Câu Chuyện Mác-ti-nô - Phần 3
Thế giới con người luôn có sự hiện diện của sự ác. Ngày nay, con người đã càng ngày càng văn minh hơn, không phải chỉ trong phương diện khoa học kỹ thuật, nhưng cả trong nhiều khía cạnh văn hóa và trong ý thức về nhiều giá trị nhân bản. Thế nhưng sự ác trên thế giới vẫn không giảm bớt; sự ác gia tăng mức độ tinh vi cùng với những bước tiến văn minh của nhân loại.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
5. Chân tướng chiến cuộc thiện-ác
5.1 "Triết lý" chân chính về sự ác
Thế giới con người luôn có sự hiện diện của sự ác. Ngày nay, con người đã càng ngày càng văn minh hơn, không phải chỉ trong phương diện khoa học kỹ thuật, nhưng cả trong nhiều khía cạnh văn hóa và trong ý thức về nhiều giá trị nhân bản. Thế nhưng sự ác trên thế giới vẫn không giảm bớt; sự ác gia tăng mức độ tinh vi cùng với những bước tiến văn minh của nhân loại.
Thế kỷ XXI này, nhân loại hình như đang đứng trước một sự phát triển đột biến của sự ác : nạn khủng bố đe dọa thế giới; khuynh hướng gia tăng sức mạnh quân sự đang lây lan khắp nơi và có nguy cơ, hoặc đẩy thế giới vào cuộc chiến tranh thế giới thứ III, hoặc làm suy kiệt nền kinh tế vì những khoản đầu tư khổng lồ về quân sự; thái độ vô trách nhiệm về môi sinh để lại những di hại lớn lao cho thế hệ tương lai; người Việt Nam tự đầu độc chính mình vì những sản phẩm độc hại, người ta đầu độc nhau theo kiểu vòng tròn mà cuối cùng thì ai cùng bị rớt vào tình huống "gậy ông đập lưng ông"...
Cuộc rượt đuổi của sự thiện và sự ác như thể rơi vào một trò chơi nực cười, bi đát... Biết bao nhiêu nỗ lực của con người để giải quyết sự ác, nhưng chính cách giải quyết này lại làm nẩy sinh nhiều sự ác khác... Người ta giải gỡ cái bất công này bằng một bất công khác, giải quyết hiện tượng gian dối này bằng một cách thức gian dối khác, giải quyết mối bất hòa này bằng sự chia rẽ ghê gớm hơn. Người ta xây dựng xã hội không bóc lột bằng sự thù hằn tiêu diệt người khác, và một cách bi đát, cách thức giải gỡ sự ác lại chính là hành lang để cái ác lây lan như một thứ vi khuẩn truyền nhiễm. Quả thật người ta chưa được cất đi cái xà trong con mắt của mình thì cũng không thể nhìn thấy mà nhặt được cái rác trong con mắt người khác (Xc Mt 7,3-5).
Đức Gioan Phaolô II, trong bản di chúc tinh thần "Ký Ức và Căn Tính" cho rằng nguyên nhân của sự ác bùng nổ trên thế giới hiện nay là do con người đã đánh mất triết lý chân chính về sự ác. Người ta giải quyết sự ác khi mà không còn thấy khuôn mặt đích thực của sự ác. Truyền thống Giáo hội, từ thánh Âu Tinh cho đến thánh Thomas, đều cho thấy sự ác không hiện diện đơn độc, sự ác không có khuôn mặt riêng. Tất cả "công trình" của sự ác lại chính là sự biến dạng của khuôn mặt sự thiện. Sự ác chính là sự khuyết phạp, là do thiếu sự thiện cần phải có. Sự ác không đồng nhất với con người này hay con người khác, không đồng nhất với phe nhóm này hay phe nhóm khác,.. Người ta không thể giải quyết sự ác mà không tôn trọng sự thiện; không thể chống lại cái xấu này bằng cái xấu khác. Một cách nào đó, cần hiểu rằng : "kẻ thù ta không phải là người, giết người đi thì ta ở với ai ?"; kẻ thù đích thực là lòng ghen ghét, là sự tỵ hiềm, là thái độ bất công, là toan tính bóc lột... Khi người ta muốn giải quyết cái bất công, cái ác bằng một phương thức nào đó, có vẻ rất hiệu năng, nhưng lại không gắn liền với nền tảng cái thiện của kiếp người, thì con đường phát triển chân thực sẽ bị đóng lại...
Với thứ triết lý đúng đắn về sự ác, có lẽ, điều trước tiên chưa phải là làm điều gì, mà là dám tin vào tình yêu, tin vào sự thiện, tin vào tấm lòng lương thiện; đồng thời, điều không thể thiếu nữa chính là một thái độ đủ lòng kiên vững trong sự thiện, dù trước mắt là sự mất mát thiệt thòi... Đừng để bộ mặt quá ấn tượng của cái ác át đi tiếng kêu gào của cái thiện ở sâu trong lòng thế giới con người.
Thật ra, với một lương tri ngay thẳng, con người đã có thể thoáng thấy được bộ mặt thật của cuộc chiến thiện - ác. Lắng nghe được tiếng nói của lương tri ở đáy lòng, có lẽ người ta có thể nhận ra được tảng băng chìm sâu của sự thiện và sự ác trên trần gian. Martino đã trả lời cho bài toán nghèo khổ, bất công, ác độc.. bằng một thứ "triết học về sự ác" khác giản dị nhưng quá đúng đắn. Bị loại bỏ vì mầu da đen, Martino đã không phản ứng bằng một lập trường chống đối những kẻ có mầu da trắng, mà là thái độ trân trọng với tất cả mọi người, dù mầu da của họ là đen hay trắng, vàng hay đỏ...; bị khinh dể vì nghèo, Martino không căm ghét người giầu mà cũng chẳng sợ hãi cái nghèo, mà là một nỗ lực xóa bớt cái khổ của cảnh nghèo. Ngay trong cái bất công và nghèo hèn, Martino như thể vẫn kín múc được dòng nước tươi mát trong lành của sự thiện.
Đối với những trẻ da đen, sinh trưởng trong cảnh gia đình túng quẫn, cơ cực như thế, thường chúng chọn thái độ bất mãn, buông thả, hoặc nỗ lực vươn lên để khẳng định mình... Trái lại, cảnh nghèo nàn đó lại giúp cho Martino sớm hiểu cuộc đời, biết vượt qua "thói đời", để tìm thấy một Thiên Chúa yêu thương, cũng như biết thể hiện lòng thương giúp những người đau khổ bần cùng... (Tấm Lòng Vàng, trang 9)
Trở về với lương tri ngay thẳng, thứ triết học ấy của Martino không phải do từ nghiên cứu các học thuyết trong sách vở, nhưng do từ một thái độ chân thành với chính bản thân mình, đó là khả năng trở về với lương tri ngay thẳng mà Thiên Chúa đã ban cho mọi người; nhất là trở về một thứ lương tri ngay thẳng được biến đổi nhờ ân sủng của Chúa. Với thứ lương tri ngay thẳng ấy, con người thoát khỏi những ảnh hưởng độc đoán của tình huống cụ thể, thoát khỏi cách phản ứng bất mãn của tình cảm bộc phát, thoát khỏi khuynh hướng tìm sự thỏa mãn cho mình bằng cách trả thù... Thứ lương tri ngay thẳng được ân sủng soi dẫn ấy không là gì khác hơn điều thần học gọi là "cảm thức đức Tin. Văn kiện "Cảm thức đức Tin trong Giáo hội" cho thấy có một mạch nguồn chân lý trong dòng sự sống, nơi những người tín hữu sống một đức Tin thuần thành. Chính mạch nguồn chân lý ấy đã nhiều lần cung cấp những cột mốc tín lý cho các nhà thần học và cho giáo quyền.
5.2 Địa tầng Chân-Thiện-Mỹ
Chân - Thiện - Mỹ là những giá trị cao quý. Người ta thường coi chân thiện mỹ như là khung trời tươi đẹp mà con người luôn khát vọng vươn tới. Nhưng "khung trời" thì ở trên cao. Những ngôi sao chân thiện mỹ trên khung trời ấy, kẻ mọn hèn nhiều khi chỉ biết ngắm nhìn để giải trí, hoặc để tủi hổ, để buông xuôi thất vọng, hoặc phản ứng như triệu chứng bất mãn kinh niên. Người ta đã tách rời thứ tu đức cao cả ra khỏi mức sống luân lý tối thiểu. Người ta đã đưa lý tưởng thánh thiện lên tận trời cao, và để lại nơi mặt đất này bộ dạng tan hoang của một thực tế tàn nhẫn.
Hành trình vươn lên nơi cao ấy được phác họa với quá nhiều thang bậc thi cử, quá nhiều điều phải thanh luyện, loại bỏ cho nhẹ bước hành trình. Rất nhiều con đường tu đức được thành hình theo cung cách ấy. Nhưng khổ thân cho con người là trên cao ấy, cái thiện đạt được hình như lại không còn mấy cái mỹ; cái chân người ta khăng khăng quyết đoán lại có dáng vẻ gì không phải là thiện; kẻ tìm cái mỹ thì không thấy bóng dáng gì của chân và thiện cả... Trên cao ấy, không ít đấng bậc cao cả lại lỗi đức tính nhân bản bình thường nhất; không ít điều thiện hảo trở thành áp lực "chịu vậy" cho người nào muốn vươn lên...
Có lẽ cái "lệch lạc" ban đầu của con người đã là bệnh so sánh, bệnh hơn thua, bệnh ngỏng cổ nhìn lên hoặc nhìn ngang nhìn dọc mà không biết nhìn lại đôi chân của mình. Cái tai họa của kiếp người là đã tìm điểm qui chiếu để tự đánh giá mình một cách lệch lạc, bằng cách so sánh với ai khác, với cái gì khác chứ không phải với nguồn chân thiện mỹ. Muốn nổi bật thì phải đè bẹp người khác; muốn độc đáo thì phải loại trừ người khác; muốn là mình thì lại không chịu để người khác được là chính họ... những phương cách ấy không là gì khác hơn sự lãng quên địa tầng chân thiện mỹ.
Thực sự chân thiện mỹ không phải ở trên cõi cao xa mà chỉ có ai tài hơn người, đức hơn người, địa vị hơn người mới đạt được. Chân thiện mỹ nằm ở địa tầng sâu xa trong cuộc sống. Trong cái ăn, cái ở, cái chơi, cái vui, cái sống, cái làm việc; và cả trong cái đau, cái sợ, cái ghen... thường ngày đã đầy tràn ánh sáng chân thiện mỹ mà nhiều người không nhìn thấy. Ăn với lòng tri ân, sống như một niềm vui, ghen như khát vọng được chấp nhận ngã vị của mình, làm việc như một sức sống đang vươn lên... tất cả những điều đó quá đầy đủ giá trị chân thiện mỹ. Một cái nhìn thanh thản và đơn sơ có thể cho ta thấy một nét đẹp trong người nông dân lấm lem bùn lầy; có thể cho ta thấy sự thiện tinh tuyền trong hình ảnh bà mẹ với những công việc phù du nhất; có thể cho ta thấy chân lý là niềm vui rộn ràng khi người cha hiểu ra quy luật "con hơn cha là nhà có phúc"... Chân thiện mỹ thật ra quá đơn giản, quá mộc mạc, quá gần gũi; chân thiện mỹ có dáng vẻ quá bình thường hoặc quá tầm thường trong một xã hội tranh đua để thăng tiến.
Bị mẹ đánh vì đã mang tiền đi chợ để cho người nghèo, Martino biết rằng mình đã làm mẹ buồn; nhưng cậu bé lại không thể nào quên được nét mặt vui mừng của ông lão ăn xin khi nhận được vài đồng tiền nhỏ của mình...
Trong cuộc đời Martino, người ta không thấy có bóng dáng của những bài học vớ vẩn, được rút ra cách sai lạc từ những tình huống cụ thể. Bị la mắng hay bị khinh bỉ, được quý mến hay được ca tụng, được trao trách nhiệm này hãy phải đối diện với tình huống kia,... Martino dường như vẫn đặt đôi chân mình vững vàng trên địa tầng chân thiện mỹ ấy.
5.3 Ánh sáng đức Tin về sự ác
Dưới ánh sáng đức Tin, người Kitô hữu hiểu rằng tên gọi chính xác nhất của sự ác chính là : con cái của Satan. Chính kẻ lừa dối nguyên tổ trong vườn địa đàng đã đưa sự ác vào trần gian; chính hắn đã muốn cám dỗ đức Giêsu thi hành đường lối cứu độ theo cách thức ăn gian của kiếp người. Cuộc chiến chân thực nhất của con người chống lại sự ác phải là cuộc chiến chống lại tội lỗi và kẻ cầm đầu tội lỗi là Satan. Chỉ khi đó, mục tiêu của cuộc chiến mới không phải là "đánh ai vì cái gì", mà luôn phải là "đánh cái gì vì ai"; cách thức của cuộc chiến không phải là loại trừ điều này để đề cao điều kia, mà là tìm lại sự hiện hữu tinh tuyền của mọi tạo thành.
Khi tiếng nói lương tri dễ bị át đi do những tiếng ồn độc hại của thế gian, thì ánh sáng đức Tin giúp soi tỏ cho con người thấy rõ cái "khuyết phạp sự thiện" dính dáng sâu xa tới "tội", dính dáng tới cội nguồn sự từ chối nối kết bản thân và cuộc đời mình với chính Chúa. Ở hậu trường của cuộc chiến thiện ác, cần phải nhận diện được kẻ giật giây cho sự ác chính là Satan.
Chỉ trong mặt trận chống lại tội lỗi do Satan cầm đầu, con người mới nhận ra sự bất lực của bản thân mình, mới nhận ra nét khẩn thiết của ơn cứu độ. Chỉ có Chúa mới có thể cứu độ con người, bởi vì căn nguyên của sự ác chính là tên cám dỗ mà chỉ có "giòng dõi người nữ" (st 3,15) mới có thể đạp dập đầu nó được..
"Nếu tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ, thì con cái các ông dựa thế ai mà trừ ? Bởi vậy, chính họ sẽ xét xử các ông. Còn nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông" (Lc 11,19)
Dù còn quá trẻ và chẳng được học đạo lý nhiều để có thể suy xét phân minh, nhưng từ trực giác đơn sơ và thuần khiết, Martino tìm thấy thái độ đến với tha nhân như là những con người trần trụi, những con người thuộc về Chúa trong thế đứng trần trụi của mình... Chinh nơi đó, Martino "hiểu ra" điều phải chiến đấu không phải là ai khác mà chính là sự dữ. Đặt mình trong cuộc chiến với Satan, cậu bé Martino nhìn thấy sự ác đúng bộ mặt thực của nó và cậu bé đã thực hiện điều thiện một cách tự nhiên nhất. Không có sự tính toán so đo, không có sự cân nhắc được thua, không mặc cảm đố kỵ với loại người này hay con người kia.
Mặt khác, dưới ánh sáng đức Tin, chiến cuộc thiện ác không phải là chuyện riêng của mỗi cá nhân mà là vấn đề của cộng đồng nhân loại. Do đó, ơn cứu độ của Thiên Chúa không chỉ là chuyện cân đong đo đến công tội của cá nhân. Ơn cứu độ của Thiên Chúa là đưa đến con thuyền Giáo hội; những ai hiểu ra mình cần cứu thì đến với cộng đoàn Giáo hội để cùng chèo chống con thuyền chung.
Một ông bố nói với đứa con : con à, ông nội con mới bị tai nạn, gẫy chân, con chịu khó sang chăm sóc ông nội nhé...
Đứa con trả lời : tại sao con phải chăm sóc ông nội. Con đâu có làm cho ông nội bị què chân. Ai đã làm cho ông nội què chân thì người đó phải chăm sóc cho ông nội chứ.
Ông bố giơ tay lên trời, không nói được một lời nào...
Ba tháng sau, ông chú ở Mỹ muốn đón bố sang Mỹ để chữa chân, cần có một người đi theo để giúp bệnh nhân. Đứa con nói với bố : bố ơi, để con đi theo giúp ông nội nhé...
Ông bố cũng chỉ biết giơ tay lên trời mà không nói được một lời nào...
Có lẽ không ít người Kitô hữu, trong lúc khổ cực, đã chọn thái độ như đứa con trong câu chuyện. Người ta kêu than tại sao tôi lại phải chịu hậu quả của tội tổ tông; người ta đòi hỏi ai làm người ấy chịu. Có những người Kitô hữu tâm sự rằng, từ khi vào hội đoàn, tôi thấy mình càng thêm tội, tranh cãi nhiều, buồn bực nhiều, nói xấu nhiều… Đó là một thực tế khó có thể chỗi cãi. Tuy nhiên, thái độ rút lui, an thân thì lại chẳng khác gì tuyên bố rằng : tay tôi đã sạch, ai lao vào bếp để dọn bàn tiệc Nước Trời thì cứ việc làm; khi nào dọn bàn xong, nhớ gọi tôi vào ăn với...
Cuộc đời, tự nó, đã đặt tất cả mọi người vào trong một tình trạng mắc nợ nhau quá nhiều. Thái độ không dám chịu phiền hà vì ai đóng kín nẻo đường cho đi chính bản thân, không dám đi vào hành trình của hạt lúa, chết đi mới sinh nhiều bông hạt… Và điều trớ trêu là cũng chính những con người ấy vẫn khát khao được lãnh nhận ơn huệ tặng không của Chúa, vẫn cứ nài nỉ được các thánh trợ giúp, vẫn đòi hỏi cho quyền lợi của mình trong cộng đồng xã hội... những người ấy vẫn muốn bay thẳng vào thế giới hiệp thông ơn phúc mà không phải trải qua hành trình liên lụy trong khổ đau.
Đức Tin Kitô giáo dẫn dắt con người đi từ sự liên lụy trong tội tổ tông ở đầu lịch sử, để đạt đến mầu nhiệm các thánh cùng thông công ở cuối dòng lịch sử. Kẻ nào không dám đi vào cánh cửa liên lụy, thì không thể đến được gian phòng thông hiệp. Nói cách khác, chính ánh sáng của "gian phòng thông hiệp" mới có thể soi rõ "cánh cửa liên lụy". Không có ánh sáng của sự hiệp thông, con người ta bị giam hãm trong căn phòng cá nhân chủ nghĩa của chính mình. Không ai được quyền chọn giải pháp né tránh kẻ bị cướp bên đường như vị tư tế và như thầy Lêvi (Xc. Lc 10, 25-37)
5.4 Yêu thương - cứu độ - liên lụy
Cuộc chiến của con người cũng chính là cuộc chiến mà Chúa đã đảm nhận. Thiên Chúa của Sách Thánh là Thiên Chúa ba lần thánh, nhưng đồng thời là một Thiên Chúa dấn thân vào dòng lịch sử của nhân loại. Ngài là Thiên Chúa của Lời Hứa, Thiên Chúa của Giao Ước, Thiên Chúa hay ghen, Thiên Chúa nhập thể, và là vị Thiên Chúa dám trao phó chính Con Một Yếu Dấu của Ngài cho con người. Sự thánh thiện của Thiên Chúa không chỉ hàm nghĩa tách biệt, nhưng còn hàm chứa thực tại nhập cuộc và nhập cuộc sâu xa. Một Thiên Chúa càng thánh thiện lại càng nhập cuộc; và càng nhập cuộc lại càng biểu lộ sự thánh thiện tuyệt vời hơn. Một Thiên Chúa trong đức Giêsu hoàn toàn vô tội, nhưng lại lãnh nhận hết những hậu quả của tội và chết như một tội nhân. Con đường yêu thương chỉ có thể bắt đầu từ cánh cửa liên lụy.
Khi gieo tình thương, đức Giêsu đã chẳng gặt được ngay hoa trái của tình thương, mà là sự trả thù bằng chính bản án tử hình. Nhưng dù thế nào đi nữa, tình yêu không thể thua cuộc; và dù hai ngàn năm qua, dù có nhịp điệu quá chậm rãi, tình yêu của Chúa vẫn tiếp tục sống, vẫn tiếp tục sinh sôi để gây dựng vương quốc tình yêu của Ngài.
Đức Giêsu đã không chống trả sức mạnh thế gian bằng một sức mạnh lớn hơn; Ngài cũng không bị lôi cuốn vào cuộc tranh cãi chân lý, Ngài im lặng để tiếng nói chân lý được vang vọng trong chính hành động hy sinh mạng sống của mình. Con đường của đức Giêsu mời gọi người Kitô hữu bước qua thập giá để đến vinh quang Phục Sinh :
Thiên Chúa dấn thân vào dòng đời, sự hiện diện thánh thiện của Thiên Chúa tỏ lộ rõ nét giữa lòng thế gian tội lỗi; nỗi oan ức của Chúa Giêsu và sự thua cuộc của người công chính trước sức mạnh của sự dữ lại mở ra một con đường "thắng cuộc lạ kỳ", sự thắng cuộc của tình yêu. Người Roma có câu cách ngôn : kẻ thắng cuộc sẽ học lại văn hóa của người thua cuộc. Quả thật đây là quy luật phổ biến của lịch sử nhân loại. Kẻ hung tàn thường có khả năng thắng cuộc. Kẻ thắng cuộc hung tàn xâm chiếm người thua cuộc có văn hóa, giống như người bệnh nuốt lấy phương dược chữa trị vào lòng mình... để rồi được chữa trị nhờ chính văn hóa của người thua cuộc. Tính chất "thắng xuôi, thua ngược" vẫn là vận hành của lịch sử nhân loại, một lịch sử của tội lỗi và ân phúc, một lịch sử mà tình yêu và điều thiện luôn phải/được đi vào nẻo đường liên lụy khổ đau để mở ra chân trời hạnh phúc. Chỉ có con đường ấy, tình yêu mới chiến thắng mà không vương thù hận, sự thiện mới trở nên toàn vẹn tinh tuyền chứ không vương vấn tính ác... Sự thiện ấy và tình yêu ấy được thanh luyện trong "lửa liên lụy" để chứng thực không phải là hàng mã nhất thời.
Chỉ ở đáy cùng của bất công, khi mà "đức Giêsu kêu một tiếng lớn tiếng rồi tắt thở", thì tiếng nói của sự công chính mới vang lên. Giữa "đêm tối của buổi trưa" ấy, "Bức màn trướng trong Đền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới." và viên đại đội trưởng mới bật ra lời tuyên xưng : "Quả thật, người này là Con Thiên Chúa." (Xc. Mc 15,37-39).
Tình yêu cần phải đi đến chỗ hy sinh mạng sống cho bạn hữu, tình yêu ấy cũng chính là thái độ liên lụy đến cùng để có thể "hóa ra không"; và đó mới là con đường cứu độ chân chính mà Thiên Chúa Cha muốn tỏ hiện trọn vẹn nơi đức Giêsu. Hóa ra tình yêu không hẳn phải là khung trời thơ mộng. Tình yêu chỉ thật là tình yêu mang tính cứu độ khi dám đi vào hành trình gai góc bằng thái độ liên lụy đến cùng, tình yêu là "chén đắng", là "phép rửa" bằng máu.
Người ta không thể chữa trị điều xấu bằng một điều xấu khác,và cũng không thể chữa trị điều xấu bằng điều có vẻ “không xấu”. Cái xấu phải được chữa trị bằng cái thiện. Cũng như người ta không thể diệt hết cỏ dại bằng việc nhổ cỏ, nhưng là bằng cách “trồng bông”. Để vươn lên khỏi thế giới của sinh vật, để thoát ra được qui luật “cá lớn nuốt cá bé” thì không phải chỉ cần áp dụng những định chế “thuận mua vừa bán”, nhưng cần thiết phải làm sống động tinh thần tặng không, thái độ mắc nợ nghĩa tình, tình thần có trách nhiệm với những người chịu bất công. Thiên Chúa muốn xoá đi sự bất công trong thế giới này không phải chỉ bằng một cuộc xử án mà là một quá trình yêu thương. Thiên Chúa ban cho người này nhiều hơn là để người được nhiều có trách nhiệm với người được ít hơn. Kẻ giầu có trách nhiệm luân lý với người nghèo, kẻ đạo đức có trách nhiệm luân lý với người tội lỗi, người khỏe mạnh có trách nhiệm luân lý với người yếu đau... Không phải Thiên Chúa đã ngẫu hứng mà yêu thương và cứu vớt những người nghèo. Nhưng hành trình yêu thương bắt buộc phải cúi xuống, và người nào muốn đi vào nẻo đường yêu thương thì cũng phải cúi xuống những phận nghèo như đức Giêsu đã cúi xuống.
Tín lý Kitô giáo khẳng định mọi sự con người có được đều là hồng ân tặng-không của Chúa, và người lãnh nhận hồng ân của Chúa thì đồng thời cũng chính là người lãnh trách nhiệm. Thiên Chúa muốn trả lại sự công bằng căn bản cho đời người bằng con đường tình yêu cúi xuống, công bằng chính là đã lãnh nhận nhưng-không thì hãy cho đi nhưng không.
Từ khi là một cậu thiếu niên phụ việc cho bác sĩ Marcela de Rivaro, Martino đã thường thức trắng đêm cầu nguyện trước tượng chịu nạn; cho đến khi vào trong tu viện, Martino vẫn luôn duy trì một đời sống cầu nguyện sâu xa, đặc biệt là cầu nguyện trước thánh giá.... Thánh giá là con đường yêu thương chân chính, không có con đường nào khác có thể giải thoát nhân loại chìm trong tội và sự ác. Từ khám phá ấy, Martino mới hiểu ra hoàn cảnh bi đát của đời mình đã là bước đầu của sự liên lụy; nẻo đường phải đi tiếp cũng chính là tiếp tục liên lụy; đích điểm của cuộc đời vẫn là để cho đức Giêsu liên lụy với mình và cùng với đức Giêsu để liên lụy đến cùng với những người đau khổ bần cùng. Tình yêu là cây hoa hồng, nhưng trước khi trổ hoa thì đã mang đầy gai nhọn.
"Khi suy đến Chúa Kitô đã chịu cực hình vì chứng ta, đã mang lấy tội lỗi chúng ta lên cây gỗ, thì người không thể cầm mình được và đã khóc dầm dề..."
(Bài giảng của đức Gioan XXIII, lễ phong thánh Martino)
Con đường của lòng thương xót chính là con đường của một tình yêu vô điều kiện, hơn nữa đó là tình yêu tha thứ, và hơn hơn nữa, đó là tình yêu thập giá, nghĩa là chấp nhận hết thua lỗ thiệt thòi. Chỉ tình yêu ấy mới có khả năng trả lại bộ mặt chân thật cho con người, đó là bộ mặt của những người khát vọng yêu thương và cần đến lòng thương xót. Lòng thương xót chính là tình yêu với một năng lực mạnh nhất để xuyên thủng bức tường bất công và thù hận, đến với tha nhân với bất cứ giá nào, nghĩa là bằng giá máu.
***
Khi nào ta nhìn những đứa trẻ chơi hồn nhiên, thật hồn nhiên, khiến ta thèm được trở về tuổi ấu thơ, là khi đó ta đã nếm đủ nỗi đau bầm dập của cuộc đời.
Cứ thử kể một vài nỗi khổ của ta cho ai đó; ta sẽ được nghe kể lại, không phải một vài mà là một đống những nỗi đau, nỗi đau ăn dấu của kẻ mà ta tưởng như đang nhởn nhơ trong cuộc sống.
Bên dưới lớp vỏ mỹ miều của cuộc sống, quả thật ruột gan con người đầy những nỗi đau.
Con vẫn nhìn thấy Thánh Giá Chúa hằng ngày.
Sao con lại không nghe được tiếng kêu van của anh chị em con ? Những tiếng kêu van đến Lòng thương xót của Chúa ?
6. Tìm được đường về
6.1 Cấu trúc xã hội bị đảo ngược
Niềm tin Kitô giáo bao hàm ý nghĩa sống ở trần gian như một cuộc lữ hành. Người Kitô hữu không bám vào trần gian, không sống chết với những giá trị trần gian nhưng găn bó với thực tại trên trời. Nhưng thật ra, thực tại trên trời không phải bay bổng trên cõi cao xanh nào đó. Thực tại trên trời không bỏ trốn khỏi trần gian. "Trời" chính là "nơi ở" sâu xa nhất của thực tại trần gian. Thực tại trên trời cũng chính là căn tính của thực tại trần gian. Sống tinh thần lữ hành chính là biết xử dụng thực tại trần gian cách chân chính. Tìm Nước Trời chính là để ý Chúa được thực hiện trong hành trình trần gian. Ơn cứu độ của Thiên Chúa không phải là từ bỏ thế gian mà là dấn bước để thế gian được trở nên thực tại trên trời. Thế đứng của người Kitô hữu không phải là cắm đầu và mặt đất nhưng cũng không phải là bay bổng trên trời. Thế đứng của người Kitô hữu là "đầu đội trời, chân đạp đất", nghĩa là đưa cuộc đời này vào cuộc vượt qua, là thực hiện một phép rửa đối với trần gian để viên ngọc Nước Trời được tỏ hiện.
Khi người mẹ cho đứa con cái bánh, đứa con chỉ thấy cái bánh ngon hay dở. Đó là một thế đứng đảo ngược. Khi đưa con hiểu rằng không phải mình được lãnh nhận cái bánh mà là được đón nhận tình thương của mẹ. Đây lại là khả năng tìm lại thế đứng chân chính của đời sống con người. Công trình cứu độ của Ngôi Lời Nhập Thể không phá hủy công trình mà Thiên Chúa đã sáng tạo nên trong Ngôi Lời Vĩnh Cửu (Xc. Ga 1, 3-4). Ngôi Lời Nhập Thể đón nhận một thế giới tạo thành đã bị tội lỗi làm đảo ngược, đón nhận rồi thanh luyện và nâng cấp. Người kitô hữu sống giữa trần gian giống như "tiếng người hô trong hoang địa : Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi..." (Ga 1,23).
Trong một thế giới đảo ngược, người ta đánh mất hệ qui chiếu nền tảng, và người ta sẽ giải quyết mọi sự cách tùy tiện, ngẫu hứng hoặc theo kiểu vô trách nhiệm. Gia đình là nền tảng xã hội, nên một thanh niên chưa/không có gia đình thì dễ rớt vào tình trạng ăn chơi; "an cư" là nền tảng của "lạc nghiệp" nên một người đàn ông thường xuyên làm việc xa nhà cũng sẽ dễ tìm niềm vui nơi trong những đam mê tội lỗi; "sống với ai" là nền tảng để người ta biết "sống thế nào", nên một người đi đường thường đá rác rưởi hoặc cục gạch chướng ngại trên đường đi ra chỗ khác chứ không phải thái độ của người xếp nhà cửa cho gia đình... Từ những ví dụ nhỏ ấy, nếu ta mở rộng ra ở tầm mức cấu trúc xã hội, ta sẽ hiểu ra căn nguyên sâu xa của rất nhiều tệ nạn xã hội cũng như tình trạng tội lỗi trong mỗi con người.
Trong thế giới bị đảo ngược, người ta bỏ quên cái "mình là" để vun đắp cho cái "mình có"; người ta thay thế cho một sự tôn trọng phẩm giá căn bản của con người để chỉ thấy có sự cao thấp của chức năng; người ta xum xoe với con người có tiền bạc, có địa vị, có tài năng hay đức độ mà không đặt mình trong một cộng đoàn "thuộc về" nhau; người ta bỏ quên cách sống an hòa với người khác để tìm thành công nơi những thứ kỹ năng giải quyết vấn đề; người ta bận tâm để thích ứng mà bỏ quên cảm nhận giá trị tự tại "thiêng liêng" trong tâm hồn; người ta tìm chuẩn mực đời mình bằng cách so chiếu và một thang điểm xã hội mà không còn biết sáng tạo bản thân mình như một tác phẩm nghệ thuật; ...
Một xã hội đảo ngược là một xã hội mất căn tính, một xã hội đeo đuổi những thực tại "trên ngọn" mà lại bỏ quên "gốc rễ". Rất nhiều sự ác trong cuộc đời mà một nỗ lực luân lý cá nhân khó lòng giải quyết được, nếu người ta không thấy được nguyên nhân sâu xa do sự đảo ngược cấu trúc chân thật. Người ta không thấy được cái toàn thể tế vi của cuộc sống nên thường đâm đầu vào những đường lối giải quyết lệch lạc.
Martino là một cậu bé từ khi sinh ra đã "không có cha" hay đúng hơn chỉ có những câu chuyện về cha, do mẹ và hàng xóm kể lại. Hơn 8 tuổi, lần đầu tiên Martino mới được gặp cha, rồi sau đó được sống hai năm với cha và ông cậu Don Diego ở Santiago Guayaquil; nhưng đây lại là thời gian hai chị em không có mẹ. Mười hai tuổi, Martino đã "ở riêng", cậu bé thuê phòng trọ ở nhà bà Ventura de Luna để phụ việc cho bác sĩ Marcela de Rivaro. Mười lăm tuổi, Martino quyết định xin làm người giúp việc trong tu viện thánh Đa Minh. Sau 9 năm sống và làm những công việc tầm thường nhất trong nhà Dòng, Martino được mặc áo, tuyên khấn, trở thành tu sĩ của Dòng Đa Minh và ở đó cho đến hết cuộc đời.
Xã hội con người vốn luôn hàm chứa nguy cơ mất căn tính; và nguy cơ ấy trở nên rõ rệt trong thế giới hôm nay. Người thợ hôm nay không còn tìm được niềm "tự hào" vì tôi thể hiện chính bản thân tôi trong sản phẩm tôi làm ra, nhưng lại ganh đua với người khác qua những sản phẩm tôi mua sắm được, đó là căn nguyên của bệnh giả dối trong kinh tế. Khát khao thăng tiến khiến người ta bỏ quên sự an hòa nơi "an cư", mà đặt hết ý nghĩa đời mình vào chỗ "lạc nghiệp", đó là căn nguyên của hầu hết mọi đổ vỡ của đời sống gia đình; người sống đời sống thánh hiến xây dựng mọi "nhân đức" trên ý nghĩa của một chức vụ, một nghiệp vụ chứ không phải trên chính khát vọng thánh hiến bản thân, nên khi bỏ đi chức vụ, mọi "nhân đức" mang tính thời vụ ấy cũng vụt tan biến, đó là căn nguyên làm biến chất đời sống thánh hiến...
Trách nhiệm "lớn" của người Kitô hữu thật ra không phải là làm những việc to lớn vĩ đại, nhưng ưu tiên hơn cả là tìm lại một cấu trúc xuôi chiều cho môi trường sống thường ngày,. là tìm lại địa tầng chân thiện mỹ trong cách sống và cách cư xử thường ngày.
6.2 Trong một hệ giá trị bị đảo ngược
Jane thường hỏi cậu : Martino ơi ! Cha đi đâu ? Tại sao cha không về nhà ? "
Cậu giải thích thật đơn sơ : cha là người rất quan trọng phải đi xa vì nhiều công việc phải làm cho Vua Tây Ban Nha.
Jane trả lời : Ước gì cha không bận rộn như thế. Ước gì cha không quá vất vả để có thời giờ ở nhà với chúng mình. Thật hạnh phúc biết chừng nào nếu mình được cha săn sóc há !" (Bác sĩ tí hon, tr. 17)
Con người được sinh ra trong gia đình cụ thể, sống trong một xã hội cụ thể, được sự bảo trợ của một quốc gia nào đó làm nên quốc tịch của mình. Tất cả những điều đó gắn liền với mỗi con người, làm nên máu thịt của con người ấy. Chính trong môi trường cụ thể ấy, một người bắt đầu nhận ra trách nhiệm của mình : làm sao sống như một người con ngoan, một người bạn tốt với làng xóm, một công dân tốt trong đất nước của mình.
Tuy nhiên, dòng chảy cuộc đời thường không suông sẻ như vậy. Lợi ích của làng xóm nhiều khi xung khắc với lợi ích gia đình; điều tốt cho đất nước thường khi lại đe dọa đến miếng cơm manh áo của một gia đình hay một làng nghề... Cách lý giải thông thường mà cha ông ta thường hay nói : "ăn cây nào, rào cây ấy" có những lúc là một lời kêu gọi trách nhiệm đúng đắn của một thành viên trong tập thể. Cũng thế cha ông ta thường lên án một thái độ "ăn cơm nhà, thổi tù và hàng tổng" như một thái độ không đúng đắn, lo chuyện không đâu, chuyện bao đồng mà lại thiếu trách nhiệm cụ thể với gia đình của mình. Những lời răn dạy trong kho tàng khôn ngoan ấy có nhiều giá trị trong nhiều trường hợp, nhưng không phải là không gồm chứa một thứ "khôn vặt", một thứ tinh thần phe nhóm, cục bộ. Chúng ta có thể thấy những con người rất nhiệt thành, rất lăn xả cho một phe nhóm nào đó, có khi trở thành như một thần tượng được tôn kính,... nhưng lại đích thực là một tội phạm chống lại xã hội hoặc chống lại con người. Khi ấy tinh thần trách nhiệm tốt đẹp sẽ bị nhốt trong nhãn quan "ăn cây nào rào cây ấy". Người ta lo cho cái cộng đồng bị giới hạn của sự tương trợ cụ thể giữa những người có liên đới cụ thể, cùng chia sẻ lợi ích chung : xi nghiệp của tôi, làng xóm của tôi; và tinh thần trách nhiệm ấy lại biến thành một thứ vô trách nhiệm với nhân quần xã tắc.
Trong phim ảnh, chúng ta có thể thấy, chẳng hạn, có những vị quản gia rất trung thành với chủ đến độ có thể hy sinh cả tài sản và mạng sống của gia đình mình cho gia đình của chủ nhân; những vị quản gia ấy vâng phục tuyệt đối với các mệnh lệnh của chủ đến độ sẵn sàng thực hiện những hành vi bất công hoặc phạm tội ác tày đình với ai khác. Đó là những vị quản gia bị sức ép của một nền luân lý, văn hóa nào đó đến độ đánh mất cả lương tri ngay thẳng trong đáy lòng mình.
Giống như trong một thế giới đa thần, người ta luôn có nguy cơ rớt vào chiến tranh tôn giáo, một thứ chiến tranh khốc liệt hơn mọi thứ chiến tranh khác, vì đó là cuộc chiến của thần này của dân này chống lại thần kia của dân kia.
Quả thật, con người trước tiên phải đối diện với cái cụ thể, với những con người cụ thể, nhưng sâu xa hơn lại phải là thái độ có trách nhiệm với cộng đồng nhân loại mà mình là thành phần. Đúng hơn, việc lý giải những trách nhiệm cụ thể với tập thể xã hội chung quanh mình cần phải được soi sáng bằng một lương tri ngay thẳng để thấy được nghĩa vụ của bản chất người, nghĩa vụ với nhân loại nói chung.
Lòng yêu thương và cách thể hiện lòng bác ái đúng đắn nhất đối với một cha mẹ, anh em, họ hàng, làng xóm..., thật ra lại chính là tôn trọng phẩm giá người căn bản, liên lụy và hiệp thông với con người ấy trên hành trình làm người, để mỗi người được sống trọn vẹn, sống sung mãn với bản nhất người nhiều hơn... chứ không phải chỉ là tranh đấu quyền lợi, vun đắp tài sản riêng tư một cách phi pháp. Đảm nhận trách nhiệm xã hội" đúng đắn chính là làm sáng lên "nghĩa vụ đối với con người"...
Mẹ Têrêxa Calcuta đã không dấn thân vào nẻo đường tranh đấu quyền lợi cho những người nghèo nhất trong những người nghèo, nhưng trên hết và trước hết là giúp cho những người nghèo ấy được sống và chết như một con người đích thực, chứ không phải như một con chó chết ở góc phố...
Chú bé Martino, khi mới vào tu việc làm người giúp việc, được trao cho nhiệm vụ hớt tóc. Thầy Giacôbê muốn Martino hớt tóc theo kiểu riêng. Vì không hớt tóc đúng theo ý của thầy Giacôbê, Martino bị la mắng... Martino đã xin lỗi vì đã làm buồn lòng thầy Giacôbê, điều mà Martino không bao giờ muốn; nhưng lần hớt tóc sau, Martino vẫn tiếp tục hớt tóc đúng theo quy đinh của tu viện chứ không phải theo kiểu riêng của thầy Giacobê.
Khi không còn nhận ra tầm quan trọng của phẩm giá, khi không còn nhận ra tấm lòng của Chúa nhìn tới phẩm giá "dưới chân" của mỗi con người, người ta sẽ rớt vào thái độ "phe nhóm", "cục bộ" mà những trách nhiệm với phe nhóm cục bộ ấy nhiều khi có bản chất chống lại con người, gia trọng hơn tính bất công, xúc phạm đến những người nghèo...
Quả thật giá trị nền tảng mà xã hội và Giáo hội cần phải làm sáng lên, đó là đặt lại nền tảng cuộc sống cộng đồng nhân loại trên mặt bằng phẩm giá chứ không phải chức năng. Sư cao quí của một phẩm giá người và phẩm giá làm con cái Chúa lớn hơn những thứ tài năng, địa vị ... như một chức năng trong cộng đoàn.
6.3 Nét đảo ngược chính của thế giới
Ở tầm mức thế giới, người ta có thể nhận ra sự đảo ngược lớn, sự đảo ngược giữa "phòng thi" và "phòng khám". Thế giới có nhiều thứ phòng ban. Nhưng ta cũng có thể phác họa bức tranh thế giới trong hai thứ phòng : phòng thi và phòng khám.
Phòng thi thì tìm kiếm "nửa trên" của nhân loại. Thi sát hạch là cuộc thi lọc lựa những người trên điểm trung bình, đương nhiên cũng là gạt bỏ những thành phần yếu kém dưới trung bình. Cuộc thi tuyển lại còn cao cấp hơn nữa, thi tuyển là chọn những con người ưu tú nhất từ trên xuống mà cả nhiều người trên trung bình, hoặc ưu tú vừa phải cũng phải chịu số phận thi rớt. Nơi phòng thi, mỗi người phải tự mình khẳng định mình, và đảm nhận trách nhiệm về đời mình. Phòng thi đưa xã hội vào trật tự có tính thuyết phục, mỗi người phải ở đúng vị trí của mình, theo đúng như tài năng của mình. Phòng thi khẳng định một sự công bằng, đưa tới xã hội phân công hợp lý. Dĩ nhiên phòng thi bao giờ cũng cần thiết cho sự phát triển xã hội. Nhưng phòng thi cũng là nơi người ta làm toán cuộc đời, làm toán trên số phận con người. Phòng thi đưa con người và tình thế bắt buộc phải dấu đi cái dốt của mình, phải che mắt được giám khảo về khiếm khuyết của mình. Phòng thi luôn đặt con người vào nguy cơ phạm tội, nếu không phải là tội gian dối thì cũng thường lại là tội giả hình.
Phòng khám thì ôm lấy "nửa dưới" của nhân loại. Những người đến phòng khám là những người ít nhiều đã lãnh đủ đòn thù bầm dập của cuộc đời. Phòng khám là nơi gặp gỡ của những người đau yếu, những người kém cỏi, những người thất bại trong phòng thi. Những con người ấy cần tới người khác, cần được hiểu cho bệnh tình riêng biệt của mình. Nơi phòng khám, điều bí ẩn nhất cũng cần được bộc lộ, nơi kín đáo nhất cũng cần được mở ra, những triệu chứng phức tạp nhất cần được trân trọng xem xét. Phòng khám là nơi câu chuyện đời được chia sẻ trong lòng khao khát được hiểu, được đón nhận được cảm thông...
Nếu phòng thi là nơi cần thiết cho sự phát triển xã hội, thì phòng khám lại là nơi cần thiết cho con người được là người chân thật. Con người vốn là sinh vật có bệnh và người sống thật nhất là người dám sống với khuyết điểm của mình. Tự đáy tâm hồn, con người khát khao được sống trong phòng khám; nhưng bài toán xã hội lại bắt con người luôn phải bước vào phòng thi.
Xã hội con người chẳng bao giờ bỏ được phòng thi, nhưng đừng nên đặt tất cả cuộc sống con người vào cuộc thi cử. Ngược lại, điều đúng đắn hơn chính là, phòng thi thì cứ thi, nhưng trước cuộc thi, ngoài phòng thi, và sau cuộc thi, thế giới phải là phòng khám. Không phải ở phòng thi, nhưng là ở phòng khám mà người ta nhận ra được tình thương đẹp của con người với nhau, tình thương nâng đỡ từ chân để mọi người tìm được chỗ đứng thỏa lòng, cho dù là năng lực và đức độ không bằng ai.
Đức Giêsu tuyên bố : "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn." (Lc 5,31-32). Sứ mệnh chính yếu của đức Giêsu là thực hiện điều đã được tiên báo trong sách ngôn sứ Isaia : "Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta". (Mt 8,17)
Sự so sánh hơn thua, nỗi lo không được đón nhận... đã biến thế giới này thành một phòng thi khắc nghiệt : môn thi tài năng, môn thi địa vị, môn thi sắc đẹp..., và môn khắc nghiệt nhất là môn thi nhân cách...
Con người dường như không thể bỏ đi bệnh "làm toán". Con người muốn chấm điểm bản thân mình và chấm điểm người khác, thứ chấm điểm chẳng bao giờ công bằng; vì người ta luôn rơi vào tình trạng nhân cách yếu : khoan dung cho mình mà lại đòi hỏi người khác. Khi người ta được lợi trong bài toán bất công, người ta muốn cuộc đời là một phòng thi. Đó là thái độ của người giầu, người ưu tuyển. Chỉ khi người ta rơi vào tình trạng bất lợi, bị vùi dập, bị chà đạp, bị loại bỏ... thì người ta mới dễ nhận ra nỗi khao khát về một "phòng khám bệnh trong cuộc đời"... Đây lại là tâm tình sâu xa của những thân phận nghèo.
Mt 9,10-13 : "Khi Đức Giê-su đang dùng bữa tại nhà ông ấy, có nhiều người thu thuế và tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ. Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu nói với các môn đệ Người rằng : "Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế, và quân tội lỗi như vậy ?" Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói : "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này : 'Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi."
Trong cuộc đua của cuộc đời, con người được/bị đặt vào thế cạnh tranh. Cuộc đời không còn là phòng khám, mà hình như cũng không còn là một cuộc thi sát hạch, mà là bầu khí của một cuộc thi tuyển. Sự tiến bộ của người khác luôn hàm chứa nguy cơ bản thân mình bị loại bỏ. Có một diễn viên sáng chói, tôi buộc phải đóng vai phụ; đội bóng mua được một cầu thủ xuất sắc, những cầu thủ khác có nguy cơ phải ngồi ghế dự bị... Công ty nào, tổ chức nào, hiệp hội nào, dòng tu nào, thì cũng luôn cần những con người xuất sắc và xuất sắc hơn nữa, luôn cần những con người tài năng và tài năng hơn nữa... Ở đỉnh cao cuộc đời, luôn là một cuộc chiến không khoan nhượng, cuộc chiến bi đát mà sự sống của người này phải kéo theo cái chết của người khác, sự thăng tiến của người này đòi buộc sự thụt lùi của người khác... Thế giới trên đỉnh cao cuộc đời y hệt cuộc ganh đua của các hoàng tử để được vua cha truyền ngôi...
Trong khi đó, cuộc sống ở đáy cuộc đời lại là một sự chia sẻ sớt chia thông thoáng hơn nhiều. Chị ngã em nâng, lá lành đùm lá rách, tối lửa tắt đèn...., nơi đó sự cảm thông dễ dàng hơn nhiều. Khi sự hiện diện của tha nhân không phải là một sự đe dọa, tha nhân không phải là "địa ngục", bao nhiêu nét dễ thương và đáng thương, của tha nhân lại tỏ lộ rõ ràng hơn bao giờ hết. Lạ lùng hơn nữa, thái độ cúi xuống những thân phận trần trụi lại thường làm nẩy sinh tâm tình thương cảm. Ở cùng đáy cuộc đời, con người bỗng bừng tỉnh khỏi cơn say thăng tiến để tìm khát vọng yêu thương, khát vọng được chấp nhận như một ơn huệ tặng-không.
Nhưng đừng tưởng lầm Kitô giáo là nơi ve vuốt ủy mị làm tiêu tan sức mạnh vươn lên. Đừng tưởng rằng Kitô giáo là thuốc phiện để quên đi nỗi khổ trước mắt và chạy trốn vào một thế giới giả tưởng. Để lặn được xuống tầng sâu của phòng khám, con người cần có, đúng hơn là cần được củng cố trong tình yêu Thiên Chúa, để có một nhân cách mạnh. Nhân cách mạnh chính là : đòi hỏi mình và khoan dung cho người khác. Ngược lại nhân cách yếu là kẻ khoan dung cho mình mà lại đòi hỏi người khác. Người nhân cách mạnh luôn hiểu ra chính mình đã không trung tín làm lời cho đúng với đồng vốn mà mình được lãnh nhận; đồng thời người nhân cách mạnh cũng luôn nhận ra trách nhiệm của mình nơi gánh nặng lịch sử mà anh chị em của mình phải mang vác...
Cuộc đời đã dun dủi Martino vào phòng khám của thế giới. Cuộc sống hằng ngày của Martino loanh quanh ở tầng dưới cuộc đời, gặp gỡ những con người bị bầm dập nhất trong cuộc đời. Nơi tầng dưới cuộc đời ấy, Martino không thi cử với ai cả, không chấm điểm bài thi của ai cả, nhưng gặp được những con người trong câu chuyện đời độc đáo riêng. Ở nơi tầng dưới ấy, Martino, cùng với Chúa, viết thêm những dòng yêu thương vào trang sách đời, tô mầu cho những hình ảnh nhợt nhạt và đóng con dấu hy vọng trên từng trang sách ấy.
6.4 Tìm được đường về
Martino đã bị đẩy vào một tình thế quá dễ dàng trở nên một phạm nhân chứ không phải trở nên một vị thánh. Cuộc đời của Martino có đủ cả những yếu tố của một sự đảo ngược. Martino thiếu thốn bầu khí êm ếm của một gia đình, Martino bị lệch lạc trong nếp sống an cư lạc nghiệp, Martino phải bươn chải từ khi là một đứa trẻ giữa xã hội đầy bất công...
Một ngày kia, Don Juan nói với ông cậu Don Diego: cháu đã không nói với cậu rằng chúng là những đứa trẻ ngoan, không làm phiền toái cho ai sao ?
Don Diego gật đầu : đúng, cháu đã nói như vậy. Nhưng cháu đã không nói rằng những đứa trẻ này có thể thay đổi đời cậu. Căn nhà đã thay đổi hẳn từ ngày có Martino và Jane đến. Đây là nơi vui vẻ hơn bao giờ hết và hai đứa trẻ luôn làm cậu phấn khởi" (Bác Sĩ Tí Hon, trang 23)
Có lẽ không phải Martino đã gồng mình tập nhân đức để có thể chống lại một thứ ích kỷ hẹp hòi. Có lẽ không phải Martino đã sáng suốt để nhìn thấu vấn đề bất công xã hội hoặc vấn đề phẩm giá của người da đen; có lẽ không phải Martino đã nỗ lực sống bác ái để đạt được phần thưởng thiên đàng mai sau; có lẽ hành động và lối sống của Martino không phải là một nỗ lực vượt thoát hoàn cảnh bi đát của đời mình bằng con đường tôn giáo ... Hành trình của Martino không phải là thực hiện một chủ nghĩa anh hùng. Martino đã tìm được đường về với lương tri ngay thẳng, tìm được đường về với phẩm tính "bản thiện" cố hữu trong con người. Nhờ đức Tin, Martino tìm thấy con đường buông bỏ thứ nỗ lực đấu tranh với ai, chống lại những con người nào... Nhờ đức Tin, Martino lặn sâu hơn vào khát vọng yêu thương tận đáy lòng, lặn sâu hơn nữa vào thế giới của Chúa, nơi đó mọi người là anh em với nhau; nhờ đức Tin, Martino có thể hát lên bài ca bác ái, hát lên bài ca vũ trụ, bài ca thuận mệnh, với tất cả an hòa, thanh thản và niềm vui.
Quả thật, "Sau giờ làm việc", bên dưới "kế hoạch thi công",.... còn có một nền tảng sâu hơn đó là tình nghĩa. Tin Mừng của Đức Giêsu mời gọi người tín hữu trở về nền tảng ấy để có thể yêu thương kẻ thù, bởi vì mọi người có cùng một Cha trên trời. Trong cộng đồng nhân loại, đức Tin giúp người Kitô hữu nhận ra trách nhiệm với nhau, trách nhiệm giúp nhau sống trọn phẩm giá làm người, phẩm giá làm con cái Chúa... Không tìm được một mái ấm gia đình, Martino lại có thể tìm thấy gia đình của Chúa còn đó và còn rộng mở hơn; không có được một vị thế xã hội, Martino lại tìm thấy một niềm vui phục vụ cho Chúa nơi những người khó khăn hèn mọn nhất; không so sánh mình với ai, Martino buông bỏ mối ưu tư khẳng định mình để hân hoan đón nhận lòng từ bi thương xót chan hòa của Chúa.
Con người ta tìm cách khẳng định mình, nhưng thường đi lạc đến những nơi sa mạc tình người; bởi vì "thượng tầng" thế giới luôn là một cuộc thi, một cuộc chiến có kẻ thắng người bại. Ngược lại, con đường đi xuống lại là "đường hầm" thông hiệp; nơi đó mỗi con người tỏ lộ một phẩm giá căn bản vô cùng cao quí, một nét duyên lóng lánh đã được Chúa tặng ban mà không ai phải mặc cảm tự ty hay tự tôn. Satan đã cám dỗ nguyên tổ về con đường đi lên, nó hình như vẫn tiếp tục chiêu thức ấy trong xã hội con người.
Con đường "đi xuống" ấy khởi đầu với chiến công vĩ đại nhất của đời người, chiến thắng được chính mình, đúng hơn là chiến thắng được khát vọng hơn thua của lòng mình để có thể hòa giải được với chính mình. Ai đó hòa giải được với chính mình, chấp nhận được con người thật của mình. Martino đã đón nhận cuộc đời, đón nhận số phận, đón nhận địa vị, đón nhận mầu da... không mặc cảm tự ty mà cũng không phải là một phản ứng cường điệu. Martino đã không "cam chịu" một cách nhẫn nhục, mà là tìm lại được phẩm giá cao quý ở dưới chân, phẩm giá đã được Thiên Chúa yêu thương, được Thiên Chúa hy sinh chịu chết để cứu chuộc.
Marrtino tình nguyện xin cha bề trên bán mình làm nô lệ để tu viện có thể trả được nợ nần. Cha bề trên đã không chấp nhận giải pháp ấy, nhưng thái độ của cậu lại gợi ra cho bề trên một giải pháp khác... Martino vẫn được "bán mình", không phải cho một ông chủ đồn điền nào đó, mà là cho ông Chủ của vũ trụ này. Martino được mặc áo Dòng, tuyên khấn và trở thành một tu sĩ chính thức của Dòng Anh Em Thuyết Giáo.
24 tuổi đời, Martino đã tìm được đường về...
Nơi đáy cuộc ấy sao lại phong nhiêu kỳ lạ thế ! cuộc đời Martino thật là một lời chứng sống động hơn hết về huyền nhiệm sự sống nơi địa tầng sâu thẳm.
***
Hóa ra có bao nhiêu người đi lạc.
Hình như thế gian vẫn cứ lầm đường lạc nẻo mãi,
Trong thế gian đó, có tôi,
Kẻ đi lạc trước nhất là chính tôi
Xin Lòng thương xót Chúa khai mở nẻo đường về cho con với.