GẶP GỠ CHÍNH CHÚA hay hành trình từ thái độ thực dụng đến Sự tự do của con cái Chúa - Phần Cuối
Có một điều mà những người trực tiếp hướng dẫn giáo dân, các linh mục, thường xuyên quên hoặc ít khi nhắc đến: phẩm giá con người nói chung và phẩm giá người Kitô hữu nói riêng. Sự quên sót này hình như nằm trong tình hình chung là các lời giảng thường là lời giảng luân lý nhiều hơn là công bố ơn cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Rồi thực trạng ấy, có lẽ, lại xuất phát từ một khủng hoảng nặng nền hơn: đánh mất căn tính Kitô giáo. Có lẽ nhiều vị linh mục hướng chú tâm của mình vào những lý lẽ thần học hoặc những bài học luân lý cụ thể, chứ không mấy nỗ lực khám phá những nét đẹp của ơn cứu độ và đời sống đức Tin. Nhưng đời sống đức Tin mất căn tính khi không được xây dựng trên những giá trị chân chính, và khi không hình thành nên những giá trị tích cực trong tâm hồn người tín hữu. Đó là khi Kitô giáo không còn được đón nhận như một ơn phúc, nhưng như một gánh nặng; người tín hữu không cảm nhận đức Tin như một nét đẹp nhưng như một sự chịu vậy; không thấy niềm hạnh phúc, nhưng như một trách nhiệm đòi hỏi; không lãnh nhận một sứ vụ cao đẹp nhưng như đi vào một cuộc sát hạch để đổi lấy cuộc sống thiên đàng mai sau.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Bài 7.2 SỰ TỰ DO CỦA CON CÁI CHÚA
Có một điều mà những người trực tiếp hướng dẫn giáo dân, các linh mục, thường xuyên quên hoặc ít khi nhắc đến: phẩm giá con người nói chung và phẩm giá người Kitô hữu nói riêng. Sự quên sót này hình như nằm trong tình hình chung là các lời giảng thường là lời giảng luân lý nhiều hơn là công bố ơn cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Rồi thực trạng ấy, có lẽ, lại xuất phát từ một khủng hoảng nặng nền hơn: đánh mất căn tính Kitô giáo. Có lẽ nhiều vị linh mục hướng chú tâm của mình vào những lý lẽ thần học hoặc những bài học luân lý cụ thể, chứ không mấy nỗ lực khám phá những nét đẹp của ơn cứu độ và đời sống đức Tin. Nhưng đời sống đức Tin mất căn tính khi không được xây dựng trên những giá trị chân chính, và khi không hình thành nên những giá trị tích cực trong tâm hồn người tín hữu. Đó là khi Kitô giáo không còn được đón nhận như một ơn phúc, nhưng như một gánh nặng; người tín hữu không cảm nhận đức Tin như một nét đẹp nhưng như một sự chịu vậy; không thấy niềm hạnh phúc, nhưng như một trách nhiệm đòi hỏi; không lãnh nhận một sứ vụ cao đẹp nhưng như đi vào một cuộc sát hạch để đổi lấy cuộc sống thiên đàng mai sau.
Các linh mục bận tâm tới đời sống luân lý, tới nghĩa vụ với Chúa nhiều hơn là trình bày ơn cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Điều đó tưởng chừng như một sai lệch nhỏ trong sứ vụ giảng thuyết, nhưng nó có nguy cơ làm mất đi những phẩm tính căn bản nhất của Kitô giáo, trong đó có sự tự do của con cái Thiên Chúa.
Thiên chúa cứu độ con người không bằng cách hạ giá con người đến bùn đen, không phải mãi bắt con người phải tự nhận mình là hèn mạt, xấu xa, nhơ uế. Con người được cứu độ không phải là kẻ sống thái độ” cố đấm ăn xôi”, mãi mãi như những kẻ ăn mày các ơn phước.
Ngược lại, ta có thể căn cứ vào mức độ thể hiện những giá trị ch6an chính và sự trưởng thành thật sự của đời sống đức Tin. Đức Tin không thể hiện ra được một tâm hồn an hòa, một tình yêu thương rộng mở và một sự tự do của con cái Chúa thì khó có thể minh chứng cho một đời sống đức Tin vững chắc và chính thực.
1.Thách đố trên hành trình làm người
1.1 Vực thẳm kép
Trên hành trình làm người, con người luôn phải bước đi chênh vênh giữa hai vực thẳm: nền luân lý úy kỵ và thái độ vô luân. Nói cách khác, đó là một vực thẳm kép mà những kẻ không đủ dũng khí thì khó thể vượt qua được.
Hoặc người ta tìm an toàn bằng cách củng cố những lề thói luân lý quen thuộc, cố gắng bảo vệ mình bằng những tính toán tỉ mỉ cách nô lệ, khẳng định cả nhiều điều úy kỵ vô duyên; hoặc người ta phiêu lưu bạt mạng bất chấp mọi chỉ dẫn luân lý để rồi rơi vào một lối sống thoát loạn, đánh mất phẩm giá làm người. Kẻ này thì dúm dó một cách tội nghiệp với gánh nặng trên vai; kẻ kia lại ngông cuồng”say xỉn” một cách vô trách nhiệm.
Những lập trường đối nghịch của hai khuynh hướng ấy, mà bên nào cũng có lý của mình, cho th6áy mối hiểm nguy của vực thẳm kép giăng bẫy trên hành trình làm người. Hai bờ vực thẳm ấy vừa trùng điệp bao la, lại vừa mập mờ ẩn hiện. Những người ở vực thẳm bên này luôn nhìn sang vực thẳm bên kia để tự hào và củng cố thêm cho nẻo đường của mình; người ta nhìn ra cái tệ hại của vực thẳm bên kia mà ít khi thấy rõ hố sâu vực thẳm trong chính cách sống hiện tại của mình.
Sống làm người, không ai có thể từ chối trả lời cho những vấn nạn luân lý đặt ra cho lương tâm của mình. Con người là sinh vật có luân lý. Thế nhưng, bình thường, con người không dễ dàng vượt qua được vực thẳm kép của luân lý. Thách đố luân lý cũng là thách đố của phận người và ơn cứu độ không thể chỉ giới hạn trong việc chu tất qui luật luân lý, nhưng còn phải thực sự giải gỡ được những thách đố của chính phận người.
Ơn cứu độ trong Đức Giêsu có thể giúp con người vượt qua được vực thẳm ấy chăng?
1.2 Vực thẳm luân lý úy kỵ
Người ta có thể gặp thấy không thiếu những con người tôn giáo, những con người đức hạnh, những con người của nề nếp gia phong. . . đã không thoát được vực thẳm của luân lý úy kỵ, nên đã khép đời mình vào một khuôn khổ chật hẹp.cứng động và phi nhân; cách ứng xử của những người ấy tỏ hiện một sự nhạy cảm với nguyên tắc luân lý hơn là nhạy cảm trước vui buồn, khổ đau của phận người.
Người rơi vào vực thẳm này thường sống thái độ nệ luật, tính toán một cách giả dối những điều được phép và những điều không được phép, chi li và lí sự về phương cách tính toán để tìm sự an ổn lương tâm. Đó là thái độ tuyệt đối hóa mọi quy tắc luân lý. Những tính tóan chi li như thế chỉ biểu lộ một thứ khôn vặt chứ không phải là một cái nhìn khôn ngoan bao quát và đạt đến”lẽ minh triết” căn bản. Cách thức ấy, cuối cùng,đi đến những vi phạm trầm trọng tinh thần luân lý mà họ nhận ra. Tình trạng của những người Biệt Phái thời Chúa Giêsu là một mẫu điển hình của nẻo đường này: dâng của lễ cho Chúa nhưng lại không chu toàn nghĩa vụ thảo hiếu với cha mẹ[x. Mt 15, 1-9]; gìn giữ từng chi tiết ô uế, nhưng lòng lại đầy gian ác[x. Mt 15, 10-20]. . . :
“Các ngươi nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ quên những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công bình, lòng nhân và thành tín”[ Mt 23,23;x.Lc 11,39]
Nhắm mắt vượt qua vực thẳm của đời sống thác loạn, người ta lại đành chối từ trước thực trạng giằng xé của đời người để giữ trọn những nguyên tắc không còn ý nghĩa đích thực.Nguyên tắc luân lý trở thành một gánh nặng đè bẹp thay vì là những nấc thang dẫn dắt con người vươn đến phẩm giá cao quí của mình. Đặc biệt, Chúa Giêsu đã không ngừng tố cáo mạnh mẽ những người nhân danh đạo đức của mình để lên án người tội lỗi[x. Lc 18,9-4].
1.3 Vực thẳm lối sống vô luân
Có lẽ không cần phải chứng minh hay mô tả nhiều về những con người vô luân, vì người ta có thể nhìn thấy những loại người ấy trong mọi xã hội vào mọi thời điểm.
Điều đáng nói là có một số người đã chọn nẻo đường phóng khoáng như một phản ứng chống lại những kẻ đạo đức giả. Người ta ngỡ ngàng khi nhận ra bộ mặt thật của những con người học thức, có chức vị cao cả hoặc những con người có tiếng là đạo đức. Sự thất vọng ấy đẩy họ rơi vào thái độ ngược lại. Phản ứng lại thái độ nệ luật giả hình, người ta lại quá dễ dàng khẳng định sự “tự do”của con người đối với mọi lề luật, quan trọng hóa quá đáng những hoàn cảnh riêng, chiều theo những yếu đuối vốn có của tâm lý con người và đưa cuộc sống con người vào con đường dễ dãi. Những người này quá dễ dàng phê phán những qui định luân lý, để sống theo cảm hứng của cá nhân và của từng hoàn cảnh, bất chấp mọi ảnh hưởng tác hại tới xã hội chung quanh cũng như bất chấp những khổ đau của người khác do hành vi vô luân của mình. Những người ấy quá dễ dàng phê phán những qui định luân lý, để sống theo cảm hứng của cá nhân và của từng hoàn cảnh, bất chấp mọi ảnh hưởng tác hại tới xã hội chung quang cũng như bất chấp những khổ đau của người khác do hành vi vô luân của mình. Những người ấy quá dễ dàng gạt bỏ mọi điều khó khăn, mọi đòi hỏi hy sinh, mọi tinh thần từ bỏ, để sống buông thả theo cảm hứng nhất thời của mình, sống theo sức ép của đoàn lũ mà không cần bận tâm đến những giá trị đạo đức.
2.. Sự tự do của con cái Chúa
2.1Từ chế độ luật sang chế độ ân sủng
Tin Mừng, đặc biệt Thánh Phaolô trong thư Galat và thư Rôma, cho thấy người Kitô hữu được ban ân sủng để vượt qua từ chế độ lề luật đến chế độ ân sủng:
-“Quả thế, Lề Lụât đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có”[Ga 1,17]
-“Tội lỗi sẽ không còn quyền chi đối với anh em nữa, vì anh em không còn lệ thuộc vào lề luật, nhưng lệ thuộc vào Ân Sủng”[Rm 6, 14t].
Đó không phải chỉ là một hồng ân”thiêng liêng”, trừu tượng hay thuần túy trong lãnh vực huyền nhiệm, nhưng là phẩm chất thực của người Kitô hữu, biểu lộ trong chính thái độ tự do thênh thang của con cái Thiên Chúa trước tất cả mọi sự khác. Đây là một cuộc vượt qua. Cuộc vượt qua này, trước tiên, mở ra cánh cửa giam hãm nhân loại lâu đời trong thế giới sự vật, đưa con người tìm lại vị thế làm chủ thế giới mà xưa kia nguyên tổ đã đánh mất. Hơn nữa, cuộc vượt qua này còn vượt xa tình trạng nguyên tổ trước khi phạm tội, để đưa người Kitô hữu vào vị thế là con của Thiên Chúa, đứng hiên ngang trong trời đất như một người làm chủ. Cuộc vượt qua ấy có thể giúp người Kitô hữu vượt thắng mọi úy kỵ vô duyên mà cũng chẳng rơi vào tình trạng vô luân; đó chính là hành trình “hóa rồng” của phận người.
Trong sáng tạo, con người đã là kẻ làm chủ vũ trụ. Thế nhưng tội lỗi đã làm cho con người trở nên kẻ phải “cậy nhờ” đến thế giới, chịu khuất phục và tuân theo qui luật của thế giới vô hồn. Con người trở nên lo âu trước những thế lực huyền bí của thiên nhiên, sợ hãi trước những đe dọa của quỷ thần, phải cúi mình phục lạy mọi thứ, mọi vật, từ những học thuyết, cho đến những danh nhân, những hệ thống tư tưởng và cho đến những thế lực huyền bí của vũ trụ, và nhất là cúi đầu phục lạy lề luật, xét như là lề luật.
Trong khi ấy, địa vị làm chủ khiến con người chỉ vâng phục một mình Thiên Chúa. Địa vị ấy còn được nâng cao hơn nữa trong chế độ ân sủng. Con người chỉ tuân phục trong tự do và trong tình con thảo trước Thiên Chúa, để nhờ địa vị cao cả này, con người thực hiện điều lành, dẹp tan sự dữ, và góp phần xây dựng Nước Trời như một người “trong gia đình”, như một người con tự nguyện và vui thích để xây dựng Nước của Cha.
Chỉ có cuộc vượt qua nhờ ơn sủng của Thiên Chúa mới có thể đưa con người băng qua vực thẳm kép, và đó là một cuộc vượt qua vĩ đại của nhân loại.
2.2 Tự do trước Lề luật và mọi thế lực
Thánh Phaolôcho thấy người con cái Chúa không còn phó thác vận mệnh của mình vào những chuyện cẩn thận giữ ngày giữ tháng:
“Trước khi, khi chưa biết Thiên Chúa, anh em làm nô lệ những sự vật tự bản chất không phải là thần. Nhưng nay anh em đã biết Thiên chúa, hay đúng hơn được Thiên Chúa biết đến, làm sao anh em còn trở lại với những yếu tố bất lực và nghèo nàn ấy, còn muốn làm nô lệ chúng một lần nữa? Anh em cẩn thận giữ ngày, giữ tháng, giữ mùa, giữ năm! Anh em làm tôi sợ rằng tôi đã vất vả uổng công vì anh em !“ [Gl 4, 7-11].
Đối với con cái tự do của Thiên Chúa, không còn chuyện hên-xui, không còn chuyện mê tín, và cũng chẳng có chuyện một thứ ưu đãi xã hội nào có thể có toàn quyền trên họ nữa. Chính phẩm giá con cái Chúa làm cho người Kitô hữu hiên ngang trước mọi thế lực, mọi đe dọa:
“Vậy anh em đừng sợ người ta… Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn” [Mt 10, 26.28].
Cũng thế người Kitô hữu cũng chẳng phải lo lắng về những khuôn khổ của các giới răn, tỉ mỉ tuân giữ lề luật của Môsê, vì Đức Giêsu Kitô đã giải thoát ta khỏi ách lề luật:
“Thật vậy, giả như có một luật nào đã được ban cho con người mà lại có khả năng làm cho sống, thì quả là người ta được nên công chính nhờ lề luật. Nhưng Kinh Thánh đã giam hãm mọi sự trong vòng tội lỗi, để nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Kitô, điều Thiên Chúa đã hứa được ban cho các kẻ tin” [Gl 3,21-22].
Đời sống của người Kitô hữu chỉ còn có Đức Giêsu làm lẽ cứu độ duy nhất. Một mình Ngài có quyền quyết định lẽ thành-bại của đời người. Đức Giêsu đã trở nên “đồ bị nguyền rủa” [Gl 3,13] vì chúng ta và thay cho chúng ta. Nhờ thực hiện trọn vẹn Thánh Ý Chúa Cha, Ngài thâu tóm mọi quyền thế trên trời dưới đất [x.Mt 28, 18-20], nhưng quyền thế ấy là để “ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Thế nên, Ngài trở nên tình yêu lớn hơn hơn mọi tình yêu để ban cho chúng ta, trở nên “người cùng phe” với chúng ta trên hành trình làm người của mỗi Kitô hữu.
Những điều cao quí hơn cả vẫn là: cho con người được đồng thừa tự với Đức Kitô và lãnh nhận “Thần khí Nghĩa tử” của Ngài để trở nên con Thiên Chúa:
“Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên : Áp-ba, Cha ơi! Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa”. [Gl 6-7]
Thần khí Nghĩa tử mà chúng ta được lãnh nhận khiến chúng ta được tự do. Không phải chỉ là tự do đối với “tội”, một thứ tội hoàn toàn thiêng liêng nào đó, nhưng còn tự do đối với mọi thế lực trần gian, mọi lề luật, đúng đắn hay úy kỵ. Theo một khía cạnh nào đó, đây là nét căn bản của ơn cứu độ:
“Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta” [Gl 5,1].
Như là những người được làm con Thiên Chúa, người Kitô hữu có thể ngẩng đầu hiên ngang; không phải lo lắng vì một lỗi phạm vô tình, không còn phải áy náy vì “vi phạm” một qui định hình thức, không phải so đo tính toán hơn thiệt trong ơn phúc; thậm chí người Kitô hữu cũng chẳng phải khuất phục trước những “điều lành” vì đó cũng chỉ là sự vật, là phương tiện mà thôi. Thiên Chúa biết tấm lòng của chúng ta và không gì hơn thái độ của niềm tin tự chính tấm lòng của mình.
2.3 Giữ luật trong tình bác ái
Tuy nhiên, ai cũng biết đây là vấn đề tế nhị. Người ta có thể đi từ chỗ nô lệ lề luật đến thái độ bất chấp mọi phương thế diễn tả ơn cứu độ thông qua lề luật. Thánh Phaolô cũng đặt vấn đề ấy:
“Vậy thì sao, Chúng ta cứ phạm tội ư, vì chúng ta không còn lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng ? Không đời nào!” [Rm 6,15]
Thánh Phaolô trình bày sự đảo lộn trật tự của giá trị cứu độ Việc giữ luật không còn mang tính quyết định về ơn cứu độ, nhưng chính là hoa trái của ơn cứu độ. Chính vì thế, sau khi đã tước bỏ quyền lực của chính lề luật Mô-sê trên người Kitô hữu, thánh Phaolô tìm một nền tảng khác cho lề luật, lề luật trở thành điều phụ thuộc vào đức ái:
“Quả thế, thưa anh em, anh em đã được kêu gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” [Gl 5,13]
Người Kitô hữu giữ luật trong Thần Khí Nghĩa Tử, giữ luật vì là con và giữ luật trong thái độ tự do của con cái. Như thế, luật lệ trở thành như phương tiện điễn tả thái độ yêu thương của con cái đối với Cha chứ không phải như một qui tắc vô hồn có tính áp đặt trên con người. Là người làm chủ lề luật, Kitô hữu nói chung cũng có quyền đoán định về những qui luật cụ thể của lề luật chứ không nhất quyết phải nệ luật hay chu toàn tỷ mỷ lề luật như một thứ luân lý úy kỵ. Là con người, Kitô hữu chỉ còn một qui chiếu duy nhất cho cuộc đời mình : lòng trung tín với Thiên Chúa và thể hiện đức Ai mà Thiên Chúa đổ vào lòng. Như thế người Kitô hữu được kêu gọi tuân giữ lề luật trong sự hiệp thông huynh đệ của những người con cái Thiên Chúa và vì lợi ích của anh em mình:
“Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Kitô” [Gl 6,2]
Thực sự đây là một bước nhẩy siêu việt mà con người, tự sức mình, khó có thể đạt được. Chỉ có Thần Khí Nghĩa Tử mới có đủ sức mạnh để người con cái chúa vượt trên lề luật mà không trở thành kẻ vô luân:
“Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc lề luật nữa” {Gl 5, 18]
Kết
Khi không nhận ra địa vị làm con, người ta sẽ so đo tính toán đời mình như một kẻ nô lệ. Đồng thời, khi không nhận ra địa vị làm con, người ta trở thành kẻ ghen tức khi so sánh với tha nhân. Người con cả trong dụ ngôn người cha nhân hậu [x. Lc 15, 11-32], thái độ của cô Mác-ta [x. Lc 10, 38-42], những người thợ làm vườn nho từ đầu ngày [x. Mt 20 1-16]… chính là những người cam chịu sống trong kiếp nô lệ trước nhan Chúa.
Lệch lạc luân lý chẳng phải chỉ là một xúc phạm đến Thiên Chúa mà con làm méo mó khuôn mặt của con người:
“Có phải chúng xúc phạm đến Ta – sấm ngôn của Đức Chúa- hay là xúc phạm đến chính mình, làm cho mặt mình phải xấu hổ ?” [Gr 7,19]
Như thế, Kitô giáo chẳng phải chỉ phục hồi những xúc phạm tới Thiên Chúa, bằng chính cách khẳng định những quy luật luân lý mà thôi, nhưng còn là một sự phục hồi thực sự phẩm giá con người.
Một chú bé viết cho mẹ một tờ giấy tính nợ:
“Trong tuần vừa qua :
con đã quét nhà cho mẹ, mẹ thiếu con 2.000 đ
con đã lau bàn cho mẹ, mẹ thiếu con 1.000 đ
con đã xếp quần áo cho mẹ, mẹ thiếu con 3.000 đ
Tổng cộng, mẹ thiếu con 6.000 đ”.
Nhận được tờ “giấy nợ” ấy, bà mẹ để 6.000 đồng trên bàn của con và vài dòng chữ như sau:
“Mẹ đã mang thai con chín tháng : miễn phí
Mẹ đã sinh con trong đau đớn : miễn phí
Mẹ đã cho con ăn uống 05 năm qua : miễn phí
Mẹ đã may sắm cho con quần áo và mọi thứ khác : miễn phí…”
Nhận được mảnh giấy ấy, chú bé mang trả tiền cho mẹ và xin lỗi mẹ vì thái độ tính toán của mình.
Quả thật, tinh thần con cái trong gia đình chẳng những có thể hóa giải những điều mà lý trí, những quan niệm công bằng xã hội, những quan điểm giải phóng chính trị… không thể làm nổi; nhưng hơn nữa, chính phẩm chất con cái trong nhà, với thái độ tự do và tinh thần liên đới trách nhiệm, mới có thể giúp con vượt qua được vực thẳm kép trên hành trình làm người.
Nhìn chung
Trong bầu khí hiện đại hóa và đô thị hóa ngày nay, con người sống trong những mối liên hệ chằng chịt với nhau. Hơn lúc nào hết, con người cần tới người khác, cần tới xã hội. Bất cứ sản phẩm nào trong cuộc sống con người hiện nay cũng đều nhắc nhớ đến người khác…
Tuy nhiên, điều nghịch lý là, trong một xã hội đầy rẫy những tương quan như thế thì con người lại trở nên cô đơn hơn, ít gặp gỡ hơn và cũng nẩy sinh nhiều vấn đề tâm lý hơn. Ta có thể thấy ngay là những mối tương quan của một xã hội phân công, của thế giới toàn cầu hóa, không phải là những mối tương quan ở bình diện ngôi vị, mà là sự lệ thuộc lẫn nhau về kinh tế, về các dịch vụ… Rồi những mối tương quan ấy lại càng ngày càng có khuynh huớng tiêu chuẩn hóa, theo những khuôn mẫu đánh giá của “khoa học” hoặc “kỹ thuật” : khoa học quản trị, khoa học tiếp thị, khoa học hội họp…
Trong xã hội “tiêu chuẩn hóa đến tận răng” như thế, mỗi cá nhân bị bó buộc phải chấp nhận những phong cách theo tiêu chuẩn chung, từ lời ăn tiếng nói, nụ cười câu chào, cho đến quần áo, xe cộ và nơi ăn chốn ở. Cá nhân dần dần không còn khám phá được nét độc đáo của bản thân, không còn có điều kiện thể hiện chính mình, nhưng phải tuân theo qui tắc chung. Xã hội đó là một xã hội tha hóa.
Mặt khác, tác giả cuốn “Lược khảo Triết Học PhươngTây Hiện Đại”, sau khi nhắc lại lời cảnh báo của E. Fromm rằng : vấn đề của thế kỷ XIX là “Chúa đã chết” [như Nietzsche đã nói], còn vấn đề của thế kỷ XX là “con người đã chết”, đã nhận định :“Ở thế kỷ XIX, sự tàn bạo chống lại con người, ở thế kỷ XX là sự tha hóa mang tính thần kinh phân liệt. Trong quá khứ, tai họa là ở chỗ con người trở thành nô lệ. Trong tương lai, con người có nguy cơ trở thành robot. Con người không còn là con người mà biến thành cái máy không tư duy, không tình cảm. Con người bị máy móc hóa và tự động hóa, trở thành một nhân tố khoa học kỹ thuật. Cho nên con người đánh mất mọi đức tính của mình, và không tồn tại như một nhân vị, một cá nhân nữa, con người bị đồng hóa, bị phi cá tính. Cá nhân trở thành điển hình trong mầu sắc” (Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng, Lược Khảo Triết Học Phương Tây Hiện Đại, Nhà xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2003, trang 322.). Như thế, thời đại ngày nay cũng là thời đại có nhiều nguy cơ chối từ căn tính của phẩm giá làm người.
Thêm vào đó, một vài quốc gia, một vài tổ chức xã hội, một số giáo phận, một số cộng đoàn tu trì hay giáo xứ trong Giáo Hội Công Giáo lại không dám để cho người dân, người tín hữu của mình có được một chút tự do tự quyết định và lựa chọn phương cách riêng. Nỗi ám ảnh trong đầu các vị lãnh đạo vẫn là làm sao bảo đảm được sự ổn định, an toàn, đồng loạt, chứ không phải làm sao để “người của mình” được phát triển trọn vẹn như một nhân vị độc đáo và cao cả. Những người lãnh đạo ấy không dám buông tay đứa con của mình để nó có thể tự bước đi. Cung cách quản trị như thế lại làm gia tăng cơn khủng hoảng căn tính do bầu khí thời đại, cũng như gia tăng sự tha hóa con người do qui luật xã hội.
Thật sự ra, nguyên nhân sâu xa của tất cả những hiện tượng ấy chính là một căn bệnh đã có từ đầu lịch sử con người: bệnh thực dụng (Nguyễn Trọng Viễn, Những Căn Bệnh Trầm Kha trong Đời sống đức Tin Công Giáo tại Việt Nam, Chân Lý 2003, bài “Đạo” Thực Dụng.”). Nguyên tổ loài người đã chọn thái độ thực dụng; cơn cám dỗ liên lỷ của con người trên hành trình làm người cũng là bệnh thực dụng. Đặc biệt, qua suốt tập sách này, chúng ta cóthể thấy tính cách thực dụng của người Kitô hữu trong hầu hết những điểm quan trọng nhất của đức tin Kitô giáo, đó là thái độ không tìm gặp gỡ chính Chúa, nhưng dừng lại ở những sự vật, những hệ thống tư tưởng, những ân huệ “thụ tạo”, những trang bị cho bản thân…
Hơn lúc nào hết, nhu cầu gặp gỡ, gặp gỡ chân thật với những nhân vị chân thật , trở thành nhu cầu cấp bách của con người cũng như của người Kitô hữu hôm nay.
Liệu chừng chúng ta có thể nhận ra cơn khát gặp gỡ của thời đại hôm nay để có thể công bố Tin Mừng yêu thương của Đức Giêsu ? Hoặc chúng ta sẽ phải “chờ đợi” vài chục năm, hàng trăm năm nữa, sau khi mà nhân loại đã chán chê những lý lẽ và tổ chức duy lý Tây phương, rồi tìm đến tư tưởng Đông phương bát ngát, mà cũng chẳng giải quyết được cơn khát gặp gỡ?
Thiên Cúa thực hiện nhiệm cục cứu độ như người Cha. Cha ban chính Con một của mình là Đức Giêsu Kitô; Cha mạc khải mình qua một giao ước dính dáng tới chính bản thân, và qua Lời Thần Khí; Cha ban Ân Sủng cũng không là gì khác hơn chính Đức Giêsu và Thần Khí của Ngài; Cha mời gọi con người như con cái bước vào trong đời sống Cánh Chung là chính Gia Đình Ba Ngôi.
Con người được mời gọi trở nên người con, những người con thông hiệp với Cha trong tâm hồn chân thành, như những người tự chủ, tự do, những người con biết chia sẻ vui buồn và có trách nhiệm với chương trình của Cha.
Nẻo đường của đức Tin Kitô giáo thực sự là nẻo đường của gặp gỡ chân thật, vượt trên những tiêu chuẩn “kỹ thuật” có tính xã hội, và vượt cả thái độ ung dung tự tại của hiền nhân, để đi vào tình tự yêu thương như những người thuộc về nhau trong một gia đình. Đó là nẻo đường tôn trọng mỗi cá nhân và là nẻo đường làm cho con người tìm gặp được chính bản thân mình; đồng thời đó cũng là nẻo đường gặp gỡ cá nhân với cá nhân, nối kết cộng đoàn với cộng đoàn. Nẻo đường ấy rộng mở để đưa con người đến sự tự do đích thực của con cái Chúa.