kẻ đã đẩy mình xuống đống bùn đen ấy để mơ có ngày "cho họ biết tay !"

Lạ lùng thay, bị đẩy xuống bùn đen, Martino lại nhận ra cái chân lý sâu xa của kiếp người : con người là tro bụi ! là hư vô !.... Lạ lùng hơn nữa, trong hố bùn đen ấy, Martino lại khám phá một thứ tình yêu chân chính nhất, lòng thương xót, được đón nhận "từ chân", tình yêu mang phẩm tính của ơn cứu độ, đó là tình yêu tặng-không chứ không phải sự đổi chác.... Từ tình yêu cho-không của Thiên Chúa, Martinô lại có thể tặng không sự đón nhận đối cho những người nghèo khổ, khó khăn hơn mình... Cậu đã bớt những đồng tiền mẹ trao để đi chợ để có thể giúp đỡ những người khó khăn, đói khát hơn... Cậu khao khát học nghề y, không phải như một sự khẳng định, để vươn lên, để "bằng chị bằng em", để trả thù đời, để cho người khác biết tay... nhưng là vì động lòng thương xót với những người nghèo, người bệnh.... Quả thật, ở cùng đáy cuộc đời, vẫn có suối nguồn róc rách của lòng thương xót.

3.3 Thiên Chúa đón nhận "từ chân"

Điều vô cùng khó khăn cho hành trình làm người, đó là "cho chân mình xuống đất", là hòa giải được với bản thân mình... Platon đã từng nói : chiến công lớn nhất của con người là chiến thắng chính mình. Không hòa giải được với chính mình, không dám thẳng thắn đối diện với cái tôi thực sự của mình, không dám cho chân mình xuống đất, người ta rớt vào căn bệnh giả hình. Giả hình là căn bệnh nguy hại, sâu xa nhất của hành trình làm người và cũng là thứ bệnh nguy hiểm nhất cản trở con người đón nhận ơn cứu độ. Không phải ngẫu nhiên thời đức Giêsu mới có nhiều người giả hình, nên đức Giêsu đã rất nặng lời với họ. Giả hình là thái độ không muốn cho chân mình xuống đất, đánh lừa chính mình về cái đầu cao trên mặt nước,... và không đón nhận ân huệ tặng không của Thiên Chúa : "Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói với họ : "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi." (Mc 2,17).

Kitô giáo không phải là nẻo đường giải thoát mở ra "trên nóc nhà" để những ai "mạnh khỏe", đạo đức đầy mình có thể leo lên được... Kitô giáo là nẻo đường cứu độ được khai mở ở ngay dưới chân, đến độ những kẻ què, trẻ nít và những người yếu nhược nhất vẫn có thể đi được. Thiên Chúa cứu độ bằng cách "đỡ từ chân" chứ không phải "nắm tóc". Điều quan trọng nhất lại là nhìn nhận "chân" của mình, đưa chân ra cho Thiên Chúa nhìn thấy, đặt bàn chân mình lên đôi tay đầy lòng thương xót của Chúa... Chỉ người nào dám cúi xuống, nhìn ra bàn tay Chúa nơi chân của mình thì mới đi vào nẻo đường chân lý cứu độ của Tin Mừng, bởi vì "... Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi ; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta". (Rm 5,8)

Đừng tưởng rằng lòng thương xót là sự thương hại ngẫu hứng của Thiên Chúa. Lòng thương xót của Chúa khai mở con đường yêu thương chân chính nhất : không có sự trao đổi trong tình yêu mà chính là sự trao tặng "miễn phí". Tình yêu bao giờ cũng phải là một sự trao tặng, trao tặng lòng tôn trọng, trao tặng sự chấp nhận bản thân, trao tặng sự trung tín để cùng đồng hành, trao tặng thái độ dám liên lụy trong tội lụy và khổ đau cùng với nhau... Trở về với nền tảng bí tích Rửa Tội, người Kitô hữu hiểu ra rằng nguồn mạch ơn phúc của mình được trào vọt từ chân, từ đôi chân trần ngập ngụa nhưng dám phó dâng cho Chúa chứ không phải từ "cái đầu có tóc", hoặc những cái đầu với mái tóc óng mượt...

Đức Gioan Phaolô nói mọi đường nét của đức Tin Kitô giáo không là gì khác hơn triển khai nền tảng của bí tích Rửa tội. Trở về với bí tích Rửa tội chính là trở về với một giao ước căn bản; nơi đó, người tín hữu chết đi cho con người cũ để thuộc trọn về Chúa, và Thiên Chúa cũng dùng chính cái chết của Con Ngài mà đón nhận trọn bản thân và cuộc đời người Kitô hữu. Giao ước nền tảng ấy thường bị quên trong cuộc so sánh hơn thua với ai khác...

Martino được lãnh nhận bí tích Rửa Tội tại nhà thờ Sanbastian. Đây cũng là nơi cô bé Rosa, cùng thời với Martino, được lãnh nhận bí tích Rửa Tội và sau này trở thành thánh nữ Rosa thành Lima.

3.4 Chứng nhân tuyệt diệu của Tin Mừng

Đường nét lớn trong Kinh Thánh là lòng thương xót của Chúa đối với con người, đặc biệt là những người bé mọn. Đường nét lớn của nhiệm cục cứu độ ấy được tỏ lộ rõ biết bao trong Tin Mừng đức Giêsu Kitô : đức Giêsu hớn hở vui mừng khi nhận ra thánh ý Chúa Cha muốn tỏ bày bí nhiệm ơn cứu độ cho những người bé mọn; đức Giêsu tuyên bố Ngài đến để kêu gọi người tội lỗi; đức Giêsu tuyên bố nhưng người đầu hết sẽ nên cuối hết và ngược lại; đức Giêsu nói người mục tử bỏ 99 con chiên không đi lạc để đi tìm con chiên lạc....

Thế nhưng tinh thần của Tin Mừng ấy hình như là điều khó cảm nhận nhất, khó thực hiện nhất đối với con người... Biết bao người vẫn ngày ngày đọc Lời Chúa, vẫn nhiệt thành, quá nhiệt thành phục vụ Chúa và Giáo hội... nhưng vẫn cứ dần dần nghiêng ngả về một thứ chủ nghĩa ưu tuyển... Trong Giáo hội, người ta vẫn thường tô vẽ quá nhiều nhân đức anh hùng của các thánh, các đấng bậc; người ta chụp hình các ngài ở "khuôn mặt" cao sang mà không làm rõ lên đôi bàn tay nhân ái của Thiên Chúa vẫn đang nâng đỡ từ chân.

Là một cậu bé da đen, Martino quá quen với việc bị khinh rẻ. Nhưng Martino biết rằng Chúa rất yêu mình, Chúa đã nghĩ đến mình cũng như tất cả moi người da đen nghèo khó trên thế giới vì Ngài đã cho họ một linh hồn bất tử...

Martino hy vọng rằng một ngày nào đó tất cả những độc ác và bất công sẽ qua đi. Martino xác tín rằng trên thiên đàng sẽ không có sự phân biệt màu da hay giầu nghèo như ở thế gian này" (x. Bác Sĩ Tí Hon, trang 29)

Bỏ quên nền tảng ấy, chẳng những chúng ta đánh mất nét đẹp của Tin Mừng, nhưng còn là thái độ vô tình hay hữu ý cản lối những người bé mọn đến với đức Giêsu. Một Martino lê la với tầng lớp những người nghèo, đơn sơ và nhân ái với những người đau khổ chính là giòng nước mát cho cuộc sống : thôi không còn so sánh hơn thua, thôi không còn lo lắng bị đánh giá, thôi không còn một sự phân biệt để tự hào lố bịch hay tự ti cách thảm hại, thôi không còn danh giá hay bần hàn...

"Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô. Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà ; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô". (Gl 3, 27-28)

Martino khiêm nhường, nhưng khiêm nhường đúng ra không phải là một "nhân đức luân lý", nghĩa là không phải chỉ là một lối sống, một cung cách đẹp... Khiêm nhường thực sự mang tầm mức "tín lý", khiêm nhường là nhận ra, xác tín hồng ân cho-không của Thiên Chúa. Lòng khiếm tốn "tín lý" này không phải là cung cách tỏ ra mình hèn kém, tỏ ra mình tầm thường, tỏ ra mình không bằng ai... Đừng ai đòi hỏi thánh Thomas Aquino phải nói lên "tôi dốt nát lắm" thì mới là khiêm nhường. Khiêm nhường thiết yếu là xác tín mọi điều mình có được đều là do ân huệ, là thẳng thắn khẳng định năng lực thật của mình mà vẫn luôn ý thức mình đã được lãnh nhận : "...Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh ? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh ?" (1 Cr 4,7). Đó cũng là là thái độ khiêm nhường của đức Maria khi Mẹ khẳng định : "Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi..."; nhưng đó là lời khen tôi được "diễm phúc" bởi vì "phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới" (Lc 1,48).

***

Ai mà chẳng có cái "cù lần cù lèo" của mình !

Ai cũng biết mà ai cũng tỏ như như không biết; giả tảng không biết chân mình, và giả vờ như không biết chân người khác để đòi xử sự công bằng.

Chúa ơi ! quả thật con đang dấu đi "bàn chân" của con trước mọi người; và con cũng muốn dấu cả Chúa đôi chân tệ hại của bản thân con.

Xin cho con xác tín về lòng thương xót Chúa, để dám đưa chân cho Chúa đỡ nâng

4. Mạch nguồn nơi đáy sâu

4.1 Diễm phúc được “mắc nợ nghĩa tình “

Sinh ra làm người, người đã mắc nợ nhau về rất nhiều điều, mắc nợ cha mẹ về sự sống, mắc nợ quê hương về ngôn ngữ và văn hóa, mắc nợ nhân loại về những giá trị nhân bản… Thế giới con người thật ra không phải là thế giới trao đổi sòng phẳng mà là thế giới mắc nợ nhau. Con vật cũng được lãnh nhận từ đồng loại của chúng, nhưng đó là quy luật hoàn toàn theo bản tính, không có phần trao ban trong tự do và lãnh nhận với lòng tri ân như trong thế giới con người.

Mắc nợ là điều có lẽ chẳng ai muốn. Khi mắc nợ tiền bạc, mắc nợ một sự vật nào đó, người ta tìm cách trả cho xong để có thể thảnh thơi tính toán công việc làm ăn cho riêng mình. Nhưng cảm giác ấy là kết quả của sự trao đổi đồ vật; đó là khi người ta muốn giới hạn mối tương quan con người với nhau trong mức độ công bằng xã hội, theo quy luật “thuận mua vừa bán”. Tuy nhiên, chẳng những mức độ “thuận mua vừa bán” không thể giải quyết rốt ráo tương giao con người với nhau, nhưng tự chính thâm tâm mỗi người cũng không thể tìm được sự an hòa bản thân trong xã hội công bằng mà không mở ra đến khung trời yêu thương.

Khung trời yêu thương chỉ có thể diễn ra trong quy luật trao tặng chứ không phải trao đổi. Khát vọng yêu thương thôi thúc, hướng tới sự trao tặng bản thân cho nhau, chấp nhận bản thân của nhau. Bản thân, hay cái tôi của mỗi con người, là điều vô giá, là phẩm giá tuyệt đối; cái tôi ấy không bao giờ có thể biến thành đồ vật để trao đổi, mà chỉ có thể là trao tặng và lãnh nhận trong lòng tri ân. Hành trình yêu thương chỉ được khởi đầu khi ai đó biết trân trọng món quà của tấm lòng, nhận ra giá trị vô giá của "món quà bản thân" của ai khác. Hành trình yêu thương được tăng triển khi ai đó nhận ra mình không thể lấy gì để bù đắp cho cân xứng. Chính sự bất cân xứng vượt trên quy luật trao đổi như thế làm rung động cõi lòng, biến tình trạng mắc nợ trở nên ngọt ngào trong tình yêu...

Rơi vào một vị thế xã hội không thuận lợi chút nào, Martino không oán hờn, nhưng luôn tạ ơn Chúa và luôn tìm được niềm vui sống.

Martino luôn tạ ơn Chúa vì Chúa đã cho mình có một linh hồn trong trắng dù thân xác của mình có mầu da đen...

Martino tạ ơn Chúa vì được cha đón về Guayaquil để được đi học,

Martino tạ ơn Chúa vì được học nghề với bác sĩ Rivero;

Martino tạ ơn Chúa vì được là một người giúp việc trong nhà dòng ...

Tình yêu thật ra là nhận ra diễm phúc được mắc nợ nghĩa tình. Không phải ngẫu nhiên mà, bình thường, con người có tâm tình mắc nợ nghĩa tình đối với cha mẹ của mình. Lòng hiếu thảo của con người đối với cha mẹ, thật ra, không phải là một sự trả nợ công lao của cha mẹ như một thứ công xá. Công xá, dù có lớn lao đến đâu vẫn là một thứ có thể trả được một cách sòng phẳng. Công ơn cha mẹ là sự trao tặng của nghĩa tình, là sự trao tặng của cả một đời, của chính bản thân cha mẹ,và điều đó không bao giờ người con có thể đền đáp được. Con cái được ơn mắc nợ nghĩa tình đối với cha mẹ, một sự mắc nợ cần thiết cho đời người, một món nợ ngọt ngào, một món nợ hồng phúc mà nhờ đó đứa con có thể sống cho ra người, sống trong lòng tri ân và sống trọn vẹn bản thân mình để đền đáp nghĩa tình mà mình đã được lãnh nhận. Tình cảm mắc nợ nghĩa tình làm cho con người không còn sống cho chính mình nữa, nhưng là sống cho tình yêu; món nợ nghĩa tình làm cho con người không còn chỉ an tâm sống trong thế giới sự vật nữa, nhưng được móc nối để có khả năng bước vào lĩnh vực tình người, lĩnh vực trao đổi bản thân của mình vời người khác. Tình cảm mắc nợ nghĩa tình không phải là một sự bận lòng, phiền hà, mà là một tình cảm ngọt ngào của người được yêu.

“Anh em đừng mắc nợ gì cả, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13,8).

Sống trong mắc nợ nghĩa tình, con người mới có thể được hoán cải từ bên trong, để có thể vận dụng tất cả mọi năng lực của bản thân mình mà sống cho xứng đáng với ân nghĩa mà mình đã được lãnh nhận. Người ta nói rằng ; bình thường con người không mấy khi sử dụng hết năng lực của mình. Chỉ trong những hoàn cảnh bắt buộc, những tình huống nguy hiểm, người ta mới bỗng thấy mình làm được những điều mà chính mình cũng không ngờ. Khi đứa con biết sống trong tâm trạng mắc nợ nghĩa tình, thì nó có được một sức mạnh vô địch, nó sẽ không còn lợi dụng những khó khăn để chữa mình với cha mẹ, nhưng cương quết bằng chính tấm lòng để vượt qua những khó khăn và làm cho bằng được điều làm vui lòng cha mẹ. Hơn nữa, sống trong tình trạng mắc nợ nghĩa tình, đứa con như được hướng dẫn từ lương tri để có thể sống tốt, sống xứng đáng với công lao của cha me.

Có những người cha, người mẹ cho con rất nhiều “sự vật”, nhà cửa, tiền bạc, phương tiện… và họ có thể nói với con rằng : “Tao lo cho mày còn thiếu điều gì nữa không?”. Quả nhiên là cha mẹ nói chung là đã lo cho con quá nhiều. Tuy nhiên, người cha/mẹ cần hiểu ra rằng có một điều, mà lại là điều căn bản và cần thiết hơn cả cho hành trình một đứa con : đó là cho con nghĩa tình, điều không bao giờ là đã đủ hay quá nhiều. Món quà ấy mới có cơ may giúp đứa con biết sống trong thái độ mắc nợ nghĩa tình. Dĩ nhiên, điều ấy không phải chỉ là một phương pháp ứng xử, không phải chỉ là một bài học lý thuyết, nhưng chính là một hành trình sống lâu dài, trong đó, cha mẹ không ngừng trao tăng tấm lòng và trao tặng chính bản thân mình cho con cái.

Kẻ "ở trên" mới dám đi vào thế giới trao đổi. Kẻ ở trên có "vốn", có công đức và tài năng của mình để trao đổi. Kẻ mắc nợ là kẻ "ở dưới"; thế mà động lực chân chính nhất của cuộc sống con người hóa ra lại là hạ mình xuống để lãnh nhận và lãnh nhận với lòng tri ân để sống trong tình trạng mắc nợ nghĩa tình.

4.2 Hồng ân đi bước trước

Đạo Chúa là đạo yêu thương không phải là đạo luân lý. Người ta nói rằng đạo nào cũng dạy người ta ăn ngay ở lành. Nhưng đó là bản chất của "đạo luân lý", thứ đạo nhằm khuyến khích nỗ lực luân lý của con người. Tuy vậy, trong thực tế, không phải người nào cũng có đủ điều kiện để "học ăn ngay ở lành" và đủ năng lực để sống theo con đường "ăn ngay ở lành". Đạo cứu độ là công bố một nguyên lý đi trước năng lực ăn ngay ở lành. Ân sủng của Chúa đi trước thái độ luân lý của con người. Không phải Thiên Chúa chỉ là vị giám khảo "chấm điểm" bài thi luân lý của con người rồi mới tưởng thưởng; nhưng trước tiên, Thiên Chúa là vị lương y chữa trị cách cho-không; bồi bổ cách "cho-không", và cho không chính bản thân của Ngài như người bạn thân tình của con người. Con người được mời gọi "yêu như Thầy yêu" (Ga 13,34), nghĩa là đón nhận tình yêu lớn hơn mọi tình yêu của Thầy để có thể cũng thể hiện tình yêu ấy cho anh chị em của mình (Xc Ga 14,13).

Trong đạo cứu độ và cũng là đạo yêu thương, Thiên Chúa luôn đi bước trước, Ngài tự nguyện và yêu thương trong việc sáng tạo con người từ hư vô; Ngài tự nguyện và yêu thương trong việc trao tặng lời hứa cứu độ cho con người sa ngã; Ngài tự nguyện và yêu thương để dấn thân vào giao ước, chọn một Dân riêng,..; cuối cùng Ngài tự nguyện và yêu thương trao tặng chinh Con Một của Ngài. Thiên Chúa tự nguyện và yêu thương thông ban sự sống của Ngài qua Cái chết và sự Phục Sinh của Đức Giêsu. Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, vì Ngài đi bước trước, tự nguyện và yêu thương trao tặng mạng sống của Ngài cho con người qua thập giá, trao tặng sự sống của Ngài qua bí tích Thánh Thể; Thiên Chúa tự nguyện và yêu thương trao ban Thần Khí của Ngài cho mọi Kitô hữu; để cuối cùng Ngài tự nguyện và yêu thương trao ban sự sống đời đời trong Vương Quốc yêu thương của Đức Giêsu Kitô.

Không có con đường nào khác để đi vào ơn cứu độ. Vận hành của đời sống tâm linh luôn luôn là đón nhận ân huệ tặng không của Chúa, sống tâm tình mắc nợ nghĩa tình; tìm được sức sống trong một sống sống đáp trả tình yêu bằng chính tình yêu trao tặng lại bản thân mình. Vận hành của đời sống tâm linh luôn luôn được bắt đầu với thái độ nhận ra mình nghèo, được tha thứ nhiều nên yêu mến nhiều (Xc. Lc 7,47); đến độ nhận ra "khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh" (2 Cr 12,10).

Quả thật con đường Biệt phái chẳng bao giờ có thể đạt đến tuyệt đối được, vì con đường đó không có đủ "nhiên liệu" trên hành trình thăm thẳm của tình yêu.

4.3 Lãnh nhận với lòng tri ân

Nếu có điều kỳ diệu trong trao tặng, thì cũng có điều kỳ diệu trong lãnh nhận. Lãnh nhận trong lòng tri ân, là đón nhận món quà của người khác như là đón nhận chính tấm lòng. Người ta có thể mua bán đổi chác được mọi sự, đồng tiền mua lấy vật dụng và sự phục vụ, tài năng mua được một sự nể phục, đạo đức mua được sự kính trọng, địa vị mua được sự vâng phục… nhưng lòng quí mến chân thành của một người này dành cho một người khác thì không gì có thể mua bán được.Tấm lòng của con người là một huyền nhiệm vô giá mà không gì có thể tương xứng để đổi chác. Do đó cũng không ai có thể mua được tấm lòng của người khác. Người ta chỉ nhận tấm lòng khi được ban tặng mà thôi :

“Ai đem hết gia tài sự nghiệp mà đổi lấy tình yêu, ắt sẽ bị người đời khinh chê".(Dc 8,7)

Lãnh nhận trong lòng tri ân cũng là đón nhận tấm lòng người trao tặng bằng chính tấm lòng. Đó là dùng chính tấm lòng của mình để ấp ủ tấm lòng của người khác; đó là một chương trình “từ trái tim đến trái tim”; đó thật sự là hiệp thông, là “ở trong” nhau chứ không phải chiếm hữu hay mua bán đổi chác:

Khi người ta biết đón nhận từ tấm lòng chứ không so đo tính toán theo tương giao lễ nghĩa của công ước xã hội, thì chính tấm lòng tri ân ấy sẽ nối kết “từ bên trong” những thành viên gia đình với nhau, để người này có thể thông chia vui buồn với người kia; và để tiếp sức mạnh của tình nghĩa phát huy trọn sức mạnh trong cuộc đời mỗi người. Chính lòng tri ân như vậy trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy những quyết tâm sống liêm chính hơn, sống hoàn thiện hơn. Đón nhận tấm lòng để biết tri ân nhau, chúng ta được bước vào một thế giới mới, thế giới đặc trưng của đời sống gia đình, thế giới của lòng tri ân.

Có khi người mẹ cho con hai trăm ngàn đồng để đi chơi với bạn bè; đứa con lãnh nhận với lòng tri ân mẹ vì mẹ làm điều đó không phải vì “trả nợ quỉ thần”, nhưng chỉ do tấm lòng yêu thương của mẹ mà thôi. Rồi khi đứa con đi chơi về, nó cố tình để dành lại năm ngàn đồng để mua cho mẹ một cái bánh; bà mẹ đón nhận món quà của con cũng với lòng tri ân, vì đứa con đã tình nguyện và bằng tấm lòng của mình, dùng năm ngàn đồng mà nó đã nhận để diễn tả tình yêu đối với mẹ. Đó là thế giới của lòng tri ân chứ không phải là thế giới của sự mua bán đổi chác sòng phẳng. Đó là thế giới mà các sự vật, hai trăm ngàn đồng và năm ngàn đồng, không còn chỉ là giátrị đồng tiền theo ngân hàng nhà nước, nhưng là phương tiện để diễn tả nghĩa tình mẹ- con với nhau. Trong sự trao đổi ấy, chính tấm lòng con người là thực tại khiến người ta tri ân nhau chứ không phải là hai trăm ngàn hay năm ngàn đồng.

Điều quan trọng không phải là trị gía món quà bạn lãnh nhận, mà là chính tấm lòng. Con người cần vượt qua, nhẩy qua khỏi thế giới thuận mua vừa bán để thênh thang bước vào thế giới của lòng tri ân khi nhận ra dấu hiệu của nghĩa tình. Thế giới của lòng tri ân cũng diễn ra theo qui luật “đắp đổi” của cuộc sống, “bánh ít cho đi, bánh qui cho lại”. Nếu ta bắt đầu sống tình nghĩa thì sẽ được đáp lại bằng tình nghĩa; và cái tình nghĩa ấy sẽ đắp đổi để mỗi ngày một sâu đậm hơn. Nếu ta bắt đầu bằng thái độ tri ân, thì lòng tri ân cũng sẽ được đắp đổi để nhân lên nơi người thân. Ngược lại, nếu so đo, tính toán; nếu tiếp tục phàn nàn trách móc, người ta sẽ chẳng gieo mầm được cho thế giới nghĩa tình.

Chỉ nguyên lý mắc nợ nghĩa tình mới có thể thôi thúc một tình yêu hy sinh, một yếu tố không thể nào thiếu cho tâm hồn con người và ngay cả cho vận hành của xã hội loài người. Chỉ trong nguyên lý mắc nợ nghĩa tình người ta mới có thể dấn mình vượt qua mức độ “thuận mua vừa bán” để khai mở cho thế giới tình nghĩa, thế giới “tặng không” và “lãnh nhận với lòng tri ân”. Một thế giới phòng vệ, đối phó, tính toán…. thì không bao giờ có thể bắt đầu đi vào hành trình nghĩa tình. Một người Kitô hữu sống “đối phó” với Chúa, Chúa bắt làm tới đâu thì ta làm tới đó… thì chưa phải là một Kitô hữu đích thực. Một Kitô hữu chân chính là người đón nhận được tình yêu hy sinh của Đức Giêsu và nghe được tiếng thôi thúc cũng phải dâng lại cho Ngài chính mạng sống của mình.

4.4 Martino với nẻo đường nghèo khó

Martino an vui trong vị thế một người giúp việc. Khi cha bề trên nói thầy Martino trở thành tu sĩ của Dòng, Martino trả lời : Con không xứng đáng thưa cha bề trên. Con không muốn được vinh dự như thế. Con chỉ mong là một người hữu dụng với những công việc ngoài vườn và trong nhà bếp thôi...".

Với sự cương quyết của cha bề trên Martino hiểu rằng Chúa đã đổ muôn hồng ân cho mình, và bây giờ Chúa lại muốn ban hồng ân lớn lao hơn để mình có thể phục vụ những người khác một cách trọn vẹn hơn...

Đức Giêsu đã khai mạc Nước Trời với Bài Giảng Trên Núi và cánh cửa Nước Trời ấy không là gì khác hơn cánh cửa nghèo khó. Nghèo khó trước tiên là không bám vào của cải như cứu cánh đời mình. Nhưng sự nghèo khó sâu xa hơn là nhận ra bản chất nghèo khó của mình, nhận ra mình là hư vô mà lại khát khao tất cả; nhận ra khát vọng được chấp nhận chỉ có thể chờ đợi được tặng-không để lãnh nhận với lòng tri ân; nhận ra cơn khát cái tuyệt đối mà chỉ có Chúa mới giải khát được.

Nẻo đường nghèo khó là nẻo đường không lấy làm đủ với một chút tài năng, một chút của cải, một chút địa vị, một chút thành đạt của đời mình. Nẻo đường nghèo khó là nẻo đường đi vào hành trình yêu thương mà không dùng những thứ tưởng như thế mạnh của mình. Gia-kêu là chứng nhân tuyệt đẹp cho con đường nghèo khó ấy.

Lạ lùng thay con đường nên thánh lại là con đường "ngược chiều" như vậy. Lạ lùng thay nẻo đường nên thánh lại là nẻo đường Chúa muốn mời gọi hết mọi người, đặc biệt là những người bị đẩy vào tình trạng bất lực, hèn kém nhất, lời mời gọi ngụp lặn vào đáy sâu cuộc đời. Bởi vì chính người tội lỗi biết nhìn nhận tội lỗi của mình lại là những người có nhiều cơ may nhất để nhận ra trách nhiệm của mình với Chúa và nhận ra mình cần tới Chúa. Nhận ra mức độ trầm trọng của tội lỗi để có thể nhận ra lòng khao khát ơn cứu độ; nhận ra sự bất trung để nhận ra nẻo đường của ơn cứu độ bằng tình yêu thương. Đó là một trong muôn vàn nét “đảo ngược” kỳ lạ của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô : “Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói với họ : "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi." (Mc 2,17).

Chính từ nền tảng căn bản ấy, con người mới có thể vươn lên được. Đúng hơn, từ nền tảng căn bản ấy, con người mới đặt đời mình vào bàn tay Chúa để có thể được Thiên Chúa nâng lên đến đẳng cấp sự thánh thiện. Chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng thánh, và chỉ một mình Ngài mới thông ban nguồn ơn thánh. Chỉ những ai làm rỗng bản thân mình bằng sự chân nhận cái nghèo căn bản thì mới có thể được Thiên Chúa đổ đầy sự thánh thiện của Ngài.

Mặt khác, các môn đệ của Chúa Giêsu không phải là những con người ưu tuyển, cả về phương diện trí thức cũng như về phương diện đời sống luân lý; các thính giả của Chúa Giêsu cũng không phải là những người có văn hóa cao hoặc là những người lành thánh nào cả. Ngược lại, những người chung quanh Chúa, hầu hết là những con người bình thường, hoặc có thể nói là tầm thường, hoặc rất tầm thường nữa. Thế mà, với những con người bình thường hoặc tầm thường như thế, Chúa Giêsu không ngần ngại đặt ra những lý tưởng cao vời của đời sống luân lý. Chúa không giảm nhẹ chút nào đòi hỏi của lý tưởng Tin Mừng. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó trong toàn bộ giáo huấn luân lý của Chúa Giêsu, đặc biệt trong bài giảng trên núi : “Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5,48). Nẻo đường mà Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ bước vào là một nẻo đường mà ngay cả những bậc thánh hiền cao cả nhất của nhân loại cũng không dám nghĩ đến : "Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó”. (Mt 7,12).

Chúng ta có thể thấy rõ, nẻo đường đi vào ơn cứu độ của Chúa Giêsu không phải là bình bình, vừa vừa phai phải, nhưng là một bước nhẩy trọn vẹn và quyết liệt vào con đường nên thánh, vào con đường hun hút đến trời mà tự thân nhân loại không dám bước vào. Con đường ấy dĩ nhiên chỉ khả thi trong ơn cứu độ của Đức Giêsu, chỉ khả thi khi người Kitô hữu nhẩy vào thế giới của Nước Trời và đón nhận được sự sống mới trong ân sủng của Chúa Thánh Thần.

Bao nhiêu trục trặc trong đời sống tâm linh của người Kitô hữu cũng vì không khám phá ra linh đạo của người nghèo, không đi vào nẻo đường chân chính của người nghèo, không đi vào nẻo đường tâm linh của đạo cứu độ, nẻo đường nơi đáy sâu của cuộc đời.

Với suy nghĩ muốn vào tu viện làm một người giúp việc, Martino cầu nguyện : "Lạy Chúa, Chúa đã cho con chính Chúa, con cũng sẽ dâng lại cho Chúa chính bản thân con. Hãy để con cứu giúp người mệt mỏi, kẻ đau ốm và người bất hạnh. Hãy cho con giúp họ hiểu rằng Chúa yêu họ biết bao..."

Con đường nên thánh của Martino không phải là "đi giày cao gót" cho cao hơn người, nhưng lạ bước đi với "đôi chân trần" của người nghèo; bước chân ấy đi vào đúng vết chân của Gia-kêu. Martino đã chẳng bao giờ dựa vào "thế mạnh" của mình để giải quyết cuộc đời éo le của mình. Martino đi vào con đường thánh thiện từ sự chân nhận bậc thang thấp nhất của mình. Con người ấy không phải lo bảo về điều gì cho mình, không lo bảo vệ bản thân, không lo bảo vệ danh dự, không lo bảo vệ tài năng, không lo bảo vệ sức khỏe,... con người ấy rộng mở toàn bộ, trong sự đơn sơ mộc mạc như thế đã được nhẹ nhàng bay bổng lên với Đấng là nguồn mạch mọi hồng phúc.

Đừng vẽ chân dung Martino cũng như các thánh từ trên đầu. Chân dung Martino phải được vẽ từ chân, từ thái độ dám nhận rõ bàn chân tầm thường của mình đã được Chúa đón nhận. Chính từ nền tảng ấy, con người mới có thể nên thánh; bởi vì nên thánh là công trình của Chúa, và chỉ có thái độ nghèo khó mới có để lãnh nhận được sức sống từ mạch nguồn ơn cứu độ, từ sức sống của Thánh Thần Thiên Chúa.

***

Khó lắm khi mà người ta có được một chút lợi điểm trong cuộc sống mà lại không sử dụng.

Khó lắm ! khi mà, trong cuộc sống xã hội hằng ngày, mọi sự đều phải đổi chác và hơn nữa phải "có thần có thế", làm sao người ta dám chờ đợi được tặng-không ?

Khó lắm khi mà phải buông đời mình để chờ đợi một "hồng ân đi bước trước" !

Chúa ơi ! Xin cho con cảm nếm được vị ngọt lành của lòng Thương Xót Chúa trong cuộc sống bon chen gay gắt của đời con.

xem tiếp Phần 3

xem lại Phần 1