NHỮNG TRANG TIN MỪNG RA TRÊN CUỘC ĐỜI CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM - PHẦN 1
Đức Bênêdictô XVI, trong tông huấn Verbum Domini, đã triển khai một chiều kích của lời chứng liên quan đến Lời Chúa. Lời Chúa không phải chỉ là một thứ triết lý đẹp, hoặc như một lý thuyết không tưởng, nhưng Lời Chúa là một thực tại người ta có thể sống và là thực lại làm cho người ta sống. Trong nền tảng sâu xa của tín lý, chúng ta hiểu rằng Chúa Cha đã sáng tạo mọi sự trong Ngôi Lời. Ngôi Lời làm người trong đức Giêsu Kitô, Đấng đã loan báo Tin Mừng Nước Trời (Xc. Ga 1, 1-18). Tin Mừng đức Giêsu loan báo không hề xa lạ nhưng am hợp sâu xa với thực chất của con người. Lời Chúa gắn liền với cuộc sống, Lời Chúa khai mở cho cuộc sống và cuộc sống trở nên chứng tá cho Lời Chúa. Lời Chúa được “chú giải” một cách sinh động qua lời chứng của các Kitô hữu, đặc biệt qua lời chứng là cuộc đời các vị thánh.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
__________________
Dẫn Nhập
Đức Bênêdictô XVI, trong tông huấn Verbum Domini, đã triển khai một chiều kích của lời chứng liên quan đến Lời Chúa. Lời Chúa không phải chỉ là một thứ triết lý đẹp, hoặc như một lý thuyết không tưởng, nhưng Lời Chúa là một thực tại người ta có thể sống và là thực lại làm cho người ta sống.
Trong nền tảng sâu xa của tín lý, chúng ta hiểu rằng Chúa Cha đã sáng tạo mọi sự trong Ngôi Lời. Ngôi Lời làm người trong đức Giêsu Kitô, Đấng đã loan báo Tin Mừng Nước Trời (Xc. Ga 1, 1-18). Tin Mừng đức Giêsu loan báo không hề xa lạ nhưng am hợp sâu xa với thực chất của con người.
Lời Chúa gắn liền với cuộc sống, Lời Chúa khai mở cho cuộc sống và cuộc sống trở nên chứng tá cho Lời Chúa. Lời Chúa được “chú giải” một cách sinh động qua lời chứng của các Kitô hữu, đặc biệt qua lời chứng là cuộc đời các vị thánh.
“Tính hỗ tương này giữa Lời và chứng tá phản ảnh cách thế Thiên Chúa dùng để tự thông truyền chính mình trong công cuộc Nhập Thể của Ngôi Lời của Ngài. Lời Thiên Chúa đến với mọi người “qua cuộc gặp gỡ với các chứng nhân đang làm cho Lời nên hiện diện và sống động”.(s. 97)
Đây là một khía cạnh quan trọng trong việc loan báo Tin Mừng ngay nay. Công cuộc tân Phúc Âm hoá gắn liền với việc loan báo Lời Thiên Chúa và Lời Thiên Chúa bộc lộ tính khả tín qua chứng tá của đời sống Kitô hữu.
“…điều quan trọng là mỗi hình thức loan báo phải ghi nhớ trước hết quan hệ nội tại giữa việc thông truyền Lời Chúa và việc làm chứng của Kitô hữu. Chính tính khả tín của việc loan báo tuỳ thuộc vào điều này”. (S. 97)
Trong chiều hướng ấy, chúng ta cùng suy niệm Những Trang Tin Mừng Mở Ra Trên Cuộc Đời Các Thánh Tử Đạo Tại Việt Nam.
Ngày thứ nhất
Thánh Anrê TRẦN AN DŨNG LẠC - Linh mục
(1795 – 1839)
Tin Mừng : Ga 21, 15-19
“Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô : "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?" Ông đáp : "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su nói với ông : "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy." Người lại hỏi : "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không ?" Ông đáp : "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Người nói : "Hãy chăn dắt chiên của Thầy." Người hỏi lần thứ ba : "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?" Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần : "Anh có yêu mến Thầy không ?" Ông đáp : "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su bảo : "Hãy chăm sóc chiên của Thầy. Thật, Thầy bảo thật cho anh biết : lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn." Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông : "Hãy theo Thầy."
Con số của sự thật
1. Con số ba kỳ lạ
Chắc chắn không phải tình cờ mà người Việt Nam chúng ta nói rằng : quá tam ba bận. Con số ba có lẽ được hiểu như một mức độ tạm đủ để có thể khẳng định thực chất của một sự kiện. Một lần thì người ta có thể cho là chuyện ngẫu nhiên; lần thứ hai thì cũng có thể chỉ là một sự trùng hợp, nhưng đã là điều người ta cần phải ghi nhận như một câu hỏi cần phải có câu trả lời; và lần thứ ba chính là một câu trả lời cho câu hỏi ấy.
Chúa Giêsu ba lần bày tỏ cho các môn đệ biết Ngài phải chịu chết, Phêrô ba lần chối Thầy và rồi cũng ba lần khẳng định lòng yêu mến của ông đối với Thầy… Chắc chắn Chúa Giêsu không phải cần phải hỏi Phêrô đến ba lần để tìm câu trả lời đích thực. Nhưng Chúa muốn để cho Phêrô trả lời ba lần, để ông tự xác định với chính mình về lòng yêu mến dành cho Thầy.
Hơn nữa, tình yêu thương thì không phải là một vân đề lý thuyết. Câu trả lời cho tình yêu thương không phải chỉ là một lời nói đúng, mà là một lựa chọn triệt để, lựa chọn hy sinh cuộc đời cho người mình yêu. Điều quan trọng hơn mà Chúa chờ đợi ở Phêrô, đó chính là câu trả lời bằng hành động, bằng lựa chọn sinh tử trong cuộc đời ông. Vì thế, Chúa Giêsu nói với Phêrô :
“Thầy bảo thật cho anh biết : lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn."
Phêrô đã ba lần chối Chúa để lựa chọn sự sống cho mình. Giờ đây, ba lần Phêrô tuyên xưng lòng yêu mến Chúa, để lựa chọn cái cái chết vì Chúa. Từ lời tuyên xưng ba lần yêu mến Chúa, Phêrô bắt đầu một hành trình để “…cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn”.
Ta có thể nói con người cần có con số ba để xác định cho chính mình một sự thật; và khi đã xác nhận được sự thật trong tâm trí - có thể là sự thật của tội lỗi để sám hối, hoặc là sự thật của tình yêu để dám hy sinh mạng sống - con người có thể mạnh mẽ hơn mà thể hiện sự thật trong hành động của mình. Đức Giêsu đã dẫn Phêrô theo tiến trình ấy; và cuộc đời cũng như cuộc tử đạo của thánh An-rê Dũng Lạc cũng trải qua diễn biến của nhiều sự xác nhận ba lần như thế.
2. An-rê Dũng Lạc, con người của sự thật
Cậu Dũng Lạc sinh ra trong một gia đình ngoại giáo ở Bắc Ninh, theo cha mẹ vào Kẻ Chợ. Vì nhà nghèo, cậu được trao cho một thày giảng nuôi dưỡng. Rồi Dũng Lạc xin theo đạo, đây là một lần cậu chọn Chúa. Lần thứ hai cậu Dũng Lạc chọn Chúa khi quyết định xin vào chủng viện Vĩnh Trị, siêng năng cần mẫn trong việc học và tận tuỵ trong sứ mạng linh mục. Lần thứ ba ngài chọn Chúa trong sự sẵn sàng đón nhận cái chết. Sự thật của niềm tin được sáng tỏ hơn và được xác định rõ nét hơn qua mỗi bước lựa chọn.
Trong cuộc tử đạo, linh mục An-rê Dũng Lạc cũng trải qua ba lần đối diện với nguy cơ bị bắt. Lần đầu khi cha đang dâng lễ ở Kẻ Roi, bị quân binh ấp tới, cha mau chóng cởi áo lễ rồi ngồi lẫn trong đoàn tín hữu và thoát nạn. Lần thứ hai, cha Dũng Lạc bị bắt khi đến Kẻ Sông để xưng tội với cha Thi. Lần này, các tín hữu góp được 100 quan để chuộc được cha. Nhưng rồi lần thứ ba, ngay khi được chuộc, trên đường về, cha vào một căn nhà để trú mưa và lại bị bắt. Lần này, cha Dũng Lạc cũng được đức cha Retord Liêu cùng với giáo hữu tìm cách để chuộc ra. Tuy vậy, lần này cha Dũng Lạc hiểu ra được ý Chúa, cha nhắn với đức cha Liêu về câu chuyện thánh Phêrô hai lần thoát khỏi ngục; đến lần thứ ba, Chúa yêu cầu Phêrô ở lại chịu tử đạo tại Rôma… Cha Dũng Lạc nhận ra chân lý đời mình trong câu chuyện của thánh Phêrô, cha xin đức cha Liêu các tín hữu đừng lo liệu tiền để chuộc nữa.
Nếu suy diễn thêm một chút, ta lại có thể thấy con số của sự thật ấy vẫn làm nên một nhịp điệu căn bản trong cuộc đời cha Dũng Lạc. Sự thật được xác định với con số ba; thì sự thật cũng biểu lộ một cách chắc chắn trong con số ba ấy. Đức tin nơi Cha Dũng Lạc được biểu lộ một cách hết sức trọn vẹn trong lòng trung tín với Chúa, trong sự an hoà với bản thân, và trong lòng nhân ái với người khác. Cả ba khía cạnh ấy biểu lộ một sức sống chân thật của một niềm tin chân chính.
Trong tù, An-rê Dũng Lạc, cùng với cha Thi, vẫn trung tín với Chúa trong việc giữ giờ cầu nguyện sáng tối và giữ chay các ngày thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu và thứ Bẩy. Trong tù, An-rê Dũng Lạc và cha Thi biểu lộ lòng bác ái chân thật đối với những người lính canh. Được quà tiếp tế, hai cha chia hết cho lính canh, chỉ giữ lại phần tối thiểu để dùng. Trong tù, An-rê Dũng Lạc vẫn an vui với bản thân mình. Cha làm thơ và lời thơ biểu lộ một tâm hồn hóm hỉnh, an lạc với lựa chọn của mình :
"Lạc rầy đã rõ chốn quan quân
Bút chép thơ này gửi thở than
Lòng nhớ bạn nỗi còn vất vả
Dạ thương khách chạy chữa yên hàn.
Đông qua tiết lại thời Xuân đến
Khổ trảm mai sau hưởng phúc an.
Làm kẻ anh hùng quản chi khó
Nguyện xin cùng gặp chốn thiên đàng”
Mỗi vị thánh là một cách biểu lộ lời chứng đức tin khác nhau. Chứng tá đức Tin của thánh An-rê Dũng Lạc được biểu lộ trong sự an hoà, phong phú, chân thật đặc biệt. Không ai có thể vu cáo đức tin của Dũng lạc là cuồng tín, là ngu dốt, là bị dụ dỗ, hoặc chỉ là một chủ nghĩa anh hùng mang tính con người.
3. Sự thật là chính Chúa Giêsu
Chúa Giêsu đã từng nói :
“Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào. (Ga 10,10)
Đời sống Tin Kitô giáo không phải là một sự méo mó, lệch lạc, khô khẳng. Đức Giêsu không phải là kẻ trộm làm cho đoàn chiên bị giết hại và phá huỷ. Đức Tin Kitô giáo không phải là thuốc phiện làm cho người tín hữu bị mê hoặc một cách dở dở ương ương; đức Tin Kitô giáo không phải là tinh thần bi quan yếm thế, tự an ủi mình khi chấp nhận thua cuộc trong cuộc sống… Đức Tin Kitô giáo là sống sự sống của đức Giêsu Kitô trong Thánh Thần. Sự sống của đức Kitô tràn trề tự do, biểu lộ uy quyền, đưa đến những kết quả phong phú. Phẩm chất của sức sống ấy biểu lộ trong sức sống chân thực của tình yêu; không phải tình yêu điên loạn, mà là thứ tình yêu được xác nhận trong chân lý.
Ngày thứ hai
Thánh Ignatiô DELGADO Y - Giám mục dòng Đaminh
(1762-1838)
Tin Mừng : Ga 10,11-15
“Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”.
Gắn bó với Vị Mục Tử Nhân Lành
1. Không hẳn là một nhân đức luân lý
Tính tình của mỗi người là một điều kỳ diệu; kỳ diệu vì người ta không thể hoàn toàn căn cứ vào những sự kiện thực nghiệm, hoặc theo di truyền, hoặc do ảnh hưởng của môi trường xã hội, để giải thích tính tình một con người. Cha ông ta đã có lý khi nói rằng : cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Con người không được tự do lựa chọn tính tình.
Thêm vào đó, môi trường giáo dục cũng góp một yếu tố quy định con người. Con người cũng không được tự do lựa chọn môi trường giáo dục cho chính mình. Khi ai đó mong muốn, hoặc khao khát, hoặc quyết tâm sửa đổi bản thân mình, thì người ấy sẽ có lúc nhận ra rằng mọi sự như thể đã quá muộn rồi.
“Tôi chính là Mục Tử nhân lành”. Nếu ta hiểu sự nhân lành của Chúa như là một thái độ tâm lý, hoặc như một nhân đức luân lý; nhân lành là không tức giận, không la mắng, không phiền trách ai, ai làm sao cũng được…, thì ta mới chỉ nhận ra những phẩm tính thuộc về tính tình và giáo dục.
Delgado Y là một con người có nhiều may mắn trong cuộc đời. Ngài có được một tuổi thơ đạo đức nhờ tính tình tốt lành, nhờ giáo dục gia đình và nhờ sự giáo dục của nhưng chị nữ tu Xitô. Tuy còn trẻ, ngài đã nổi tiếng về tài năng và nhân đức. Ngài lãnh nhận chức giám mục khi mới 33 tuổi. Ngài đã là một vị mục tử khôn ngoan và nhiệt thành trong suốt thời gian Giáo hội Việt Nam được yên ổn dưới thời vua Gia Long… Nhưng nếu coi những đức tính thuộc về tính tình và giáo dục của Delgado Y như là nền tảng của hành trình nên thánh, người ta có thể ngưỡng mộ ngài, mà lại không được tăng thêm lòng tin tưởng về bản thân còn nhiều khuyết điểm của mình.
2. Ơn Cứu độ của Thiên Chúa
Chúa Giêsu không có những đức tính hiền lành như người ta tưởng. Trong Tin Mừng, ta không thấy được một đức Giêsu hiền lành. Đức Giêsu có những lần tức giận, có những lần la mắng người biệt phái và các nhà thông luật nặng lời, và có cả lần đã dùng giây thắt lưng làm roi để đánh đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ (Xc. Ga 2,13-16)…
Đức Giêsu khẳng định “Tôi là Mục Tử nhân lành”; và Ngài cho ta thấy tiêu chuẩn của một lòng nhân lành thực sự chính là : “…hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”. Đức Giêsu cho ta thấy điều cuối cùng quan trọng nhất của một con người, điều có khả năng hoàn thành một cuộc đời, không phải là sự hiền lành tâm lý hay nếp sống đạo đức của một người có giáo dục, mà chính là một lựa chọn hy sinh bản thân vì tình yêu. Đức tính hiền lành, một nền giáo dục tốt vẫn không đủ để con người có thể hoàn thành cuộc đời mình một cách trọn vẹn trong tình yêu. Chỉ có tình yêu lớn nhất, tình yêu lớn hơn mọi tình yêu của đức Giêsu mới có thể thôi thúc con người chọn con đường hy sinh mạng sống cho người mình yêu.
Đúng là con người bị đè nặng do những gì mình đã làm và cả do những gì mình phải chịu trong quá khứ. Con người khao khát được tự do, nhưng thực tế lại luôn bị trói buộc. Thế nhưng, những gì con người không thể làm được, thì không phải là Thiên Chúa cũng không làm được. Thiên Chúa có một cách để “sửa tính tình”, để “giáo dục”, đó là phương cách của tình yêu. Tình yêu là điều không bao giờ dư thừa trong đời sống con người. Có thêm phẩm chất yêu thương, con người có khả năng tìm được một sinh lực mới, đảm nhận tất cả những khó khăn của tính tình, tất cả những hệ luỵ của hoàn cảnh, để thực hiện cuộc đời mình một cách tốt đẹp hơn. Tình yêu và nhất là tình yêu vị tha Kitô giáo, có khả năng làm nên nét duyên của một con người nóng nẩy, làm nên nét duyên của một con người ít có văn hoá, nét duyên của những người lớn lên với những bài học vũ lực ở nơi xóm lao động…
Tình thương lớn lao của Chúa có thể thay đổi được tất cả, làm cho tất cả những gánh nặng của quá khứ, gánh nặng của tính tình, gánh nặng của hoàn cảnh… lại mặc được một nét duyên và làm cho cuộc đời ấy trở nên một tác phẩm nghệ thuật. Chúa Giêsu không chỉ rao giảng những lời hay lẽ phải; Chúa Giêsu không chỉ tỏ bày quyền năng chữa bệnh cho những người hèn mọn; Chúa Giêsu không chỉ động lòng xót thương những con người đang đau khổ… Chúa Giêsu còn nhất quyết phải chịu một “Phép Rửa”, đó là cái chết, để trao ban một tình yêu lớn hơn mọi tình yêu. Con đường cứu độ của Chúa là con đường cứu độ bằng tình yêu, một tình yêu lớn lao nhất.
3. Gắn bó với vị Mục tử Nhân lành
Cuộc đời tốt lành của đức cha Delgado Y sẽ chẳng hoàn tất như một vị tử đạo, nếu không có hình bóng vị Mục Tử Nhân Lành là chính thầy Giêsu trong tâm hồn.
Khi khởi đầu cuộc tử nạn, Thầy Giêsu đã bộc lộ lòng quan tâm đến các môn đệ hơn là sự an toàn của mình.
Đức Giê-su nói : "Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi."( Ga 18,8)
Đức cha Delgado Y cũng đi vào cuộc tử nạn với những phẩm chất cứu độ như Thầy Giêsu, phẩm chất nhân lành, phẩm chất hy sinh mạng sống vì người khác. Đức cha được những người tín hữu khiêng trên võng để trốn, vì ngài đã 76 tuổi. Khi quân lính bắt được đức cha, viên quan hỏi : Ông từ đâu đến ? Đức cha đáp : tôi từ nơi khác mới đến làng này, họ chẳng liên quan gì đến tôi.
Đức cha Delgado Y chịu tử đạo không phải bằng gươm đao, nhưng là một cuộc hành hạ khốn cực lâu dài. Quân lính nhốt đức cha 43 ngày trong một cái cũi nhỏ bé, đặt ở cửa Tây của thành Nam Định. Trong lúc hỏi cung, quân lính sỉ nhục, chửi bới, nhổ nước bọt vào ngài. Sau những giờ hỏi cung, họ đem cũi đức cha ra phơi nắng ban ngày để ngài phải chịu thiêu; và phơi sương ban đêm để ngài phải lạnh cóng… Thế mà, ngoài những lời khai về lý lịch bản thân, đức cha không hề tiết lộ một người nào hay một vùng đất nào liên hệ với mình.
Trong nỗi khổ cực ấy, đức cha vẫn nói với quan :… xin quan cứ dẫn tôi về triều đình, nếu vua muốn nướng thịt tôi mà ăn thì tôi cũng chịu… xin đừng để lâu kẻo quân lính trông coi vất vả…
Một cuộc đời hiền lành, được gắn bó với Vị Mục Tử Nhân Lành, để được hoàn tất như một mục tử nhân lành, đó là cuộc đời thánh tử đạo Delgado Y.
Ngày thứ ba
Thánh Micae HỒ ĐÌNH HY - Quan Thái bộc
(1808 – 1857)
Tin Mừng : Ga 13,36-38
“Ông Si-môn Phê-rô nói với Đức Giê-su : "Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy ?" Đức Giê-su trả lời : "Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được ; nhưng sau này anh sẽ đi theo." Ông Phê-rô thưa : "Thưa Thầy, sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được ? Con sẽ thí mạng con vì Thầy !" Đức Giê-su đáp : "Anh sẽ thí mạng vì Thầy ư ? Thật, Thầy bảo thật cho anh biết : gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần”.
Bức tranh của Chúa
1. Ánh sáng và bóng tối
Phêrô là một con người bốc đồng, biết bao lần ông đã mau mồm mau miệng đáp lại lời Chúa, bộc lộ lòng nhiệt thành và dũng cảm, nhưng rồi ngay sau đó là một sự yếu đuối và ngu dốt. Ông đã tuyên xưng đức Giêsu là Chúa, rồi ông lại bị Chúa quở trách là satan khi cản trở chương trình của Chúa (Xc. Mt 16, 13-23). Ông đã xin được đi trên mặt nước mà đến với Thầy, rồi lại yếu lòng và hoảng sợ ( xc. Mt 14, 28-31)… Nhưng có lẽ lần này là một biến cố đau thương nhất đối với ông. Phêrô đã tuyên bố thật mạnh mẽ : "Thưa Thầy, sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được ? Con sẽ thí mạng con v́ Thầy !". Rồi chúng ta biết, sau đó ông bộc lộ một sự nhát đảm tệ hại, ông hoảng sợ chối Thầy cả với một người hầu gái…
Cuộc đời của Phêrô được dệt nên từ những sự kiện mâu thuẫn của một con người bốc đồng như thế. Cuộc đời ông có cả ánh sáng và bóng tối, có cả đức Tin và sự nhát đảm, có cả một lòng nhiệt thành hăng say và cả một sự yếu nhược tầm thường.
Tuy vậy, con người Phêrô, với tính cách bốc đồng, bộc trực của ông, trong cả những tỳ vết của sự sự hèn nhát và yếu đuối cũng như trong ánh sáng của lòng nhiệt thành và niềm tin…; với tất cả những chất liệu ấy, Thiên Chúa đã vẽ nên bức tranh tuyệt đẹp về một con người, về một cuộc đời, về một vị thánh. Thay vì xăm soi những lỗi lầm, hoặc vinh vang vì một chút công đức, có lẽ điều quan trọng nhất trong cuộc đời là nhìn mỗi con người, mỗi cuộc đời như một bức tranh, có ánh sáng và bóng tối, một bức tranh đang được nét cọ điêu luyện của Thiên Chúa tô vẽ và hoàn tất một cách diệu kỳ.
2. Con người, ôi bao la sâu thẳm !
Giống như cuộc đời thánh Phêrô, cuộc đời của thánh Hy có đủ cả lỗi lầm và đức độ, vinh quang và nhục nhằn. Khi làm quan Thái Bộc, ông đã ngoại tình với một phụ nữ trẻ và đã có ba đứa con ngoài hôn nhân. Trong tù, khi bị tra tấn quá đau, tội nhân Hồ Đình Hy đã khai báo một vài tên tuổi người công giáo. Dựa vào lời khai đó, quan đã bắt được thêm 29 người công giáo khác… mặc dù đó là chỉ do sai lầm chủ quan, vì ông tin rằng những người đó đã trốn được xa rồi…
Nhưng thánh Hy cũng có những phẩm tính nổi bật của một bậc quân tử. Quan Hồ Đình Hy là một vị quan thanh liêm, cương quyết không nhận hối lộ; một vị quan yêu thương và luôn sẵn sàng giúp đỡ những người nghèo. Quan Hồ Đình Hy cũng can đảm làm bàn thờ Chúa nơi trang trọng trong nhà, và hết lòng với công việc của Giáo hội.
Quan Hồ Đình Hy đã có được đủ vinh quang trần thế; để rồi cuối cùng, lại phải chịu một cái chết đầy sự sỉ nhục đau đớn lớn lao hơn hết. Bản án của vua về quan Hồ Đình Hy như sau : "Ta hạ lệnh cho năm quan triều đình và 15 binh sĩ dẫn y đi vòng quanh thành nội ba ngày. Khi đi ngang qua chợ và nơi công cộng, phải rao tội nó lên cho dân biết… Hơn nữa, tại mỗi ngã ba đường, ta truyền đánh thêm 30 trượng. Sau ba ngày như thế thì chém đầu nó. Có thể bọn Gia Tô sẽ lấy làm tủi nhục mà lo sửa mình".
Cái vinh quang trần thế được nhà vua ban thì lại kết thúc trong tủi nhục; còn những lỗi lầm với Thiên Chúa thì lại được hoán chuyển thành lòng sám hối và trở nên nguồn sức mạnh. Quan Hy nói với Vua : “Hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Đức Kitô, đền bù tội lỗi và chết thánh thiện".
Những lời tâm sự cuối cùng của quan Hồ Đình Hy cho thấy sự mong manh yếu đuối của phận người : "Tôi thấy đời tôi sắp tận số rồi, chỉ mong sao giữ vững được đức tin đến giờ phút cuối đời". Nhưng chính vì thế mà ơn Chúa lại biến cuộc tử đạo của ngài trở nên một lời chứng rõ rệt hơn hết về sức mạnh của Thiên Chúa. Vì ông là một vị quan nổi tiếng, nên quân lính cũng đành cho ông chút đặc ân cuối cùng : Ông thong thả rửa chân tay, rồi ngồi xếp bằng trên chiếu, bình tĩnh hút hết một điếu thuốc. Sau đó, ông đứng lên, thật bình thản sửa soạn lại đầu tóc, y phục cho chỉnh tề, rồi sốt sắng qùy gối cầu nguyện… Hai linh mục Việt Nam ẩn trong đám đông ra dấu ban phép Giải tội cho ông. Cuối cùng, ông đưa đầu cho lý hình thi hành phận sự.
Cuộc đời như trò đùa ác độc, chợt cho vinh quang, chợt bắt tủi nhục. Cũng như một lúc nào đó người ta tưởng mình cao cả lắm, rồi bỗng chốc lại nhận ra mình tầm thường và yếu nhược biết bao… Cuộc sống trêu chọc con người trong việc trộn lẫn thực tại và ảo mộng, khiến người ta luôn có những ảo tưởng không đúng thực về bản thân mình. Cuộc đời chẳng khác gì lời quân dữ ngày xưa đã trêu chọc đức Giêsu; chẳng khác chi những lời nhạo báng của quan quân trong cuộc hành hình thánh Hy : “Bọn Gia Tô tin rằng chết vì đạo sẽ được phúc Thiên Đàng. Điều đó đúng hay sai không ai biết. Giêsu của Hồ Đình Hy đâu rồi, sao thấy y khổ mà không đến cứu ?"
Nhưng đâu là ảo mộng, đâu là thực tại, chỉ có cái chết mới minh chứng được; và cái chết trong niềm tin có khả năng làm lộ ra ý nghĩa cuối cùng, ý nghĩa chân thực của một cuộc đời. Cái chết lành thánh của Hồ Đình Hy là một câu trả lời cho trò đùa trần gian; cái chết ấy làm lộ ra một lịch sử ơn cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện trong hành trình cuộc đời của ngài.
3. Phần thưởng cho con người trung tín
Con người vốn là một huyền nhiệm. Bức tranh con người luôn có cả ánh sáng và bóng tối; hành trình đời người vẫn luôn có những sai sót, lỗi lầm…Thiên Chúa không chờ đợi con người vẽ xong bức tranh của mình để Ngài chấm điểm. Thiên Chúa nhập cuộc vào huyền nhiệm ánh sáng và bóng tối của đời người. Tình yêu và ơn cứu độ của Thiên Chúa không phải là món hàng xa xỉ phẩm mà chỉ có những con người ưu tuyển mới mua lấy được. Tình yêu và ơn cứu độ của Thiên Chúa là món quà tặng-không, món quà được trao tận tay những người yếu đuối và tội lỗi nhất. Thiên Chúa nhập cuộc để đồng hành với con người, trong tình trạng nhập nhằng giữa bóng tối và ánh sáng. Thiên Chúa hoàn tất bức tranh dở dang của đời người bằng tài năng điêu luyện của Ngài. Chỉ cần một điều kiện duy nhất để lãnh nhận món quà của Thiên Chúa, đó là lòng trung tín. Không phải Ngài đòi hỏi một lòng trung tín anh hùng, đến độ không bao giờ bất trung, nhưng Ngài chỉ cần một lòng trung tín của những người đã ngã rồi biết chỗi dậy; ngã nữa và lại ngã… nhưng bao giờ cũng lại biết chỗi dậy. Chỗi dậy để lãnh nhận món quà quí báu của Chúa, món quà ơn cứu độ, và để cho nét cọ của Thiên Chúa hoàn tất bức tranh cuộc đời mình.
Ngày thứ tư
Thánh Matthêu LÊ VĂN GẪM - Thương Gia
(1813 – 1847)
Tin Mừng Lc 16, 1-13
“Đức Giê-su còn nói với các môn đệ rằng : "Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. Ông mới gọi anh ta đến mà bảo : 'Tôi nghe người ta nói gì về anh đó ? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa !' Người quản gia liền nghĩ bụng : 'Mình sẽ làm gì đây ? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ !'
"Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất : 'Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy ?' Người ấy đáp : 'Một trăm thùng dầu ô-liu.' Anh ta bảo : 'Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi.' Rồi anh ta hỏi người khác : 'Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy ?' Người ấy đáp : 'Một ngàn giạ lúa.' Anh ta bảo : 'Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi.'
"Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.
"Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn ; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn. Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em? Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em ?
"Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được."
Thánh Matthêu của người Việt
1. Sức mạnh của tiền bạc
Người Do thái cho rằng tiền bạc luôn gắn liền với bất chính. Quan niệm ấy không phải là không có lý. Nếu nhìn vào cuộc đời ở tầng sâu, ta sẽ nhận ra cuộc đời thật sự là một biển bất công, bất công từ thời trước để lại cho thời sau; bất công từ nơi này lây lan đến nơi khác. Mảnh đất ta đang sống và làm việc một cách liêm chính, thật ra đã là một mảnh đất bị chiếm đoạt một cách bất công từ bao đời trước. Tài năng và địa vị ta có được, thật ra cũng có phần đóng góp của cha mẹ và anh chị em mà không bao giờ ta có thể trả lại cho đủ; anh chị em trong nhà, có người phải đóng góp nhiều hơn cho gia đình, có người được thuận lợi để học hành; công việc ta đang làm thật ra có phần tài chính của một ông chủ nào đó, và phần tài chính đó không hẳn là không có bất công…
Ai đó nghĩ rằng tài năng là của tôi, đức độ là của tôi, địa vị của tôi, tiền bạc của tôi,… và an ổn với đời sống của mình; ai đó xử dụng tài năng, đức độ và tiền bạc của mình chỉ để vun quén cho bản thân mình, mà không thấy trách nhiệm chia sẻ, liên đới, đóng góp với đời, người ấy vẫn trầm mình trong dòng chảy miên man của bất công. Đừng tưởng rằng ta không man trá như người quản gia bất lương kia thì ta đã là người công chính rồi. Không phải thế, điều quan trọng hơn là ta có dám dùng tiền bạc, dù tiền bạc kiếm được bằng cách nào đi nữa, để xây dựng tình người, để mua lấy bạn hữu, hay không.
Dụ ngôn của Chúa Giêsu chắc chắn không phải là lời khuyến khích tính gian dối của người quản lý bất lương, nhưng nhằm khẳng định ý nghĩa cuối cùng của tiền bạc. Cuối cùng, tiền bạc chỉ hoàn thành được ý nghĩa khi được dùng để xây dựng tình nghĩa; và đó mới là ý nghĩa sứ điệp của Tin Mừng đức Giêsu.
Thương gia Lê Văn Gẫm đã từng lao đầu vào công việc kinh doanh, và chắc hẳn đã không thoát khỏi cám dỗ tinh vi của tiền bạc. Tiền bạc bất chính đưa đến tình nghĩa bất chính, nên ông đã một lần trượt ngã. Ông đã theo đuổi và ngoại tình với một cô gái không phải vợ của mình. Tuy vậy, thương gia Gẫm lại có được nghĩa khí của một người có tiền. Ông biết dùng tiền bạc bất chính để mua lấy bạn hữu đích thực, ông đóng góp tiền của và công sức vào công việc loan truyền đức Tin. Đó là ngõ mở cho cuộc đời vị thánh thương gia.
“hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu
2. Cuộc đời như một mạng lưới
Thế giới con người không đơn giản chút nào, tương giao xã hội không đơn giản, tâm hồn mỗi con người cũng không đơn giản... Cuộc sống ấy là một mạng lưới mà mỗi lần ai đó muốn có một quyết định tự do, thì lại là một lần có nguy cơ bứt giây động rừng. Ai đó đã một lần làm người, một lần bước vào thế giới phức tạp của cuộc sống xã hội… thì đều có kinh nghiệm về một mạng lưới liên lụy chằng chịt, giây mơ rễ má, không khác gì mạng lưới xã hội đen như thế. Một lựa chọn nào đó cũng đều kéo theo bao nhiêu hệ lụy. Để có một quyết định thay đổi cuộc đời, để thực hiện được một hành trình sám hối, con người phải hết sức nhẫn nại, nhẫn nại gỡ bỏ những mối liên hệ quen thuộc, gỡ bỏ những thói quen ăn sâu vào nếp nghĩ, gỡ bỏ những tâm tình đã trở thành quán tính…. Chính vì thế mà không ít người, mặc dù có ý định đổi đời, dù đã có nhiều quyết tâm sám hối… vẫn không thoát được sự xô đẩy nghiệt ngã của những qui luật trần gian.
Tuy nhiên, chính trong mối liên hệ chằng chịt ấy, con người mới nhận ra được rằng mình không thể tự giải thoát cho mình được. Con người cần được cứu, đó là nhận thức khai mở cho hành trình đức tin. Người nào nhận ra được rằng, bên trong dáng vẻ ung dung của mình, bên trong nếp sống thành đạt của mình, bên trong những quyết định có vẻ tự do của mình,… vẫn có đó những mối giây ràng buộc ẩn dấu; vẫn có đó những xô đẩy khó chống cưỡng, vẫn có đó một thực trạng bị nô lệ. Chỉ người nào nhận ra mình bị trói buộc thì mới nhận ra mình cần được cứu; chỉ người nào nhận ra mình không thể tự cứu mình, thì người ấy mới nhận ra mình cần được nối kết vào một mạng lưới khác, mạng lưới của ân sủng. Cuộc đời thánh Gẫm cho ta nhận ra một manh mối của ơn cứu độ.
“Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn”.
Trong mạng lưới nhện của cuộc đời, đức Tin mời gọi ta tỏ bày một chút thiện chí, thực hiện một chút nghĩa khí. Những việc nhỏ nhoi ấy được Thiên Chúa đón nhận, và chúng trở nên như “một chút tóc” còn lại để Thiên Chúa nắm lấy. Thiên Chúa chỉ cần một chút gì đó, một bàn tay giơ ra, một lời kêu cứu, một ánh mắt khẩn nài, một chút ý hướng ngay lành, một thái độ nghĩa khí nào đó…thế là hành trình dính dáng vào mạng lưới siêu nhiên của Chúa cũng được đan bện, mỗi ngày mỗi bền chặt hơn… Hành trình của ơn cứu độ đã bắt đầu như thế.
3. Canh bạc cuối cùng
Rồi Thiên Chúa sẽ mời gọi con người đi đến một canh bạc cuối cùng, canh bạc cuộc đời. Chúa mời gọi Matthêu Gẫm đến một áp-phe lớn nhất trong cuộc đời : đánh đổi cuộc đời mình để mua lấy nước Trời.
“Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được."
Đức Giêsu đã so sánh cuộc đời con người, không phải với hoa, nhưng với hạt lúa. Bông hoa thì thu hết sinh lực của cây, để biến thành hương thơm, thành sắc thắm, và thu hút bướm ong tìm đến với mình. Hạt thì ôm lấy sự sống trong bản thân mình, bao bọc mầm sống trong dáng vẻ tầm thường nhưng vững vàng của mình. Cuộc đời của hạt không còn là khoe sắc khoe hương, mà là lấy chính sức sống của bản thân để nuôi mầm sống bên trong. Cuộc đời con người có những lúc được làm hoa. Thực ra có những cuộc đời được làm hoa sang trọng và rực rỡ; có những cuộc đời khác thì chỉ có thể làm những cánh hoa dại tầm thường; và có những cuộc đời khác nữa thì còn chẳng có được giây phút nào đáng để gọi là làm hoa cả. Tuy nhiên, dù có làm hoa hay không, dù làm hoa đẹp hay hoa tầm thường, cuộc đời của cây luôn hướng tới hạt. Tầm quan trọng nhất của cuộc đời cây hệ tại hạt giống của mình. Với con người cũng vậy. Có một canh bạc cuối cùng, canh bạc quyết định sự thành đạt của một cuộc đời. Đó là canh bạc mà con người được kêu gọi để ra khỏi đời mình, đánh đổi đời mình cho sự sống của ai khác, trở nên hạt lúa thối đi, để có thể giữ được mạng sống của mình ở đời sau.
Thánh Matthêu Lê Văn Gẫm đã được Chúa dẫn dắt đi vào hành trình cứu độ; hành trình đó hướng tới thương vụ cuối cùng, canh bạc cuối cùng : bán chính cuộc đời trần thế của mình để mua lấy Nước Trời. Thánh Gẫm đã hoàn thành cuộc đời, hoàn thành thương vụ ấy một cách tốt đẹp.