NHỮNG TRANG TIN MỪNG RA TRÊN CUỘC ĐỜI CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM - PHẦN 2 (PHẦN CUỐI)

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Thánh Đaminh PHẠM TRỌNG KHẢM, Quan án (1780-1859) Thánh Giuse PHẠM TRỌNG TẢ, Chánh tổng (1800-1859) Thánh Luca PHẠM TRỌNG THÌN, Chánh tổng (1820-1859) Tin Mừng : Lc 11, 27-28 “Khi Đức Giê-su đang giảng dạy, thì giữa đám đông có một người phụ nữ lên tiếng thưa với Người : "Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm !" Nhưng Người đáp lại : "Đúng hơn phải nói rằng : Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa."

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

Ngày thứ năm

Thánh Đaminh PHẠM TRỌNG KHẢM, Quan án (1780-1859)

Thánh Giuse PHẠM TRỌNG TẢ, Chánh tổng (1800-1859)

Thánh Luca PHẠM TRỌNG THÌN, Chánh tổng (1820-1859)

Tin Mừng : Lc 11, 27-28

“Khi Đức Giê-su đang giảng dạy, thì giữa đám đông có một người phụ nữ lên tiếng thưa với Người : "Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm !" Nhưng Người đáp lại : "Đúng hơn phải nói rằng : Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa."

Phúc cho những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa

1. Máu huyết và đức tin

Đối với đời sống con người, gia đình là tổ ấm, gia đình là ý nghĩa cuộc đời, gia đình là động lực để sống và làm việc, gia đình là nơi gìn giữ những tình cảm thân thương nhất… Kitô giáo khẳng định việc con người sống với nhau thành gia đình chính là ý định của Chúa chứ không phải là một thành quả tình cờ, ngẫu nhiên của lịch sử. Ý định của Thiên Chúa về đời sống gia đình là để cho con người được sống và được kinh nghiệm về tình yêu trong gia đình, và nhờ đó mà cũng hiểu được phần nào tình yêu của Thiên Chúa, bởi vì chính Thiên Chúa Cha là nguồn gốc của mọi tình nghĩa gia tộc trên trời dưới đất :

“Vì lý do đó, tôi quỳ gối trước mặt Chúa Cha, là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất”. (Ep 3,14-15)

Hơn nữa, con người lãnh nhận rất nhiều điều từ gia đình, từ truyền thống của gia tộc, lễ nghĩa của ông bà tổ tiên cho đến những điều kiện sống cụ thể trong xã hội; con người lãnh nhận nơi cha mẹ từ giọng nói đến thói quen, từ tính tình cho đến cả bệnh tật; và hơn hết, con người lãnh nhận từ cha mẹ một thứ tình thương trọn vẹn nhất trong trần gian, thứ tình thương tiến sát gần tới tình yêu “hy sinh mạng sống vì bạn hữu” (Xc. Ga 15,13) mà đức Giêsu đã nói.

Nơi gia đình, con người được sống khát vọng hiệp thông sâu xa, vì gia đình là nơi con người được chấp nhận bản thân và biết chấp nhận chính bản thân của người khác. Nơi gia đình, con người được sống khát vọng “thuộc về nhau”. Bởi lẽ đó, sự thành công hay thất bại của một con người cũng dính dáng đến thành công hay thất bại của gia tộc, của cha mẹ, của anh chị em…

Gia tộc Phạm Trọng hẳn là một gia tộc hiếm có, vừa danh giá, vừa giầu có, lại vừa đức độ. Cụ Đaminh Phạm Trọng Khảm làm quan triều đình, lại là người đầy lòng nhân ái và đạo đức. Ông Giuse Phạm Trọng Tả là anh em thúc bá với cụ Khảm đã từng là cai tổng. Ông Luca Phạm Trọng Thìn, con của cụ Khảm, khi bị bắt vì đạo, đang giữ chức cai tổng. Đọc lại lịch sử cuộc đời các thánh trong gia tộc Phạm Trọng, chắc hẳn nhiều người cũng muốn thốt lên lời của người phụ nữ trong Tin Mừng : "Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm !"

Thế nhưng không phải ai cũng có được một gia tộc đáng tự hào; không phải ai cũng có được một gia đình êm ấm. Nếu ta nói được về phúc lộc của gia đình tốt đẹp; thì ta nói làm sao với những người bị vùi dập cả cuộc đời cũng vì gia đình ? Mặt khác, chính đời sống gia đình tốt đẹp như thế cũng không tránh khỏi những vết bẩn vì bản chất bất toàn của con người, những vết đen tạo nên nguyên cớ cho tội phạm. Có khi người ta đóng kín cuộc đời mình với những người thân trong gia đình một cách ích kỷ; cũng có khi, vì gia đình, người ta trở thành tội phạm. Các quốc gia châu Á vốn rất nặng tình nghĩa gia đình, và tình nghĩa ấy cũng góp phần tạo nên tệ trạng tham nhũng nặng nề trong những quốc gia Á châu…

Đức Giêsu có lần đã nói :

"Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. (Lc 14,26)

Liên hệ máu mủ rất đáng quí trọng nhưng không đủ để con người hoàn thành vận mạng có tính cách siêu nhiên của đời người. Chúa Giêsu không loại bỏ đời sống gia đình, nhưng để thiết lập Nước Trời, Ngài muốn mời gọi con người bước vào một gia đình mới, gia đình đức Tin.

2. Cơ hội cho mọi người

Gia tộc mới của Chúa không còn là sự may rủi và đóng kín của gia đình máu huyết. Gia tộc mới của Chúa mở rộng vòng tay hạn hẹp của gia đình hay gia tộc máu huyết. Gia đình mới cũng mở rộng cơ hội cho mọi người; bất cứ ai lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa đều được đón nhận vào gia đình rộng lớn này. Gia đình của Thiên Chúa đưa ta vào sự hiệp thông với tất mọi người, để nhận ra mọi người là anh chị em cùng một Cha.

"Đúng hơn phải nói rằng : Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa."

Nền tảng mới không còn là máu huyết, theo kiểu cùng “giọt máu đào”, loại trừ “ao nước lã”, nhưng là đức Tin, là sự hiệp nhất của mọi người trong một đức Tin duy nhất, một Phép Rửa duy nhất và một ơn cứu độ duy nhất.

Mối phúc lớn của người tín hữu là đây. Chính nguồn mạch niềm Tin của mối phúc này mới là nền tảng quy tụ ba vị thánh, thánh Khảm, thánh Tả, thánh Thìn cùng bẩy vị anh hùng tử đạo khác vào gia đình của Chúa. Chính nền tảng mới này đã giúp các ngài vừa giữ vững được tình nghĩa gia tộc máu huyết lại vừa được nối kết vào gia tộc trên trời.

3. Lời chứng của đức Tin

Lời chứng của các vị tử đạo bao giờ cũng là động lực khơi dậy đức Tin một cách mạnh mẽ. Dấu hiệu của lời chứng ấy là một thái độ can đảm, an vui lạ thường. Đó là dấu hiệu sức mạnh của Chúa nơi những con người yếu đuối. Nghe đến giờ xử án, cụ Án Khảm vui mừng nói : “cha con chúng tôi hôm nay được nước Thiên đàng”. Đó không phải là sự thỏa mãn về thành công của mình, không phải là niềm vinh dự bình thường về gia tộc của mình, nhưng là niềm vui tri ân, niềm vui được lãnh nhận hồng phúc từ trời ban tặng, hồng phúc được đón nhận vào gia tộc mới.

Cai Tả thì một lòng cương quyết không chấp nhận bước qua Thánh giá, ông gọi đó là thứ tội “ghê tởm” và kêu gọi mọi người đừng bao giờ vi phạm.

Với ông cai Thìn, mà khi làm cai tổng đã có thời gian thờ ơ việc đạo, đã có vợ nhỏ, rồi ăn năn sám hối, thì giờ đây, ông viết lên giấy lời tuyên xưng mạnh mẽ như sau : “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng chấp nhận mọi cực hình, thậm chí cả cái chết đau đơn nhất, hơn là vi phạm một lỗi, dù rất nhỏ trong đạo tôi thờ. Chính tay tôi viết điều này. Luca Thìn”.

Ngày 13-01-1859, quân lính dẫn cụ Khảm, ông Cai Tả, ông Cai Thìn và bẩy giáo hữu làng Quần Cống ra pháp trường Bẩy Mẫu. Quân lính trói tay chân các ngài vào cọc đã chôn sẵn. Mỗi vị bị hai người lính cầm hai đầu dây thừng tròng qua cổ và kéo thật mạnh cho đến khi tắt thở. Đây mới thật là hồng phúc của gia tộc Phạm Trọng, hồng phúc không phải do máu huyết để lại, nhưng là lời chứng về một giá trị khác, một niềm hy vọng khác, đó là sức sống thuộc về gia tộc Thiên quốc, sức sống của Chúa Thánh Thần.

Ngày thứ sáu

Thánh Anrê TRẦN VĂN TRÔNG, Quân nhân (1814 – 1835)

Tin Mừng : Ga 19, 25-27

“Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng : "Thưa Bà, đây là con của Bà." Rồi Người nói với môn đệ : "Đây là mẹ của anh." Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình”.

Bóng dáng mẹ hiền

1. Thập giá gấp đôi

Bóng dáng người mẹ luôn luôn là một hình ảnh đẹp, luôn là một nguồn trợ lực lớn lao cho con người trong cuộc đời. Nhưng bóng dáng thật đẹp của người mẹ không phải là một cái đẹp “thuần khiết” cao xa, mà đúng hơn là một cái đẹp “nhập cuộc” trong bùn lầy của cuộc đời.

Chúa Giêsu, trong nỗi đau thương của một người bị hành hình nơi thân xác, trong nỗi cô đơn của một “thần trí” cảm thấy bị Chúa Cha bỏ rơi, còn có một nỗi đau khác nữa của tình cảm mẹ con, khi thấy mẹ Maria đứng dưới chân thập giá. Đức Maria đứng dưới chân thập giá, đó vừa là một nguồn trợ lực, nhưng đồng thời cũng là thập giá gấp đôi, thập giá gấp đôi cho chính đức Giêsu vì vừa đau đớn với bao hình khổ trên thân xác mình, lại vừa đau lòng vì thương mẹ. Thập giá gấp đôi cho mẹ Maria, vì tâm hồn một người mẹ chắc chắn sẽ mong ước thà chính mình chịu đau khổ thay cho con, còn hơn đứng nhìn con yêu chết đau thương nhục nhã trên cây thánh giá.

Tình nghĩa thường có tác dụng như một dấu nhân đôi như vậy. Khi người xa lạ nào đó chơi xấu ta, nỗi đau chỉ một phần; còn khi người thân, người nhà, người bạn mà lại chơi xấu nhau thì nỗi đau bị nhân đôi. Như vậy đó, Chúa Giêsu, mặc dầu đã chuẩn bị sẵn sàng để đi vào cuộc tử nạn, cũng phải ngạc nhiên trong nỗi đau khi Giuđa lại dùng chính cái hôn để làm dấu hiệu nộp Thầy.

Đức Giê-su bảo hắn : "Giu-đa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao ?" (Lc 22,48)

Quả thật, không ở đâu ta thấy nỗi đau của cuộc đời lại lớn lao và bi tráng như trình thuật Tin Mừng dưới chân thập giá Chúa Giêsu… Nỗi đau quá lớn của một Con người bị kết án hàm oan, nỗi đau quá lớn từ một thứ hình khổ vô nhân đạo nhất trên thế gian, nỗi đau của một Con người cô đơn tột cùng… Tất cả những nỗi đau ấy được nhân bội lên trong tình thương đậm đà nhất của Mẹ với Con, của Con với Mẹ; cũng như được nhân lên gấp bội bội vì Con Người ấy lại chính là một vị Thiên Chúa yêu thương.

Trong cuộc tử đạo của thánh trẻ An-rê Trần Văn Trông, ta cũng thấy nỗi đau gấp đôi gần như tình huống dưới chân thập giá đức Giêsu. Một bà mẹ nhìn con bị chặt đầu; một người con, trong tù, vẫn lo đến nỗi khổ cực của mẹ. Mẹ con cùng đau nỗi đau bị tù đày và bị giết của con; con và mẹ cùng lo lắng vì nỗi đau quá lớn của một bà mẹ nhìn con mình chịu khổ đau… Tất cả cũng chỉ vì tình thương thiêng liêng của mẹ với con, tình thương của con với mẹ. Quả thật tình yêu thương Kitô giáo cũng không phải là một tình yêu thuần khiết cao xa, mà thiết yếu là tình thương nhập cuộc trong máu và nước mắt của cuộc đời.

2. Tình thương gấp đôi

Tình thương chân thật không phải là một tình cảm ngẫu hứng, nhưng là một sự đan bện cuộc đời vào nhau. Bề dày nghĩa tình của tình thương được bền chặt qua một quá trình cùng chia vui sẻ buồn, cùng quan tâm, cùng thiết tha, cùng lo sợ, cùng hy vọng với nhau… Thứ bề dày nghĩa tình ấy mang sức nặng của cuộc đời, mang mùi vị của những kỷ niệm vui buồn trong cuộc đời thật.

Mặt khác, khổ đau thường là một phương thuộc nhiệm mầu. Trong đau khổ, người ta có thể gạt bỏ những thứ tình cảm sai lạc, thanh lọc những đam mê xấu, để tìm lại được tình thương chân thực. Khi cùng thông chia khổ đau, thù địch có thể tha thứ cho nhau; người xa lạ trở nên gắn bó với nhau hơn; tình nghĩa vợ chồng, bằng hữu, gia tộc trở nên đậm đà thắm thiết. Tình yêu được thanh luyện trong khổ đau; tình yêu lớn lên qua khổ đau; tình yêu trở nên bền chặt trong khổ đau.

Hơn nữa, bề dày nghĩa tình được nhân bội trong thứ “đau khổ gấp đôi”, nghĩa là trong tình huống liên quan đến sự sống và cái chết của nhau, trong tình huống sự sống của người này là nỗi lo lớn nhất của người kia, khi cái chết của người kia là nỗi đau lớn nhất của người này.

Trong tù, khi được gặp người anh họ vào thăm, anh Trông nhắn nhủ : “xin anh giúp đỡ mẹ em, chúng ta là anh em, mẹ em cũng là mẹ anh, mẹ em cũng sẽ yêu thương anh. Xin nhắn lời với mẹ em : đừng lo gì cho em cả, cầu chúc bà mãi thánh thiện, bà sẽ hài lòng vì con trai mình luôn trung thành với Chúa cho đến chết”.

Những lời đó không khác gì tiếng vọng của một lời của Chúa Giêsu trên thập giá :

“Rồi Người nói với môn đệ : "Đây là mẹ của anh."

Tình thương mẹ với con, con với mẹ, vốn đã là tình thương lớn lao và bền chặt nhất trong cuộc đời, thì giờ đây, dưới chân thập giá, tình thương ấy lại càng to lớn, càng sâu xa, càng thiết tha mãnh liệt hơn bao giờ hết.

Huyền nhiệm tình yêu ôi sâu thẳm và phong phú dường bao !

3. Sức mạnh gấp đôi

Bà mẹ của anh Trông, khi biết tin con bị đem đi xử, bà chạy đón đầu ở chợ, nơi con sắp đi qua. Gặp con, bà hỏi con : bấy lâu nay xa nhà, thời gian ở tù, con có nợ nần ai chăng, nếu có thì cho mẹ biết, mẹ sẽ trả thay con.

Khi quân lính tháo gông xiềng cho anh Trông, anh đỡ lấy, trao cho người lính bên cạnh và nói : “xin anh đưa dùm cái này cho mẹ tôi, để bà làm kỷ niệm”.

Cuộc tử đạo của thánh Trông không còn dáng vẻ đau thương, nhưng toát lên tình nghĩa đậm đà của hai mẹ con, toát lên sự ân cần chăm sóc cho nhau, toát lên một sức mạnh lớn hơn sức mạnh của thần chết.

Dưới chân thập giá, Đức Maria không bò lê bò càng, không kêu la, không rên rỉ, không khóc than, nhưng đức Maria đứng, stabat mater. Hình ảnh đau thương nhưng kiêu hùng ấy bộc lộ một sức mạnh đáng kinh ngạc, sức mạnh của niềm tin.

Bà mẹ của anh Trông cũng “đứng dưới chân thập giá”, bà chứng kiến tất cả diễn tiến cuộc tử hình. Bà cũng không rên la, gào khóc. Bà đón nhận cái chết đau thương của con với sức mạnh của niềm tin. Khi lý hình vung gươm chém đầu vị tử đạo, bà chạy đến đòi viên chỉ huy trao lại thủ cấp của con, bà bọc thủ cấp trong vạt áo, bà ôm chặt vào lòng, vừa hôn vừa kêu : ôi con yêu quí của mẹ, con nhớ cầu nguyện cho mẹ nhé !

Không phải ai cũng đủ can đảm để chịu được thập giá gấp đôi. Cũng không phải người ta có thể tự mình rộng mở con tim trong một tình yêu gấp đôi để chấp nhận được thập giá gấp đôi. Sức mạnh của hai mẹ con thánh Trông không còn là lẽ yêu thương thường tình nữa, nhưng thực sự biểu lộ nguồn sức mạnh siêu nhiên.

“…Cha kiện toàn sức mạnh nơi những con người mỏng giòn, và tăng sinh lực cho những người yếu đuối, để họ làm chứng cho Cha, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con” (Kinh Tiền Tụng lễ các thánh Tử Đạo)

Bà mẹ thánh Trông có được một sức mạnh lạ lùng, người con của bà mẹ ấy cũng có được một sức mạnh lạ lùng. Chính sức mạnh của niềm Tin đã tiếp sức cho mẹ con thánh Trông trong hành trình tử đạo gấp đôi ấy.

Ngày thứ bẩy

Chứng tá tập thể trong lao tù

- Phanxicô Xaviê HÀ TRỌNG MẬU (1790 - 1839)

- Đaminh BÙI VĂN ÚY (1812 - 1839)

-Augustinô NGUYỄN VĂN MỚI (1806 - 1839)

- Tôma NGUYỄN VĂN ĐỆ (1806 - 1839)

- Stêphanô NGUYỄN VĂN VINH (1811 - 1838)

Tin Mừng : Mt 18, 19-20 :

“Thầy còn bảo thật anh em : nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy giữa họ”

Sức mạnh của Cộng đoàn đức Tin

1. Ý muốn của Chúa

Thiên Chúa cứu độ con người, không phải giống như một Đấng ngự ở trên cao, nhìn đoàn người lóp ngóp trong biển trần gian, nhặt từng người lên để xem xét công đức và tội lỗi, rồi ra quyết định thưởng hay phạt. Chúa không muốn cứu độ con người cách riêng rẽ như thế, nhưng đưa đến con thuyền Hội Thánh, để những ai muốn được cứu thì bước lên con thuyền ấy. Cùng với Chúa Giêsu là thuyền trưởng, mỗi người tín hữu được mời gọi để cùng chèo cùng chống, cùng liên luỵ và hiệp thông với nhau trên con thuyền Hội Thánh.

Nơi đây, tha nhân không phải là địa ngục, nhưng tha nhân đúng nghĩa chính là bạn đồng hành quí báu trên hành trình trần gian. Đọc truyện các thánh tử đạo Việt Nam, người ta thấy được một hình ảnh diễn tả cộng đoàn đức tin, cộng đoàn cùng liên luỵ trong khổ đau, cùng hiệp thông trong ơn phúc, đó là hình ảnh cuộc tử đạo của thầy giảng Phanxicô Xaviê Hà Trọng Mậu, thầy giảng Đa minh Bùi Văn Úy, nông dân Augustinô Nguyễn Văn Mới, thợ may Tôma Nguyễn Văn Đệ, và tá điền Stêphanô Nguyễn Văn Vinh. Mỗi người có một gia cảnh riêng, mỗi người có tâm tính khác nhau, trình độ hiểu biết giáo lý cao thấp, mỗi người có những ưu tư và lo lắng cụ thể của mình,… nhưng mọi người đều hiệp nhất với nhau trong một đức Tin duy nhất; đức Tin ấy được thông truyền cho nhau qua những lời chứng tuyệt diệu trong lao tù.

Thầy Mậu thì trung tín với nhiệm vụ thầy giảng cho đến cùng. Trong lao tù, thầy vẫn dạy giáo lý và rửa tội được 44 người, trong đó có một tên là Hưng. Anh Hưng mới học đạo được một tháng thì bị đem đi xử. Anh xin quan cho được hoãn lại giờ tử hình một chút, để kịp lãnh bí tích Rửa tội, rồi sau đó vui vẻ tiến ra pháp trường.

Thầy Uý là một người tôi tớ trung tín, một lòng trung tín với tổ tiên và với Giáo hội. Thầy nhiều lần muốn mang thân mình ra để chịu nộp thay cho cha Tự. Khi quan bắt Thầy bước qua thập giá, thầy trả lời : “…khúc gỗ đó tượng trưng cho Chúa tôi thờ. Quan nghĩ sao nếu tôi đạp lên ảnh vẽ cha mẹ tôi ?”

Nông dân Nguyễn Văn Mới là một người tân tòng chất phát, anh theo đạo, rồi lập gia đình với người có đạo, nhưng đó chẳng phải là một sự giả bộ mà là tấm lòng mộc mạc chân thật nhất. Trong khi có vài người đạo gốc sợ chết đã bước qua thánh giá, thì nông dân Mới vẫn một lòng cương quyết sống trọn niềm tin mình đã chọn.

Thợ may Nguyễn Văn Đệ lại có một tình yêu nồng nàn với gia đình. Khi biết không thể trốn được, anh từ giã vợ, dặn vợ đưa con về quê ngoại, ôm hôn từng đứa con rồi ra trình diện quân lính. Trong tù, anh vẫn ưu tư lo lắng cho vợ con. Anh dặn dò và khuyến khích vợ : đừng khóc mình ạ ! Mình hãy về dạy dỗ các con nên người, dạy chúng thờ phượng Chúa. Tôi đã dâng mình và các con cho Ngài…

Tá điền Vinh là một trường hợp rất đặc biệt. Khi bị bắt, anh Vinh mới chỉ là dự tòng, được học hỏi chút ít về đạo. Thế nhưng khi quan quân vây bắt cha Tự ở Kẻ Mốt, và bắt mọi người ở đó phải đạp lên Thánh giá, thì người dự tòng này đã can đảm tuyên xưng : tôi thà chết chứ không bao giờ chịu đạp lên Thánh Giá, vì tôi biết đạo Chúa là đạo thật. Tá điền Vinh bị bắt vào tù, chịu phép Rửa trong tù, nhận tên thánh là Stephanô để noi gương vị tử đạo tiên khởi, gia nhập dòng Ba Đa Minh trong tù, và cũng hiên ngang lãnh nhận phúc tử đạo với các bạn.

2. Cộng đoàn cầu nguyện

Cuộc đời không phải là một cuộc ganh đua, để rồi có kẻ thắng thì cũng có kẻ thua, có kẻ vui thì có kẻ lại buồn. Cuộc đời cũng không phải là một đại lộ mà “ai có linh hồn, thì kẻ ấy lo”. Đúng hơn, cuộc đời là một cuộc vượt thác mà mọi người được liên kết chặt chẽ với nhau trong một sợi giây an toàn; vận mạng của mỗi người đều dính dáng sâu xa với những người khác. Hành trình đức Tin, ở đâu cũng vậy, thực sự là một cuộc vượt thác như thế.

“nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì…”

Câu Tin Mừng ngắn ngủi ấy trở nên sinh động trong hoàn cảnh thực tế của các thánh tử đạo, vì ở đây chính nhà tù trở thành nhà nguyện, và thời gian suốt hơn một năm các vị bị giam giữ lại chỉ là một giờ cầu nguyện duy nhất. Chứng tá của một cộng đoàn cầu nguyện được tỏ lộ thật rõ ràng. Trong tù, khi cha Phêrô Tự và ông trùm Cảnh bị tử hình trước, năm anh em còn lại cùng cầu nguyện với nhau và được thấy cha Tự hiện ra an ủi. Trước khi bị bắt, trong số năm vị tử đạo, đã có bốn người là thành viên của Dòng Ba Đa minh, rồi trong tù, có thêm anh Stephanô Vinh theo đạo và xin được thâu nhận vào Dòng. Cả năm người đều chưa tuyên khấn. Thế là cả năm vị anh hùng tử đạo cùng làm đơn xin khấn vĩnh viễn trong Dòng Ba Đa minh…

“Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy giữa họ”

Quả thật trong “giờ kinh lao tù” ấy, Chúa Giêsu hiện diện, Chúa Giêsu nối kết mọi người, nối kết mọi ưu tư, mọi tâm tính, mọi trình độ khác nhau trong một sự sống duy nhất, sức sống của niềm tin. Mọi người cùng thông chia sự sống và cái chết, với nhau cũng như với Chúa Giêsu.

3. Hiệp đoàn cùng các phúc nhân

Đời sống đức Tin Kitô giáo, đặc biệt với người tín hữu Công giáo, luôn là hành trình liên lụy và hiệp thông; khởi đầu bằng sự dám liên lụy với nhau trong hệ lụy của tội, rồi được hồng phúc thông chia ân huệ trong mầu nhiệm Các Thánh Cùng Thông Công.

Từ khởi đầu của lịch sử ơn cứu độ, con người đã cùng liên lụy với nhau trong tội tổ tông. Tội tổ tông làm cho ðời sống của con ngýời dính dáng với nhau một cách sâu xa, tội của ngýời này kéo theo ðau khổ của ngýời khác, tật xấu của kia gây ra bao nhiêu tai họa cho ngýời nọ… Không ai có thể có thái ðộ “rửa tay” ðể chối từ trách nhiệm trýớc cuộc ðời. Mọi ngýời cùng thông chia những hệ luỵ của tội, thông chia bản án phải chết.

Thế nhưng, trong hành trình ơn cứu độ, con người cũng được mời gọi thông chia niềm hy vọng được cứu độ, thông chia niềm xác tín vào lời hứa của Chúa.

Hơn nữa, trong Chúa Giêsu, hành trình ơn cứu độ ban cho con người được hiệp thông ơn phúc. Ơn phúc Chúa ban cho bất cứ một ai, cũng đều chính yếu là ơn phúc cho Hội Thánh, cho mọi người, cho mỗi người Kitô hữu. Ở đâu có sự hiệp thông trong ơn phúc, ở đó có dồi dào sức mạnh của đức Tin.

Nếu hệ lụy của tội là cái chết vẫn còn đó, thì bóng dáng sự sống lại đã xuất hiện, tỏ bày sức mạnh trong sự hiệp thông ơn phúc. Nơi nào có sự sống của Chúa, sự hiệp nhất trong ơn phúc lớn hơn sự chia rẽ do tội lỗi và mạnh mẽ hơn sự chết. Nơi nào có sự hiệp thông trong ơn phúc, thì nơi đó đã tỏ hiện mầu nhiệm cứu độ của Chúa Giêsu; và nơi đó, “Cha Thầy, Đấng ngự trên trời sẽ ban cho”

Tù ngục của năm vị thánh tử đạo đã bắt đầu biến đổi trở nên thiên đàng, vì những lời chứng đức Tin đang được thông truyền cho nhau, mầu nhiệm hiệp thông ơn phúc đã khởi đầu để đón năm vị thánh tử đạo vào “hiệp đoàn cùng các phúc nhân”.

Ngày thứ tám

Thánh Anê LÊ THỊ THÀNH (Bà Thánh Đê) (1781-1841)

Tin Mừng : Mt 15, 21-28

“Ra khỏi đó, Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đôn, thì này có một người đàn bà Ca-na-an, ở miền ấy đi ra, kêu lên rằng : "Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi ! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm !" Nhưng Người không đáp lại một lời.

Các môn đệ lại gần xin với Người rằng : "Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi !" Người đáp : "Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi." Bà ấy đến bái lạy mà thưa Người rằng : "Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi !" Người đáp : "Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con." 27 Bà ấy nói : "Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống." Bấy giờ Đức Giê-su đáp : "Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy." Từ giờ đó, con gái bà được khỏi.

Để Lại lời chứng đức Tin

1. Bóng hình người mẹ

Trong ca dao tục ngữ, người ta thấy khá nhiều những danh ngôn nói về tật xấu của phụ nữ. Tuy nhiên, dù cho ai đó ác cảm với phụ nữ đến đâu, dù kho tàng ca dao tục ngữ của thế giới nào, thì nhân loại cũng khó có thể xoá mờ bóng hình người mẹ trong tâm hồn. Hình bóng người mẹ quá đẹp, vẻ đẹp có mầu sắc linh thiêng, khiến không dễ có ai dám cả gan xâm phạm.

Quả thật, trong văn hoá Đông cũng như Tây, xưa cũng như nay, đạo cũng như đời, hình tượng người mẹ vẫn luôn được “tôn thờ” trong tim của con cái. Hình ảnh người mẹ trở nên là lời chứng đích thực của một thứ tình yêu vị tha; hình ảnh người mẹ góp phần không nhỏ vào việc nuôi dưỡng những giá trị tốt lành của cuộc sống nhân gian, góp phần không nhỏ cho sự bình an sâu xa của mỗi đứa con, và giúp cho đứa con có thêm sức mạnh trong hành trình cuộc đời.

Hình ảnh tốt lành đó, người mẹ đã nhào nặn nên không phải một cách ngẫu nhiên, không phải một cách dễ dàng, nhưng trong mất mát và khổ đau của chính bản thân mình. Chúa cho người phụ nữ bị rắc rối cuộc sống do chu kỳ kinh nguyệt; Chúa cho người mẹ chứ không phải người cha cưu mang con; Chúa cho người mẹ phải khổ cực mang nặng đẻ đau đứa con; Chúa cho người mẹ lấy sữa của mình để nuôi con; Chúa cho người mẹ phải cực nhọc, phải hao mòn, phải mất mát thật nhiều sức lực, tâm trí của mình cho đứa con; Chúa cho người mẹ phải khó khăn trong công việc xã hội vì nuôi con mọn… Chúa cho người mẹ được thông hiệp sâu xa vào tình yêu quảng đại của Chúa, thứ tình yêu dấn thân, tình yêu dám liên luỵ cả bản thân và cuộc đời mình vào cuộc đời của người mình yêu thương…, thứ tình yêu hướng sát đến cực điểm của tình yêu lớn lao nhất, tình yêu hy sinh mạng sống của mình…

Đúng với phẩm chất tình yêu ấy, chúng ta thấy một bà mẹ Ca-na-an đến khẩn nài lòng thương xót của Chúa :

"Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi ! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm !"

Bà mẹ Ca-na-an xin Chúa thương xót chính bản thân bà, vì nỗi đau của đứa con bị quỷ ám chính là nỗi đau của bà, vì nỗi “khổ sở” của đứa con lại chính là nỗi “khổ sở lắm” của người mẹ. Không ở đâu tình thương hy sinh thể hiện rõ rệt như nơi tình thương của người mẹ; nơi đây người ta hiểu được rằng tình yêu đích thực thể hiện trong một thứ di chuyển trọng tâm cuộc sống từ bản thân mình sang cho người mình yêu thương. Tình thương ấy không còn tìm món ăn ngon cho mình, tấm áo đẹp cho mình, đời sống thoải mái cho mình… nhưng là sự thiết tha tìm món ngon cho con, áo đẹp cho con, đời sống hạnh phúc cho con… Nếu tình thương chân chính luôn thôi thúc ra khỏi bản thân mình để hoàn thành cuộc đời như một hạt lúa; hạt lúa thối đi, trổ sinh những bông hạt khác; thì quả thật không tình thương nào chân chính như tình mẫu tử.

2. Người mẹ trên hành trình đức Tin

Bà thánh Đê chắc hẳn đã thể hiện một tình thương lớn lao với những người con thân yêu, tình thương ấy ghi ấn dấu không thể phải nhoà lên tâm hồn con cái. Cô Lucia Nụ, con gái út của bà, đã khai trong án phong thánh rằng : "Thân mẫu chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục chúng tôi…”. Cô Anna Năm thì làm chứng : "Người cũng thường khuyên vợ chồng tôi : "Hai con hãy sống hòa hợp, an vui, đừng để ai nghe chúng con cãi nhau bao giờ". Ngoài ra, ông bà Đê cũng để lại cho con cái tấm gương bác ái, giúp đỡ mọi người, nhất là tấm lòng tôn kính và quảng đại đối với các linh mục gặp khó khăn trong thời cấm đạo. Ông bà dành một khu nhà đặc biệt để các linh mục thừa sai trú ẩn.

Nhưng quan trọng hơn hết, bà mẹ Anê Đê đã để lại cho con cái một lời chứng mạnh mẽ về đức Tin. Cô Lucia Nụ nói : “chính người dạy chúng tôi học chữ và giáo lý, sau dạy cách tham dự thánh lễ và xưng tội rước lễ. Người không để chúng tôi biếng nhác việc xưng tội. Khi chúng tôi lơ là, người thúc dục chúng tôi bằng được mới thôi. Người cho chúng tôi nhập hội con Đức Mẹ, vào ban thiếu nữ thưa kinh ở nhà thờ". Cô Anna Năm thì xác định: "Có lần người dạy tôi : Tuân theo ý Chúa con lập gia đình là gánh rất nặng. Con phải ăn ở khôn ngoan, đừng cãi lời cha mẹ chồng. Hãy vui lòng đón nhận Thánh Giá Chúa gởi cho”.

Trong gian khổ, người phụ nữ Ca-na-an vẫn chỉ nghĩ đến đứa con đau bệnh. Nhưng hơn nữa, trong khó khăn, người mẹ ấy vẫn không thất vọng, sự bình tĩnh của bà tỏ rõ sức mạnh của niềm tin : "Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.". Tấm lòng của người mẹ vẫn luôn thiết tha; tấm lòng của một người mẹ có lòng tin thì lại vừa tha thiết vừa vững vàng; vừa nhẫn nại vừa sáng suốt. Khi cô Lucia Nụ đến thăm mẹ trong ngục, thấy áo quần của mẹ loang lỗ máu, cô đau lòng khóc lóc nức nở. Nhưng bà Anê Đê lại an ủi con bằng những lời đầy sự vững vàng, sáng suốt lạ thường : "Con đừng khóc nữa, mẹ mặc áo hoa hồng đấy, mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại khóc ?". Ôi ! lời chứng đức Tin sống động biết bao. Đức tin sinh hoa trái trong khổ đau, và đức tin trở nên lời chứng mạnh mẽ hơn hết trước cái chết. Chính đó là món quà quí giá hơn hết mà bà mẹ Đê để trao lại cho con cái.

Hành trình làm cha/mẹ là một hành trình tốn tiền tốn của, tổn hao sức lực khi con còn nhỏ, cực nhọc tâm trí khi con bắt đầu lớn… rồi đến một lúc nào đó, sẽ là sự chấp nhận chôn vùi hết cuộc đời của mình để cho con cái được hoàn thành cuộc đời của chúng. Cuộc đời làm cha/mẹ không có giai đoạn “nghỉ phép”, không có thời gian “nghỉ hè làm cha mẹ”, vì ý nghĩa làm cha mẹ dính chặt, trở nên một với chính cuộc đời của những ai được diễm phúc làm cha làm mẹ.

Trên hành trình đó, người cha/mẹ Công giáo, càng về già, lại càng nhận ra sự thôi thúc ban tặng một gia sản quí báu hơn cả, cần thiết hơn cả cho con, đó là hành trang đức Tin. Với bà mẹ Anê Đê tất cả thứ của cải, ngay cả tình thương và giáo huấn dành cho con, đều chưa trọn vẹn, nếu không có lời chứng đức Tin, lời chứng bằng cả cuộc đời, lời chứng bằng chính mạng sống của mình.

3. Thể hiện tấm lòng của Mẹ Giáo Hội

Mẹ Maria đã nói lời xin vâng khi nhận lời làm Mẹ Đấng Mê-si-a; nhưng lời xin vâng của Mẹ chỉ trọn vẹn đứng dưới chân Thập giá Chúa Giêsu. Tiếng xin vâng trong khổ đau, tiếng xin vâng trong máu, tiếng xin vâng diệu kỳ ấy làm cho cuộc đời của Mẹ hòa nhịp vào cuộc tử nạn của con, để cũng trở nên Mẹ của Hội Thánh :

…Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng : "Thưa Bà, đây là con của Bà." (Ga 19,26)

Bà Mẹ Giáo hội cũng nói lời xin vâng để hiến dâng cho thế giới bao nhiêu đứa con của mình, hiến dâng các nhà truyền giáo, hiến dâng các vị tử đạo…

Một cách nào đó, bà mẹ Anê Đê đã hội nhập cuộc đời mình vào đời sống Giáo hội. Theo mẫu gương của Mẹ Maria, mẹ Đê cũng sinh con cái đức tin trong máu, trong việc hiến dâng mạng sống của mình. Trong gia đình ấy, một Hội thánh tại gia, mẹ Đê cũng bộc lộ khuôn mặt của mẹ Hội Thánh, mẹ đóng góp chính mạng sống của mình để làm trổ sinh hoa trái đức Tin trong tâm hồn con cái.

Ngày thứ chín

Thánh Phaolô HẠNH, Giáo dân (1827 – 1859)

Tin Mừng Lc 10,25-37

“…Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giê-su rằng : "Nhưng ai là người thân cận của tôi ?" Đức Giê-su đáp : "Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói : "Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác." Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp ?" Người thông luật trả lời : "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy." Đức Giê-su bảo ông ta : "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy."

Tin Mừng cúi xuống

1. “Trường tiểu học người thân cận”

Có một thứ trường “tiểu học” nhưng lại đòi hỏi những điều kiện hết sức khó khăn. Để được nhập học, “học viên” phải là người tốt, có khi về sắc đẹp, có khi về tài năng, có khi về tính tình, có khi về hoàn cảnh kinh tế,… hoặc có khi là một sự đòi hỏi trọn vẹn không một chút tì vết nào … Rồi để được tiếp tục học và được “lên lớp”, thì điều kiện đòi hỏi càng nghiệt ngã hơn nữa, vì lúc nào học viên cũng có nguy cơ bị đuổi học. Đó là thứ trường “tiểu học người thân cận” mà mỗi người chúng ta chính là hiệu trưởng.

Trong thứ trường tiểu học này, hướng nhìn của mọi người là nhìn lên, nhìn lên để chỉ thấy những gì “cao”, để chỉ đòi hỏi nhau những gì “hay”, để so sánh hơn thua với người này người khác trong một tâm trạng khao khát được “bằng chị bằng em”. Trong thứ trường tiểu học này, người học viên giống như người đứng dưới nước sâu, chân không đụng đất, đầu thì cứ muốn vươn lên cao, hai tay hai chân thì quờ đạp liên tục.

Thật sự những người chân không đụng đất thì dù có cố gắng vươn lên đến đâu thì cũng chỉ là trồi lên ngụp xuống trong dòng nước cuộc đời. Những người chân không đụng đất thì tay chân phải “chèo chống” liên tục, không để cho đứa nào nắm tay nắm chân mình, kẻo có nguy cơ bị lôi tuột xuống nước sâu. Những ai muốn đòi hỏi người khác phải tốt, mà thật sự chính mình cũng chẳng tốt, chắc chắn sẽ rơi vào tình huống bập bênh, không lên không xuống, nghi ngại người khác như vậy.

Người Do Thái nào cũng biết rõ luật yêu thương người thân cận như chính mình (Xc. Lv 19,18), nhưng họ lại đề ra những quy chế cho trường người thân cận ấy quá khắt khe. Không thiếu những người Kitô hữu cũng muốn sống giới răn yêu thương của Chúa, nhưng thực tế lại không thể bỏ được thái độ đòi hỏi, thái độ đánh giá, thái độ so đo tính toán, và không thể bước vào mầu nhiệm Nước Trời, mầu nhiệm của lòng từ bi thương xót.

2. Trường “đại học lòng thương xót”

Có một thứ trường “đại học” mà điều kiện nhập học lại dễ dàng vô cùng, ai cũng có thể vào được, ai cũng có thể theo học được; và nhất là ai cũng có thể là “ngôi sao” trong trường. Trường đại học của lòng thương xót dạy người ta biết cúi xuống để nhận ra chân lý của cuộc đời, biết giơ bàn tay mình ra để bắt được những bàn tay thương tích đang quờ quạng. Bài học ở trường đại học này chỉ đơn là dám thẳng thắn sống chân thực với thân phận con người, nghĩa là dám chân nhận sự yếu đuối của chính mình, dám chấp nhận tha nhân cũng yếu đuối và đáng thương như mình.

Trường đại học của lòng thương xót do chính Chúa Giêsu như người Sa-ma-ri xa xôi đã thiết lập nên. Ai học được ở trường này có thể mở rộng tầm mắt để nhận ra phận người khổ đau, biết thênh thang bước vào đời mà không phải rụt rè né tránh như vị tư tế hay thầy lê-vi. Thành quả của trường đại học này là khả năng xây dựng tình nghĩa trong chân trời “tứ hải giai huynh đệ”.

Thật ra, phẩm tính cao cả nhất của Giavê Thiên Chúa chính là lòng từ bi thương xót. Mỗi lần Tin Mừng nói Đức Giêsu “động lòng thương”, thì đó không phải chỉ là một sự mô tả tâm lý, nhưng còn là một khẳng định thần học, khẳng định đức Giêsu đến từ Chúa Cha, thể hiện phẩm tính từ bi thương xót của Giavê Thiên Chúa. Những ai quên đi phẩm tính ấy sẽ không nhận ra đức Giêsu chính là Đấng Mêsia đã được loan báo. Chính đức Giêsu cũng đã nhắc cho Gioan Tẩy giả biết lấy dấu hiệu nào để nhận ra Đấng Mêsia chân thật, dấu hiệu của lòng từ bi thương xót :

“Đức Giê-su trả lời : "Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe : Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi." (Mt 11, 4-6)

3. Cử nhân lòng thương xót

Phaolô Hạnh chắc hẳn đã trải qua nhiều trường “tiểu học người thân cận”, và bài học in sâu trong tâm trí là khả năng biết tính toán lợi hại trong thương trường, khả năng đấu đá trong môi trường xã hội đen, và cả khả năng biểu lộ sức mạnh đe doạ để chèn ép những người yếu đuối… Để có thể sống trong trường đời, Phaolô Hạnh đã sống như một người học viên xuất sắc trong thứ trường tiểu học đó. Anh Hạnh làm nghề buôn bán, anh kết bạn với những tay anh chị chuyên lường gạt và đánh đấm, anh từng bắt nạt những người yếu kém và có một thời từng là người cầm đầu một băng cướp.

Tuy nhiên, điều làm thay đổi tất cả tất cả cuộc đời của Phaolô Hạnh, thay đổi thái độ, thay đổi giá trị, thay đổi tương quan… lại chính là một bài học trong trường của lòng thương xót. Một lần kia, khi chứng kiến một thiếu phụ bị dân anh chị bóc lột dã man, anh xúc động và ra tay can thiệp. Anh Hạnh bắt đám anh chị ấy phải trả lại tất cả cho nạn nhân. Thế là cuộc đời anh thay đổi từ đây.

Đám người ấy đã trả thù, tố cáo anh Hạnh là người Kitô hữu và gán thêm tội tiếp tay với quân đội Pháp. Anh bị bắt. Trong tù, anh vẫn biểu lộ dáng vóc khí khái khi khẳng định với quan mình là Kitô hữu và “sẽ là kitô hữu cho đến chết”.

Trong đáy lòng của con người cầm đầu băng cướp ấy, vẫn có một chút lòng từ tâm. Chút lòng từ tâm ấy lại ăn thông với một mạch sống ẩn tàng, mạch sống của đức Tin Kitô giáo.

Quả thật, mạch sống yêu thương Kitô hữu thiết yếu là mạch của lòng từ bi thương xót. Lòng yêu thương Kitô giáo phải được gắn liền với tình yêu thương của Đức Giêsu và thông hiệp với tình yêu thương của Chúa Cha. Tình yêu thương của Chúa Cha tuôn đổ xuống luôn mang phẩm chất của lòng từ bi thương xót. Do đó, tình thương yêu Kitô giáo cũng luôn bao hàm phẩm chất nhân từ: tôi cũng đáng thương và anh cũng đáng thương; tất cả chúng ta đều đáng thương trước mặt Chúa; và tất cả tình thương của chúng ta với nhau đều là thông hiệp vào lòng từ bi thương xót của Chúa. Chính vì thế, đức Gioan Phaolô II, trong thông điệp Thiên Chúa Giầu Lòng Từ Bi Thương Xót, đã khẳng định rằng :

“Vì lòng nhân từ là chiều kích không thể thiếu của tình yêu; nó như là danh hiệu thứ hai của tình yêu”. (số 58)

Chỉ cần một lần được cúi xuống những người cùng khổ, chỉ cần một một lần nhớ lại dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu mà hẳn Phaolô Hạnh đã từng được nghe, chỉ một lần nhận ra bóng dáng Thầy Giêsu trong h́nh ảnh người Sa-ma-ri nhân hậu ấy, anh đã làm được bài văn đời mình một cách tốt ðẹp.

Mệnh lệnh của Chúa Giêsu với người thông luật là : "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy." Thế Phaolô Hạnh đã đi, đã làm như vậy, anh đã chuyển trường, chuyển hướng hành trình đời mình về quê trời để có thể lãnh bằng tốt nghiệp “cử nhân lòng thương xót” trên quê hương các thánh.

Nhớ mẹ7

Anna Nguyễn Thị Sự

20/10/2004 – 20/10/2012

xem lại Phần 1