Câu Chuyện Mác-ti-nô - Phần 4
Nói về tình yêu hoặc nói về đời sống luân lý nói chung, chúng ta thấy trước mắt Bài giảng Trên núi của đức Giêsu : "...Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. (...) Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện".(Mt 5,43-48)
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
7. Bài ca bác ái
7.1 Cung điệu nào cho bài ca bác ái ?
Nói về tình yêu hoặc nói về đời sống luân lý nói chung, chúng ta thấy trước mắt Bài giảng Trên núi của đức Giêsu : "...Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. (...) Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện".(Mt 5,43-48)
Thực sự bài giảng trên núi của đức Giêsu là đỉnh cao của mức độ luân lý. Điều lạ lùng là, trong khi những thính giả của đức Giêsu vốn là những người bình dân và đức Giêsu luôn dùng những hình ảnh đời thường để những con người bình dân ấy có thể hiểu được; thế mà, với những con người tầm thường ấy, Ngài lại trình bày một thứ luân lý siêu vời mà ngay cả những nhà đạo đức cao cả cũng không thể thực hiện được... Thực ra bài giảng trên núi không phải là một bản quy luật luân lý, nhưng thiết yếu là công bố sự hiện diện của Nước Trời "gần đến", nghĩa là Nước Trời đã có mặt và đang lớn lên... Những đẳng cấp luân lý cao vời trong bài giảng trên núi không phải là lời kêu mời con người nỗ lực tập luyện, nỗ lực vươn lên bằng sức mạnh ý chí của mình, nhưng chính là lời công bố hoa trái Nước Trời đã bắt đầu từ chính bản thân đức Giêsu, Đấng là Trung Tâm của Nước Trời...
Có một thứ đức độ mang tính luân lý, được học hỏi, được rèn luyện, được trau dồi thành thói quen đạo đức... Thứ đức độ ấy phát xuất từ "đạo dạy người ta ăn ngay ở lành", đạo ấy nhắm vào hành vi luân lý của con người, và đưa con người vươn lên cao hơn trong văn hóa đạo đức, văn hóa của những người cao cả đáng kính trọng; đạo đức để xứng đáng với địa vị làm con cái Chúa, để xứng đáng với địa vị là một tu sĩ hay một linh mục,... Người ta phải sống sao cho đúng với phẩm cách của mình, theo kiểu "y phục xứng kỳ đức". Đó là thứ đạo đức được vận hành trong giới hạn đời sống luân lý của con người. Nhưng thứ đạo đức này thường dễ đúc nặn nên những đấng bậc "đạo đức đáng kính (sợ)"...
Có thứ đức độ được bộc lộ trong hành vi luân lý như một bản năng tự nhiên, như sự ứa tràn từ một mạch nguồn khác với những nỗ lực, khác với quyết tâm của con người. Đây lại là thứ đạo đức có rễ hút chất sống trong "mảnh đất tín lý", nghĩa là trong một thực tại đức Tin toàn diện và căn bản hơn. Thứ đức độ này không phải là nỗ lực "đau đâu chữa đấy" hoặc để "bổ phổi", "bổ tim", "bổ óc", mà là tìm cho đúng nguồn mạch dinh dưỡng của toàn cơ thể. Đây là thứ đạo đức bắt nguồn từ một nguồn mạch "bên dưới" mà những ai nhìn nhận chân thật con người của mình, tin tưởng vào Chúa thì đó nhận được. Đây lại là hình ảnh, một lời chứng về sự sống siêu nhiên, tạo nên một dáng đứng "tâm linh dễ thương"...
Đọc văn kiện "Cảm thức đức Tin trong Đời Sống Giáo hội", chương hai, ta có cảm tưởng như thấy rõ mồn một bóng dáng của một Martino mộc mạc được mô tả :
"Nhân đức là một loại 'bản tính thứ hai', nhờ đó, con người xây dựng chính họ bằng cách thể hiện một cách tự do và phù hợp với những lý lẽ đúng đắn, các năng động tính được phú bẩm ngay trong bản tính con người. Nhờ thế, nó đem lại cho hoạt động của các khả năng tự nhiên một xu hướng nhất định và ổn định; nó điều hướng các khả năng này tới những tác phong mà người có nhân đức từ nay thực hiện được "một cách tự nhiên", "dễ dàng, tự chủ và hân hoan".
Điều lạ lùng là Martino không có một sự cố gắng để sống bác ái. "Nỗ lực" của Martino, khi còn là một đứa bé, lại chính là nỗ lực "vâng lời mẹ để không sống bác ái"
Tuần trước, mẹ cậu đã nổi giận khi cậu đặt vào mũ của một ông già hành khất một đồng bạc mà mẹ đã nhờ cậu đi mua bánh. Khi trở về tay không, mẹ cầu đã quất cậu bằng chiếc roi rất cứng, cả thân thể cậu bị bầm tím. Tuy rất đau đớn nhưng cậu không thể nào quên được nụ cười trên mặt ông già này, mỗi khi có ai làm phúc cho ông.
Cậu nói : "con sẽ cố gắng không cho ai tiền nữa mẹ ạ. Chỉ khó là khi thấy một người già, đói khổ mà lại chẳng có gì cho họ ăn" (Bác sĩ tí hon, trang 10-11)
Công việc bác ái của Martino thật là nhiều và thật đa dạng, từ việc cấp bách trước mắt như chữa bệnh cho những bệnh nhân nghèo, cứu giúp những trường hợp nguy tử, cho đến việc cần sự kiễn nhẫn lâu dài như mang lương thực và đồ dùng cho những binh sĩ nghèo, trợ giúp những tù nhân trong trại giam, chăm sóc cho linh mục và tu sĩ đau yếu trong nhà; và những việc nhỏ bé như mang cho đứa bé một món quà, khuyên bảo và dạy các em cầu nguyện, sống bác ái... Tất cả những việc bác ái ấy được thực hiện như thể đó là việc đương nhiên, toát ra từ một tâm hồn tràn ngập tình yêu. Tất cả đều mang một tâm tình tự nhiên, an vui với chính mình, an hòa với mọi người, có khả năng hòa giải cả những "xung đột nghĩa vụ" giữa những trách nhiệm và kỷ luật đời sống tu trì với nhu cầu bao la của việc bác ái... Những việc bác ái của Martino tựa như những nốt nhạc bay nhẩy thăng trầm thật hồn nhiên trên cung bậc hòa âm của bài đồng ca bác ái. Sự hài hòa và biến tấu vừa phong phú, vừa ngẫu hứng lại vừa đúng mực ấy toát lên như một điều hòa âm du dương trong âm vực thánh thiện của Chúa. Âm vực hòa điệu ấy không có sự gượng gạo, không có sự cường điệu, không có sự gian dối ngấm ngầm, không có lỗ hổng tinh vi của Satan...
Một lần kia, có một người da đen bị cướp và bị đánh trọng thương. Martino băng bó vết thương cho nạn nhân rồi cõng về tu viện, có y cấp cứu nạn nhận qua cơn nguy tử rồi sẽ đưa về nhà chị để điều trị. Mặc dù cha bề trên đã có lệnh cấm mang bệnh nhân vào phòng riêng, nhưng vì tình thế cấp bách, Martino đành cho bệnh nhân nghỉ tạm trong phòng của mình. Thầy đã nói một cách đơn sơ với bề trên : con chưa biết được việc bác ái phải nhường bước cho sự vâng phục .....
Quả thật, lòng bác ái của Martino cũng mang tầm mức "tín lý" chứ không dừng lại ở mức độ "luân lý". Lòng bác ái của Martino là sự chìm sâu và thân phận đích thực của con người trước mặt Chúa, để rồi đón nhận nguồn mạch tình thương từ chính Chúa. Điều quan trọng của lòng bác ái này không phải là ráng tập luyện nhân đức cao cả mà khi đã thành đạt được thì người ta lại khó lòng để khiêm nhường thực... Ngược lại, khi người ta càng xác tín sâu xa bao nhiêu về hồng ân được lãnh nhận, thì lại càng nối kết được đời sống của mình với nguồn mạch yêu thương của Chúa nhiều hơn.
Bài ca bác ái được cất lên không phải với giọng solo của Martino, nhưng là bài đồng ca về tình yêu kỳ diệu của Thiên Chúa vẫn ngân vang qua mọi thời đại, qua nhiều cung bậc của các người tín hữu khác nhau. Trong bài đồng ca ấy, cung điệu lòng thương xót của Chúa đã tìm thấy một nhạc cụ thích hợp nơi con người mộc mạc Martino...
Chúng ta biết rằng tín lý khẳng định "Giáo hội thánh thiện". Điều đó có nghĩa là Giáo hội được nuôi dưỡng, được nâng đỡ bằng sự thánh thiện của Chúa. Khẳng định Giáo hội thánh thiện không phải là kết quả của sự so sánh điểm số hơn thua giữa người Kitô hữu với những tín hữu của các tôn giáo khác. Giáo hội vừa thánh thiện vừa bao gồm những tội nhân, Giáo hội thánh thiện vì được nâng đỡ từ chân.
Khát vọng vươn lên chính là vận mệnh của con người. Con người không thể không vươn lên, và kẻ nào không còn muốn vươn lên thì kẻ ấy chẳng còn ý nghĩa của cuộc sống nữa. Nhưng Sách Thánh cũng cho ta một lời cảnh giác vô cùng nguy hiểm : trong nỗ lực vươn lên cao hơn, có âm mưu của Satan. Adong và Evà đã muốn được nên sáng mắt và sống như Thần Thánh, được hoàn thành đời mình bằng con đường.... Quả thực con người chỉ có thể được cứu độ nhờ quyền năng của Thiên Chúa. Từ chối con đường cứu độ của Thiên Chúa, con người chỉ có một cách duy nhất, con đường vươn lên, vươn lên cao hơn người khác, cố gắng hết sức mình để vươn lên cao hơn và cao hơn nữa. Nhưng ở nền tảng của con đường này, như đã nói, là một bất công. Con người ta không có khởi điểm bằng nhau, và kẻ có ưu thế thì đè bẹp người yếu thế.
Con đường cứu độ mà Thiên Chúa mở ra cho con người không phải là con đường tiếp tục củng cố sự bất công trong thế giới con người. Con đường cứu độ của Thiên Chúa mở ra ở dưới chân con người chứ không phải là con đường "trên nóc nhà".
7.2 Đặt mình trong dòng sự sống phong phú
Một dấu chỉ cho thấy sự sống đích thực và niềm vui đích thực đó là tính phong phú. Sự sống chân thực luôn có khả năng hút nhựa sống và trổ sinh hoa trái. Một sự sống trí thức đích thực sẽ nhạy bén để tìm đến những nguồn mạch tri thức tốt cho hành trình đời mình, thư viện này, buổi thuyết trình kia, gặp gỡ con người ấy... Có không ít người vẫn ngày ngày cắp sách đến trường mà vẫn không có sự sống trí thức, người ấy học để đối phó, học để "làm quan", học để hưởng thụ trong sự thành đạt... Những người ấy không tìm được ý nghĩa và niềm vui trong việc học và sẽ không phát triển phong phú được.
Tin Mừng cho ta thấy sự sống của Chúa luôn biểu lộ với dấu chỉ phong phú. Đức Giêsu nuôi những người đói ăn với những thúng bánh và cá còn dư, đức Giêsu cho thấy ai có sẽ được cho thêm (Xc. Mt 13,12), đức Giêsu cho thấy Thiên Chúa sẽ đổ vào vạt áo người sống bác ái với những lường đong tràn trề (Xc. Lc 6,38), đức Giêsu nói điều đẹp lòng Chúa cha là anh em sinh nhiều trái (Xc. Ga 15,8)...
"Ta bảo thật các ngươi, nếu đức công chính của các ngươi không dư dật hơn ký lục và Biệt Phái, các ngươi sẽ không vào được Nước Trời" (Mt 5,20. theo bản dịch cha Nguyễn Thế Thuấn, CSSR)
Tình yêu của Chúa không phải là một tình yêu đóng, giới hạn đối tượng, tính toán mức độ, nhưng luôn là một sự phong phú tràn trề, biểu lộ sự sung mãn vô tận. Đời sống bác ái Kitô giáo dĩ nhiên không phải là nỗ lực tự nhiên mà thôi, nhưng luôn phải được nối kết và dòng sự sống sung mãn ấy. Người sống tình yêu ấy không có sự tính toán hơn thua của một nhân cách nghèo nàn.
7.3 Dòng nhạc của bè phụ
Tu viện Đa Minh gặp tình trạng khó khăn về kinh tế. Tu viện có một món nợ lớn cần phải trả... Cậu giúp việc Martino cũng đã nghe biết chuyện tu viện mắc nợ. Cậu đã suy nghĩ, cầu nguyện nhiều cho việc ấy... Martino thầm nghĩ : Chúa ơi, con đã sống chín năm trong tu viện này. Con đã được ăn, được ở, có quần áo mặc... xin Chúa để con có thể giúp được gì cho những người đã giúp đỡ con bấy lâu.
Ngày kia, cha bề trên đem một số bức tranh quí giá trong tu viện đi bán để giải quyết vấn đề kinh tế của tu viện. Nhìn thấy thế, Martino không cầm lòng được, cậu xin cha bề trên bán cậu làm nô lệ để có tiền trang trải nợ nần...
Martino muốn bán bản thân mình để tu viện giữ lại được những bức tranh quí giá, đó có phải là một sự xúc phạm đến phẩm giá con người không ? Quả thật không một vật dụng nào, dù là những bức tranh quý giá hay vàng bạc châu báu có thể đổi hoặc mua lấy một con người. Martino có lẽ cũng chẳng hiểu được lý lẽ của triết lý xã hội ấy.
Thế nhưng, nên nhớ rằng nhiệm cục của tình yêu Kitô giáo chỉ hoàn thành khi dính dáng đến mạng sống, đến vận mạng một đời người. Đức Giêsu đã từng nói : không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu, và đức Giêsu đã thực hiện nguyện tắc đó bằng cái chết trên thập giá để cứu độ nhân loại. Nẻo đường đức Giêsu vẽ ra cho thấy vận mạng của con người chỉ được hoàn thành khi người ta ra khỏi được bản thân mình nhờ thành thật hiến dâng; và khả năng để ra khỏi bản thân mà không đánh mất bản thân chỉ có thể bằng con đường tự nguyện, tự nguyện hiến dâng.
Mặt khác vấn đề ở đây không phải là bài toán so sánh giá trị giữa những bức tranh quí giá và phẩm giá cao qúi của một con người. Martino mong muốn giữ lại những bức tranh cho tu viện, đó không phải là vì sự quý giá của bức tranh, mà là vì sự linh thánh của tu viện, vì đời sống đức tin của người tín hữu, và sâu xa hơn hết là vì Chúa. Lòng quảng đại của Martino là lòng quảng đại vì Chúa và vì Giáo hội chứ không phải là một bài toán kinh tế hoặc bài giải cho một khúc mắc triết học. Nét hài hòa tự nhiên của một lòng bác ái được bắt nguồn từ ơn cứu độ, từ tình yêu của Chúa lại càng được thể hiện một cách "ngẫu hứng" mà lại hòa điệu biết bao.
Thật ra tình yêu hy sinh cho nhau càng lớn hơn khi mà sự hy sinh đó được thể hiện qua những điều nhỏ mọn. Một đứa con sẵn sàng bay qua cửa sổ một tòa nhà cao tầng để chụp cái áo bị rơi, nhưng thật ra đó không phải là sự liều lĩnh mạng sống của mình vì cái áo, đó là sự quí trọng tình nghĩa, hay quí trọng chính bản thân người mẹ, vì chiếc áo đó là cái áo kỷ niệm do chính tay mẹ may. Ta còn có thể thấy nhiều việc điên rồ hơn thế nữa... những sự việc ấy đừng nên bị cắt khúc thành một mẫu vật, được soi tỏ bằng kính hiểu vi của những giá trị thời thượng.
Trong gia đình, bình thường, công việc của người mẹ là những thứ việc "phù du" nhất. Công việc của người mẹ không đọng lại thành một công trình, nhưng là những thứ việc trôi đi theo ngày tháng : nấu cơm, rửa bát, quét nhà, giặt quần áo... Công việc của một bà mẹ trong gia đình như bị dìm vào trong sự tẻ nhạt của những việc lập đi lập lại, lập đi lập lại hằng ngày và lập đi lập lại trên hành của cả một đời người... Bình thường, sự nhàm chán sẽ là hệ quả gần như tất nhiên của người làm những công việc ấy.
Tuy nhiên, điều vẫn diễn ra hằng ngày và phổ biến khắp nơi ấy lại là dấu chứng của một mẫu mực tình nghĩa đẹp nhất trên trần gian : tình mẫu tử. Một người mẹ làm những công việc phù du nhất, thực ra, là xây dựng nên những con đường thông thoáng nhất để đạt tới ai khác. Công việc của một người mẹ không đọng lại trong một công trình, nên không phản chiếu lại niềm tự hào ngấm ngầm của một cái tôi mở rộng. Một vĩ nhân có thể để lại một tác phẩm vĩ đại, tác phẩm ấy có thể chỉ góp phần trang điểm cho chính bản thân của vĩ nhận; con đường ấy có nhiều nguy cơ không thông thoáng, có nhiều nguy cơ làm vì mình, cho mình; công trình và tác phẩm ấy chưa hẳn là để phục vụ ai mà trước tiên là để thể hiện cái tôi của mình... Nhưng người mẹ lại tạo nên được một hành lang thông thoáng nối kết những con người với nhau, công việc phù du chính là biểu lộ rõ nét về bản chất của hành vi, đó là thứ công việc vì ai, cho ai.
Kết quả có thể nhận ra được là, gia đình nào có mẹ, mọi người sẽ cảm nhận được thực trạng thuộc về nhau. Bầu khí gia đình mọi người nhận thức mình thuộc về nhau giúp cho tâm hồn được bình an, san sẻ công việc và san sẻ được những thành quả công việc với nhau.
Bà mẹ tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình, tìm thấy niềm vui trong công việc của mình không phải bằng cách vun đắp bản thân mình, những là một sự hy sinh "mạng sống" từng ngày qua những công việc nhỏ bé phù du nhất. Ở đáy sâu cuộc đời, có một sự thông hiệp kỳ diệu, giống như những việc làm của bà mẹ trong nhà. Ở đáy sâu cuộc đời, mọi sự đều là của chung, mọi việc làm đều là phục vụ, mọi người đều là anh em,
Có một thứ đẹp của phụ nữ, nét đẹp của khuôn mặt, nét đẹp trong cung cách duyên dáng, hoặc nét đẹp quí phái nào đó. Nhưng ta cũng thấy được một thứ nét đẹp "linh thiêng" nơi một người phụ nữ mang bầu, nơi một "bà cố cha" gầy gò, khắc khổ... Có thứ nét đẹp dễ bị phai lạc theo tuổi tác và thời gian, đó là nét đẹp của cuộc đời "làm hoa"; nhưng cũng có thứ nét đẹp càng mặn mà, càng linh thiêng càng ngày càng huyền nhiệm hơn qua dòng thời gian, đó là nét đẹp của cuộc đời "làm hạt".
Lòng bác ái của Martino đã đi vào nẻo đường của người mẹ, đi vào nẻo đường làm hạt. Chính con đường đó tỏ lộ nền tảng chân thật nhất của Nước Trời...
7.4 Bác ái trong Niềm vui
Cuộc đời con người có hai phần chính, cuộc đời làm hoa và cuộc đời làm hạt. Cuộc đời con người bắt đầu từ một hài nhi bé bỏng, yếu ớt, bất lực, phải lệ thuộc tất cả vào người khác. Thế rồi đứa bé ăn uống, học tập và tích lũy bao nhiêu năng lực khác mỗi ngày mỗi nhiều hơn, trong niềm mong mỏi thời gian qua mau từng ngày, từng năm để được thêm tuổi, thêm khôn ngoan, thêm cao lớn, có khả năng thể hiện chính mình và được tự do quyết định hành vi của mình. Nhưng rồi chẳng mấy chốc, người thanh niên đẹp đẽ, sung sức và đầy tài năng ấy vượt qua đỉnh cao cuộc đời để đi vào quá trình xuống dốc. Sức khỏe và tài năng cứ vơi đi dần theo năm tháng; rồi anh ta lại phải từng ngày chống chọi với nhịp điệu mau lẹ của thời gian, mong ước thời gian đi chậm lại, mong ước tuổi già lâu đến . . .
Quả thật nhìn vào biểu đồ ấy ta thấy cuộc đời con người khá bi đát. Cuộc đời vẫn cứ trôi và cái đỉnh cao cuộc đời ấy nhiều khi chỉ là một bức màn mỏng, thật mỏng, thật phù du; đụng vào nó rồi, người ta sẽ thấy lộ ra ngay sau đó một con đường xuống dốc. Quả thật, nếu người ta sống để đi tìm đỉnh cao đời người như thế, thì cuộc sống con người quá kỳ cục. Cuộc đời như một trò lừa đảo. Cái đỉnh cao đời người giống như một tấm bánh vẽ. Đó là cái bi đát chung của phận người.
Một cách nào đó, chúng ta có thể nói được rằng cuộc đời đi tìm đỉnh cao như thế chính là “cuộc đời làm hoa”. Bông hoa bao giờ cũng tươi tắn, rực rỡ, đẹp đẽ. Bông hoa là thành quả tập trung của tất cả những cái tốt nhất của đời cây để chứng tỏ bản thân mình, để khoe sắc một lần. Thế nhưng bông hoa thì bao giờ cũng mau héo tàn. Nếu người ta vô tình chọn cách sống cuộc đời theo kiểu "cuộc đời làm hoa", người ta sẽ thấy rằng mình bị lừa, cú lừa làm mất đi chính cuộc đời; nếu người ta cố tình chọn cách sống ấy, nghĩa là hàm ý nghĩa lựa chọn thái độ : thà rực rỡ một lần rồi tàn héo; thà huy hoàng một phút còn hơn lầm lũi cả đời. . . Đó là một lựa chọn liều lĩnh quá rồ dại.
Nếu nhìn vào đời cây, ta thấy rằng cây không phải chỉ là kiếp hoa; và suy đến cùng, hoa chỉ là một giai đoạn cần phải trải qua để thành nên hạt. Đời cây cần có hoa để thu hút ong bướm, rồi vượt qua thời kỳ nở hoa để đi đến thời kỳ đậu hạt. Mục đích của hoa chính là hạt; ý nghĩa chân chính của hoa chỉ thể hiện được khi hoa biến thành hạt. Cuộc đời làm hạt thì không rực đỡ, không khoe sắc tỏa hương, không tươi tắn mềm mại, không thu hút bướm ong. Những cuộc đời làm hạt vẫn có nét “huyền nhiệm”, cao quí, có nét đẹp riêng của nó. Cái đẹp của hạt không lồ lộ ra ngoài, nhưng ẩn dấu trong dáng vẻ xấu xí. Cái cao quí của hạt không phải là khoe mẽ bên ngoài nhưng là ươm mầm bên trong. Hạt cho đi chính bản thân mình, dâng tặng trọn vẹn và tuyệt đối, vì hạt bao giờ cũng phải thối đi để nẩy sinh những bông hạt khác.
Đỉnh cao đời người là cuộc đời làm hoa hay cuộc đời làm hạt ? Thế thì nét đẹp chân chính của đời người là rực rỡ để thu hút hay quảng đại, âm thầm để cho cho đi ? Thật ra , cuộc đời làm hoa có nét đẹp và có sự cần thiết của vận hành của cuộc sống, trong đời sống xã hội. Nhưng điều mang lại ý nghĩa chân thực cho đời người, hóa giải được nét bi đát trớ trêu của kiếp người lại chỉ có thể là nửa phần làm hạt của đời người. Ngay cả khi một đứa bé cần được ăn, được học, được phát triển tốt đa trong cuộc đời làm hoa, thì đứa bé ấy cũng cần được hiểu, được trải nghiệm nét đẹp của chiều hướng làm hạt rồi.
"Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác".(Ga 12,24)
Nói một cách tổng quát, có ba thứ vui trong cuộc đời :
- Vui vì sự xấu xẩy ra cho người khác, đó là niềm vui của quỷ.
- Vui vì sự thành đạt của bản thân mình, đó là niềm vui của người.
- Vui vì có thể làm cho người khác được vui, đây là niềm vui của Chúa.
Bình thường, con người tìm sự thành đạt cho bản thân mình, và những phản ứng vui buồn của đời người cũng thăng trầm theo mức độ thành đạt ấy. Tìm thành đạt cho bản thân mình cũng như những nỗi vui buồn ấy chưa hẳn là xấu và có lẽ cũng chưa rõ là đẹp. Nó là khát vọng tự nhiên của con người. Nhưng nẻo đường ấy cũng có khá nhiều nguy cơ, nguy cơ của một cuộc đời chỉ sống cho mình, đóng kín trong niềm vui và nỗi buồn của mình.
Thứ vui buồn ấy cũng rất thường được vun đắp bằng cách so sánh, bằng thứ tính toán đời mình theo thang điểm thi đua... và gieo mầm cho thứ vui của quỷ. Có lẽ vì thế mà xã hội Việt Nam hôm nay có quá nhiều thứ trò vui của quỷ. Người ta giải tỏa nỗi uất ức của mình khi có kẻ khác đau khổ hơn mình, người ta tìm được những lời nhạo báng thâm độc cho những người rơi vào tình trạng tội phạm nào đó. Thứ niềm vui của quỷ thường là một cách thức giải quyết tình trạng thiếu niềm vui của người. Cách thức "giải quyết" ấy càng ngày càng đánh mất niềm vui đích thực, có khả năng đem lại hạnh phúc thật cho con người, đánh mất khả năng thưởng nếm niềm vui của Chúa. Khi thưởng nếm được niềm vui của Chúa, con người cũng có thể hòa giải được khát vọng tìm niềm vui của người một cách lệch lạc.
Niềm vui mà Martino tìm thấy trong cuộc đời thấp hèn, trong những công việc phù du, trong việc phục vụ người khác trong những việc bé mọn nhất, quả thật là thứ niềm vui làm tươi mát cuộc đời. Cuộc đời của Martino luôn gắn liền với nụ cười, với một sự bình an sâu xa nhờ lòng trông cậy hoàn toàn vào Chúa. Đây là thứ bác ái trong niềm vui.
***
Không bài ca nào đẹp bằng bài ca bác ái.
Bài ca bác ái đi vào lòng người, ngân nga cung điệu bình an trong lòng con người.
Nhưng ai sẽ dạy ta hát bài ca bác ái ? Ai sẽ cùng hát với ta bài đồng ca bác ái ?
Bài ca bác ái như lạc giọng giữa bao tiếng ồn đòi thăng tiến.
Xin lòng thương xót Chúa hát lên trong tâm con bài ca bác ái của chính Chúa.
8. Bài ca vũ trụ
8.1 Bài ca Núi Thánh
Tâm hồn mộc mạc của Martino giống như một vùng quê an bình, một dòng suối mát, một giai điệu du dương... khiến cho mọi người và cả những con vật đều tìm thấy một sự bình an.
Những con chó mèo ngoài phố cũng coi cậu như bạn của chúng vậy. Không một con vật nào lại không tới gần Martino khi cậu gọi chúng đến, kể cả những con vật hoang dại nhất (Bác sĩ tí hon... trang 10)
Lịch sử On cứu độ là một hành trình lịch sử, trong đó, con người luôn được mời gọi để nhớ lại những gì Thiên Chúa đã làm và mơ tới một tương lai tươi đẹp mà Thiên Chúa đã hứa. Lịch sử ấy vẫn cứ công bố những kỳ công dấu lạ Chúa đã làm, vừa lại vẫn mời gọi một lòng khao khát vùng "đất hứa". Cuộc di dân từ Ai Cập về Đất Hứa đã kéo dài suốt 40 năm cũng nhằm để ghi dấu một khát vọng khôn nguôi về Đất Hứa trong tâm hồn người Dân. Vùng Đất hứa ấy kéo dài từ sông Ai Cập đến tận sông cả , tức là một vùng đất mà chưa bao giờ dân Israen đạt được trong dòng lịch sử. Một nỗi khao khát "đất hứa" được nung nấu mãi, tạo nên một cơn khát mà chưa bao giờ người Dân được thỏa lòng. Rồi một khi đã vào được đất Palestin, người dân lại được mời gọi để hướng lòng trí tới một Giêrusalen trên trời...
Nếu không có nỗi nhớ, người Dân sẽ mất lòng trông cậy, và nếu không có ước mơ, Người Dân sẽ xử lý mọi sự theo tính thực nghiệm, theo mối lợi trước mắt. Nỗi nhớ về những kỳ công dấu lạ Chúa đã làm và giấc mơ về những gì Chúa sẽ thực hiện trở nên như hai cực định hướng cho hành trình của Dân.
Chính trong khung cảnh ấy, ta hiểu được nét đẹp của Bài Ca Núi Thánh mà Isaia đã vẽ lên. Isaia đã vẽ nên một hình ảnh quá đẹp đến độ không-tưởng.
Is 11, 6-9 : Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ.
Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau,
một cậu bé sẽ chăn dắt chúng.
Bò cái kết thân cùng gấu cái,
con của chúng nằm chung một chỗ,
sư tử cũng ăn rơm như bò.
Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục,
trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang.
Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá
trên khắp núi thánh của Ta,
vì sự hiểu biết ĐỨC CHÚA sẽ tràn ngập đất này,
cũng như nước lấp đầy lòng biển.
Nhưng bức tranh Núi Thánh ấy chính là khát vọng sâu xa, dai dẳng trong tâm hồn con người. Với một ước mơ đẹp như thế, con người mới không "đụng trần", nhưng có được một "chân trời" để bước đi mãi; chính ước mơ đẹp ấy giúp con người có thể ướm những biến cố và sự kiện trong thực tế đời thường, vào chân trời cứu độ toàn vẹn. Chỉ trong chân trời tuyệt đẹp đó, những vất vả, nhưng hy sinh, những mất mát mới tìm thấy ý nghĩa của nó.
Một đứa bé ngồi bệt dưới đất, hý hoáy vẽ điều gì đó trên giấy. Một vị linh mục đi qua, nhìn thấy.
Vị linh mục nói : tại sao con lại vẽ bậy trên giấy như thế ?
Đứa bé trả lời : con đâu có vẽ bậy, con vẽ Chúa Giêsu mà !
Linh mục : cha có thấy gì là Chúa Giêsu đâu, cha chỉ thấy con vẽ toàn những con giun.
Đứa bé : cha ơi, cha phải ướm tờ giấy này vào hình Chúa Giêsu trên tường kia cha mới thấy. Con mới vẽ tóc của Chúa, còn mắt mũi thì từ từ sẽ vẽ ra. Tóc của Chúa đâu phải là giun...
Cái nhìn của vị linh mục chính là cái nhìn thiếu viễn cảnh ước mơ, một cái nhìn "vô đạo", chỉ thấy những gì trước mắt và khẳng định chỉ có thế thôi. Trong khi đó, cái nhìn của đứa bé diễn tả cái nhìn của đức Tin, một đức Tin chân chính với yếu tố ước mơ. Nên nhớ rằng yếu tố "mong chờ Chúa lại đến", mong chờ ngày Quang Lâm, là yếu tố thiết yếu của một đức Tin Kitô giáo.
Tầm nhìn ước mơ ấy không thể thiếu trong hành trình đức Tin, vì nhờ chân trời ước mơ ấy, người Kitô hữu có thể ướm thực tại trần gian, ướm những thứ giống như "giun dế" của trần gian vào viễn cảnh Nước Trời. Khả năng ướm như thế có thể thay đổi bản chất của thực tại cũng như thay đổi phẩm tính của cách nhìn. Trong tầm nhìn hướng về chân trời Nước Chúa, con người khám phá ra chiều sâu đích thực của thế giới, đón nhận được dưỡng chất trần gian đúng đắn....
Thiếu tầm nhìn Cánh chung, thế gian sẽ phải suy tính rằng : muốn hòa bình thì phải chuẩn bị chiến tranh. Ngược lại, người tín hữu đặt thế giới này trong chân trời tươi đẹp thì lại nhận ra rằng : dù có phải chiến tranh thì cũng là để xây dựng hòa bình. Một thế giới không còn viễn tượng hòa bình, thì sẽ trở thành chiến trường; một thế giới không còn thấy khát vọng sâu xa nhất của đời người, sẽ trở thành nơi vội vã hưởng thụ, tranh thủ bòn rút, vô cảm đáng sợ...
Thiên Chúa sẽ "biến gươm đao thành cuốc thành cầy, rèn giáo mác nên liềm nên hái" (Is 2,1-15); Thiên Chúa sẽ thết đãi muôn dân một bữa tiệc rượu ngon thịt béo", Ngài xé bỏ tấm khăn che phủ mọi dân; Ngài lau khô dòng lệ trtên khuôn mặt mọi người...(Xc. Is 25,6-10)...
Phụng vụ Kitô giáo chính là bài ca Núi Thánh được hát lên hằng ngày. Hãy hát lên bài ca Núi Thánh của Chúa với nội dung sống động và chân thực của cuộc sống con người với nhau cũng như của việc lao động, người Kitô hữu sẽ thấy tha nhân không phải chỉ là và luôn là sư tử, cọp, beo,... nhưng sẽ có ngày thế giới là một gia đình "tứ hải giai huynh đệ"; người ta sẽ thấy rõ hơn bóng dáng một vũ trụ tươi đẹp muôn mầu như đã được Thiên Chúa sáng tạo.
8.2 Vũ trụ ngong ngóng đợi chờ
Rm 8, 19-22 : Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy ; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang. Thật vậy, chúng ta biết rằng : cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. ..."
Sách Sáng Thế đã thực hiện một cuộc cách mạng lớn đối với quan niệm về vũ trụ. Không phải vũ trụ cao cả hơn con người, vũ trụ là một "đại vũ trụ" mà con người phải hòa nhập vào vì chỉ là "tiểu vũ trụ". Sách Sáng Thế cho thấy Thiên Chúa sáng tạo nên vũ trụ như "sân chơi" cho con người. Con người được đặt ở trung tâm công cuộc sáng tạo, và Thiên Chúa giao vũ trụ cho con người cai quản.
"Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ : "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất." (St, 1,28)
Chính sự bất trung của con người với Chúa đã kéo theo sự rối loạn của vũ trụ. Cũng thế, việc phục hồi vũ trụ cũng được trao phó cho con người. Con người được ủ ấp trong lòng vũ trụ, nhưng con người có trách nhiệm hoàn thành "khao khát" muôn đời của vũ trụ, vì vũ trụ rên siết chờ ngày được giải thoát nhờ con cái loài người. Tín lý Kitô giáo trình bầy một viễn tượng cứu độ mang tầm mức vũ trụ. Đó là một ước mơ quá toàn vẹn, tất cả mọi người và muôn vật như cùng một lòng một trí để hát lên bài ca mới.
8.3 Đức Giêsu trong sa mạc
Mc 1,12-13 : "Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người."
Trong văn hóa đức Tin Kitô giáo, sa mạc và đời sống tâm linh có một mối liên hệ sâu xa. Sa mạc là nơi ở của mà quỷ và là nơi quyền lực của chúng mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, thời kỳ 40 năm trong sa mạc của Dân Israen lại chính là thời kỳ trăng mật của Chúa với Dân của Người. Bởi vì chính trong những thách thức của sa mạc mà tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa được tỏ lộ rõ rệt nhất.
Trong khi Dân Israen trải qua 40 năm sa mạc với nhiều lầm lỗi, thì đức Giêsu đi lại hành trình ấy với việc ăn chay 40 ngày trong sa mạc để thành công. Trong sa mạc khi xưa có rắn độc giết chóc thì Đức Giêsu lại sống an hòa "giữa loài dã thú"... Hành trình của đức Giêsu đã sửa lại hành trình của Dân Israen; thái độ của đức Giêsu khai mào cho một vũ trụ mới, nơi đó còn có "các thiên sứ hầu hạ Người". Bài ca Núi Thánh không thể chỉ là điều không tưởng. Bài ca Núi Thánh vẫn còn đó, vẫn ngân vang trong lòng Giáo hội và vẫn như ngọn cờ của hành trình đức Tin.
Khi nguyên tổ pham tội, con người cắt đứt tình thân nghĩa thiết với Thiên Chúa, hậu quả là con người chia sẽ, thù hằn và giết chóc lẫn nhau; đồng thời vũ trụ được dựng nên vốn rất là tốt đẹp cũng trở mặt với con người. Con người bị đuổi ra khỏi vườn E-đen và phải cầy cấy đất đai đã trổ sinh gai góc :
"...nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi ;
ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi,
mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra.
Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng.
Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn,
cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra.
Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất." (St 3,17-19)
Hành trình sa mạc mà đức Giêsu đi lại cũng bao hàm sự hòa giải những yếu tố rối loạn, bị đảo nghịch do tội lỗi gây ra. Một sự hòa giải đích thực với Chúa bao giờ cũng bao gồm việc hòa giải con người với nhau. Sự hòa giải ấy biểu lộ một cách phong phú trong sự an hòa với vũ trụ đã được tạo dựng nên cho con người. Nếu tình yêu con người với nhau được tỏ lộ một cách chân thật nhất khi người ta biết chân thành với nhau từ những cử chỉ nhỏ nhặt, biết quan tâm tới nhau trong những điều riêng tư và tế nhị nhất, thì một sự hòa giải trong tầm mức thế giới và vũ trụ cũng biểu lộ một cách chân thực trong sự tôn trọng thiên nhiên của chung mọi người, có trách nhiệm với thế hệ mai sau trong việc tôn trọng môi sinh...
Với đức Giêsu, một trời mới đất mới đã được khai mào trong sự hài hòa và trong niềm vui của bài ca vũ trụ.
8.4 Tâm hồn an hòa Kitô giáo
Con người cần có một thái độ an hòa với vũ trụ xung quanh mình, đó là điều con người ngày nay đã quên mất, và người Kitô hữu cũng không mấy quan tâm đến vấn đề này. Có lẽ chỉ còn những thiền sư Phật Giáo là lời chứng cho thái độ đúng đắn này.
Khi ta nhìn một con chó trong thái độ an hòa, nó sẽ "hiểu" được ta và sẽ không làm dữ với ta. Với thú vật ngoài đồng cũng vậy và với cỏ cây hoa lá cũng vậy. Có một sự tương tác sâu xa giữa con người với vũ trụ, vì vũ trụ được trao cho con người làm chủ.
Hơn nữa, một sự an hòa với vũ trụ vừa là hoa trái chân thật, đồng thời cũng là một phần nguyên nhân, của sự an hòa giữa con người với nhau. Giống như người ta sửa tính tình và chữ viết cũng thay đổi; và cũng có thể sửa chữ viết để thay đổi tính tình. "Yêu nhau yêu cả đường đi lối về" và "Yêu nhau của ấu cũng tròn" ... không phải chỉ là tình cảm lãng mạn và cũng không phải chỉ là cách diễn tả hình bóng về tâm lý của con người. Có một phần tương tác thật nơi ấy. Khi người ta đặt mốt nhạc đời mình trong bài hòa âm vũ trụ, tâm hồn con người sẽ tìm được một sự an hòa.
Dĩ nhiên, Kitô giáo không phải là thứ "đạo vũ trụ", mà là đạo của tình yêu ngã vị. Nhưng nếu tình yêu ngã vị mạnh mẽ và chân chính thì cũng tỏ lộ trong sự an hòa vũ trụ thật sự. Nói cách khác, khi ta biết đón nhận thế giới thiên nhiên như hồng ân của Chúa, khi ta biết dâng tặng của khoai cho anh em nghèo, khi ta biết đón nhận cái bánh trong niềm tri ân mẹ... thì tình nghĩa con người với nhau và với Chúa thật sự sống động, thật sự chân chính, thực sự sung mãn biết bao.
Ai đã dạy cho Martino một thái độ yêu thương cả loài vật như thế ? Nguồn căn nào đã giúp Martino tìm cách chữa trị một con chim bị thương, đón về tu viện một con chó hoang, nuôi dưỡng cả những con chuột sắp bị tiêu diệt ? Martino đã có một tần số suy nghĩ nào để có thể hiểu ý những con vật, có thể "trò chuyện" với chúng và ra lệnh cho chúng ? Hay tất cả những điều đó chỉ là chuyện tô vẽ, mắm muối cho một con người đã được Giáo hội phong thánh ?
Bình tâm một chút, có lẽ chúng ta có thể hiểu ra, hoặc đoán ra được sự thật. Có một phần huyền nhiệm của sự sống mà con người văn minh ngày nay đã lãng quên. Con người văn minh đã quá tin vào vật lý hiện đại, quá tin vào tính toán khoa học, quá tin vào kinh nghiệm thực nghiệm của giác quan. Với một con người, vừa quá mộc mạc, vừa quá thiết tha với đời, vừa đầy tràn sức mạnh của một lòng tín thác vào Chúa, thì tại sao những điều ấy lại không thể được ? Đức Giêsu đã truyền lệnh được cho sóng biển, "Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh ?" (Mt 8,27), thì sao một người tín hữu với niềm tin thuần thành vào Chúa như Martino lại không thể ra lệnh cho những con chuột ?
Nhận lệnh phải giết hết lũ chuột vì chúng cắn vải vóc và cả những chiếc khăn bàn thờ, Martino hơi buồn. Martino tự nhủ : "...những con chuột đó đâu có ý làm hại tu viện, vì chúng không biết giá trị của những chiếc khăn đó thôi".
Trái tim Martino quá "yếu đuối", không chịu được một nỗi đau nào của muôn loài. Hành vi giết chóc, dù là giết con chim nhỏ hay những con chuột phá hoại; và dù để việc thờ phượng Chúa được hoàn hảo hơn hoặc để đỡ phần tốn kém cho tu viện vốn đang mắc nợ nhiều, cũng là điều chưa ổn thỏa với Martino. Cách lý giải hợp lý ấy vẫn không nhấc được đôi chân của Martino khỏi địa tầng chân thiện mỹ. Một bài toán so sánh giá trị sẽ quá dễ dàng giúp người khác giải quyết vấn đề; nhưng với Martino, lại là điều không thể làm được.
Tấm lòng của Martino quá nhẹ và dễ dàng bị mọi thứ "gió cuốn đi". Có âm vang nào của bài ca núi thánh mà Isaia đã viết lên đang vang vọng trong tâm hồn Martino không ? Có phải hình ảnh đức Giêsu sống an hòa giữa loài dã thú trong sa mạc vẫn còn đọng lại trong tâm trí Martino không ?
Không phải suy tính của bài toán ở "tầng trên" có thể hiểu được điều ấy; nhưng một câu chuyện tình nghĩa ở đáy cuộc đời lại tỏ hiện nét an hòa ấy một cách bình dị như nước, như không khí, như ánh sáng mặt trời. Niềm tin vào Chúa, tình yêu sung mãn ở đáy lòng đã mách bảo cho Martino nhưng cung cách khác người như thế.
***
Với những con người sống trong thành phố, vũ trụ thiên nhiên đã biến mất rồi.
Với những người nông dân trong đất nước này, thiên nhiên lại trở thành một con số tính toán kinh tế.
Vũ trụ đâu còn là chiếc nôi êm ấm cho tuổi thơ nhân loại,
Vũ trụ đâu còn là bảng chỉ đường đến với Đấng Tạo Thành
Xin cho con được thấy lòng thương xót Chúa lan tràn mặt đất.
Và cho con biết mơ về Núi Thánh của Chúa.