Câu Chuyện Mác-ti-nô - Phần 5 (Phần cuối)
Martino xuất hiện giữa lòng thành phố Lima như một dòng nước mát, không phải chỉ là dòng nước tẩy rửa những nỗi đau khốn cực, mà còn như dòng nước làm làm tươi mới cho cuộc đời trong một cung cách sống. Lúc nào người ta cũng thấy một Martino an vui, xử lý mọi chuyện như một diễn tiến tự nhiên, dù đó là quyết định khác với thói quen bình thường của mọi người : một "bác sĩ tí hon" đầy khả ái, một người giúp việc chu đáo mà vẫn rộng mở với mọi nhu cầu khác, một tu sĩ đúng mực mà không phải là sự nghiêm nghị nghèo nàn...
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
9. Bài ca Thuận mệnh
9.1 Tiếng xin vâng của vũ hoàn
Martino xuất hiện giữa lòng thành phố Lima như một dòng nước mát, không phải chỉ là dòng nước tẩy rửa những nỗi đau khốn cực, mà còn như dòng nước làm làm tươi mới cho cuộc đời trong một cung cách sống.
Lúc nào người ta cũng thấy một Martino an vui, xử lý mọi chuyện như một diễn tiến tự nhiên, dù đó là quyết định khác với thói quen bình thường của mọi người : một "bác sĩ tí hon" đầy khả ái, một người giúp việc chu đáo mà vẫn rộng mở với mọi nhu cầu khác, một tu sĩ đúng mực mà không phải là sự nghiêm nghị nghèo nàn...
Con người khao khát được thể hiện mình. Như đứa con hoang đàng muốn được xử dụng phần tài sản của mình, muốn được vẽ nên bức chân dung của mình theo cách thức của mình... Con đường đó cũng là khát vọng muốn là kẻ hiên ngang giữa trời đất. Thế nhưng, con người không phải là kẻ tự mình làm chủ. Con người là kẻ được thông phần vào quyền làm chủ của Thiên Chúa :
"Thiên Chúa phán : "Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất." (St 1,26)
Một khi con người muốn tự mình làm chủ cuộc đời mình, con người rơi vào đúng cám dỗ của Satan mà nguyên tổ đã gặp và đã thua cuộc :
"Rắn nói với người đàn bà : "Chẳng chết chóc gì đâu ! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác." (St 3,4-5)
Đức Giêsu đã cảnh báo người đầy tớ không chờ đón chủ về : "Nhưng nếu tên đầy tớ xấu xa ấy nghĩ bụng : "Còn lâu chủ ta mới về", thế rồi hắn bắt đầu đánh đập các đồng bạn, và chè chén với những bọn say sưa, "(Mt 24,48-49 ). Đức Giêsu còn tố cáo mạnh mẽ những người Do Thái muốn trở thành chủ nhân ông của vườn nho. Ước muốn ấy đưa con người ta phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác; và cuối cùng là hành động cả gan muốn giết Người Con Thừa Tự : "Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau : "Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó !"(Mt 21,38)
Con người không thể là chủ nhân ông của thế giới, không phải vì Thiên Chúa muốn giữ riêng cho bằng vì bản chất của con người không thể đứng ở vai trò đó mà không phạm sai lầm. Khi con người không có điểm quy chiếu đúng đắn cho hành trình đời mình, thì con người sẽ chỉ thấy những phản ứng đối phó; và những phản ứng đối phó đưa đẩy con người lắc lư từ thái cực này sang thái cực kia, từ cái xấu bất cập này chuyển sang cái xấu thái quá kia...
Không phải tình cờ mà con đường minh triết sâu xa trong lòng nhiều tôn giáo và triết học đều gặp nhau trong chữ "thuận mệnh". Chữ thuận mệnh giống như tiếng vâng của một con người đã bước qua sườn dốc cuộc đời; đã "tri thiên mệnh" để buông bánh lái đời mình theo dòng nước lớn. Trong khi đó, những người trẻ không ngừng khẳng định sức mạnh của ý chí, một ý chí có phần cường bạo đối với thế giới xung quanh. Người trẻ thì thích đề cao thái độ "có sức người, sỏi đá cũng thành cơm". Đức Tin sẽ giúp người Kitô "trưởng thành sớm", không phải thứ đạo mạo như "ông cụ non", nhưng là thứ thấu tình đạt lý. Cuộc đời một số vị thánh, dù còn rất trẻ, cũng đã được trưởng thành trong đức Tin để có một thái độ "thuận mệnh" an vui.
Thật ra, thái độ "thuận mệnh" không phải là thái độ thua cuộc, không phải là thái độ bi quan yếm thế, thái độ rút lui tìm sự an ổn nhỏ bé của riêng mình. Không phải thế, thái độ thuận mệnh là thái độ khám phá ra mặt trận chính yếu, mặt trận quan trọng nhất của mình đời lại chính là cuộc chiến với chính bản thân mình. Thái độ thuận mệnh là thái độ, cuối cùng, mỗi người hòa giải được với chính mình, chấp nhận được con người thật của mình, con người thật như một bức tranh nghệ thuật độc đáo riêng biệt, đồng thời lại là một phần không thể thiếu trong bức tranh toàn cảnh. Thuận mệnh chính là khám phá cung giọng của mình như một phần trong bản hòa âm hoàn vũ. Con đường thuận mệnh không dễ dàng, con đường này không phải bi quan, không phải đầu hàng vận mệnh mà là một cuộc chiến còn gay go và khó khăn hơn rất nhiều.
Điều thấy được là con đường của một thứ lý trí nào đó, con đường của bài toán hợp lý, sẽ định hướng con đường đi lên cao bằng một sự lựa chọn bi đát, một sự chọn lựa điều này bằng sự phủ định đơn thuần điều khác; theo kiểu "Tiểu lượng phi quân tử; Vô độc bất trượng phu". Những tính toán của con người, nhằm vào một mục tiêu cụ thể nào đó, dù là một một tiêu có vẻ như đầy lợi ích hoặc cao cả ... thì luôn sẽ phải là một chủ nghĩa anh hùng; thứ chủ nghĩa đề cao một hành vi, một thái độ hướng tới một mục tiêu cụ thể nào đó. Chủ nghĩa anh hùng ấy luôn hàm chứa nguy cơ bỏ qua, coi nhẹ một nền tảng nhân bản toàn vẹn. Người ta tính toán để hy sinh những "chuyện nhỏ" hầu đạt được thành công trong chuyện lớn... Chủ nghĩa anh hùng là con đường đi lên, thể hiện trong cách chọn "cái lý" bằng sự hy sinh "cái tình", chọn điều nào gắn liền với hiệu quả, với hiệu năng, nên đành coi nhẹ phẩm tính chân thật của mỗi hành vi. Chủ nghĩa anh hùng sẽ đạt được thành công trước mắt những để lại những hệ lụy lâu dài...
Trong khi đó, có một con đường thuận mệnh là con đường đứng vững trong bè của mình, ngân lên nốt nhạc đúng cung bậc của mình cho một bản hòa âm phong phú; đó là cách xác tín những chọn lựa tự nó là đúng; làm cho đúng và cho trọn vẹn mỗi hành vi, mỗi lời nói dù không tính được mối liên hệ của lựa chọn ấy mục tiêu, dù trước mắt thấy như thể chọn lựa ấy chắc chắn đứa đến hậu quả tai hại... Con đường chân lý thuần khiết này chính là chiều hướng đi xuống, tìm thấy sự an hòa, tìm thấy sự dung hợp, tìm thấy sức mạnh "âm tính" trong diễn tiến của lịch sử.
Chúng ta thấy được một Martino cất lên tiếng xin vâng trong cuộc đời của mình, tiếng xin vâng chân thành và nhẹ nhàng của một con người hòa giải được với chính mình. Tiếng xin vâng ấy tiếp nối tiếng "xin vâng" của đức Giêsu trong vườn Cây Dầu, vang vọng lại tiếng xin vâng của đức Maria trong ngày Truyền Tin, hòa cùng tiếng "xin vâng" của thánh Giuse khi mau mắn thực hiện điều sứ thần truyền... Có một cung trầm giữ được hợp âm cho bài hát, cung trầm ấy không là gì khác hơn Thánh Ý Chúa Cha, để bài ca Nước Trời được cất lên tiếng du dương...
9.2 Hãy xem chim trời và bông huệ (Xc Mt 6, 25-34)
Con người không thể là chủ nhân ông của thế giới, bởi vì con người thực sự cũng không thể làm chủ được chính bản thân mình. Khi người ta từ chối nhận Thiên Chúa làm chủ của mình, con người đứng chơ vơ giữa trời đất ấy sẽ lo sợ mọi phía, sẽ lệ thuộc đủ mọi thứ khác, sẽ bám víu vào những điều mỏng manh. Người nào không tìm thấy một Đấng quyền năng và yêu thương cho đời mình, người ấy sẽ luôn là người có nhiều sợ hãi sâu xa nhất và dễ mê tín nhất.
Mt 6,24-29 : "Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được.
"Vì vậy Thầy bảo cho anh em biết : đừng lo cho mạng sống : lấy gì mà ăn ; cũng đừng lo cho thân thể : lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao ? Hãy xem chim trời : chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho ; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao ? Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay ? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì ? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học : chúng không làm lụng, không kéo sợi ; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết : ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy..."
Hãy nhìn xem chim trời và bông huệ ! Lời kêu mời của đức Giêsu hàm chứa thứ minh triết "thuận mệnh" mà những bậc hiền nhân của thế giới đã nhận ra. Con Người nói lên được một lối nhìn an hòa như thế phải là kẻ thoát được những mặt trận đấu đá thảm hại của kiếp người với miếng cơm manh áo, để thấu được mặt trận sống-còn của kiếp người nơi chính mạng sống và thân thể.
Nhưng đức Giêsu không chỉ đưa ra một triết lý, đức Giêsu không chủ trương một lý tưởng an hòa mang tính vũ trụ luận. Đối với Sách Thánh, vũ trụ được trao cho con người chứ không phải con người phải tuân phục quy luật máy móc của vũ trụ (X. St 1,26). Vũ trụ cùng với sức mạnh của nó cũng được trao cho con người, vì vũ trụ chỉ có thể được giải thoát khỏi cảnh hư vong nhờ vào "con cái loài người" (Xc. Rm 8,...). Nhưng con người cũng không thể chăm sóc vũ trụ xinh tươi này bằng toàn quyền, toàn ý của mình. Con người được mời gọi chiêm ngắm vinh quang Thiên Chúa phản ảnh trong vũ trụ, để đi đến một thái độ "thuận theo Ai", chứ không phải "lệ thuộc cái gì".
Mt 6, 30-33 : "Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin ! Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi : ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây ? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho".
Không có nẻo đường thứ ba nào cả, hoặc người ta làm tôi Thiên Chúa, hoặc người ta làm tôi "của cải"; hoặc người ta nhìn ra vận mạng của đời mình, mạng sống và thân thể, được trao phó cho Thiên Chúa, để tìm Nước của Ngài, hoặc người ta bận tâm tự vun đắp đời mình bằng những thứ của cải nào đó.
Hãy xem chim trời để biết bay lượn trong bầu trời của những đứa con có một Cha trân trọng bản thân mình. Hãy xem bông huệ để nhận ra Cha trên trời vẫn dư tràn phúc đức đổ xuống cho nhân gian.
9.3 Nước Trời : Cuộc chiến hay một cuộc chơi ?
Từ đã quá quá lâu, con người như có ác cảm với mọi thứ chơi đùa. "Chơi đùa" thường đi với "lêu lỏng", và chơi đùa đồng nghĩa với sự vô trách nhiệm. Cuộc sống quá khó khăn, hành trình làm người quá gian nan mà những kẻ chơi đùa thường không thể nào hoàn thành tốt đẹp được.
Người ta sợ sự chơi đùa đến độ biến những trò chơi trở thành một trách nhiệm nghiêm nghị. Ngay cả những điều vốn là trò chơi, chẳng những cần phải tuân giữ luật chơi, mà còn phải lao động mệt nhọc gian khổ để có được một cuộc chơi thành đạt... Người ta chỉ được cười sau khi đã phải khóc, chỉ được quyền an nhàn sau khi đã lao động cật lực... Nhưng nếu cuộc "chơi trong lao nhọc" ấy thất bại thì sao ? Làm sao để có được cái "sau khi đã..." ? Cuộc chơi đã biến thành cuộc thi; và gay go hơn, trở thành một cuộc chiến... Cuộc thi thì có kẻ rớt người đậu; cuộc chiến thì có kẻ thắng người thua... Cuộc đời như thế vẫn là một bức tranh ảm đạm... như thế giới thời Trung Cổ Tây Âu. Thời Trung Cổ, tư tưởng khổ hạnh thấm đẫm vào đời sống đức Tin khiến cho trần gian này chỉ còn là "nhà tập của Nước Trời"...
Dù sao thì ta cũng phải công nhận rằng chơi là một khát vọng chân thật, sâu xa của con người. Mục tiêu cuối cùng của đời người chẳng phải là niềm vui sao ? và niềm vui được tỏ lộ rõ nét nhất trong cuộc chơi ? Nếu niềm vui dính dáng tới cứu cánh đời người thì cũng phải được bắt đầu một cách nào đó trong nguyên lý của hành trình đời người. Cuộc sống này, ngay từ lúc này và ngay ở trần gian này đã phải ít là có bóng dáng cuộc chơi, dù gian khổ, dù bi đát, dù đau thương vẫn luôn là điều không thể tránh né được. Khi người ta không biết đến chơi đùa, cuộc sống sẽ mang mầu sắc nghiêm nghị, thứ nghiêm nghị làm xấu đi bức tranh Nước Trời chân thực.
Qủa thật, không bao giờ có thể bỏ đi sự lao nhọc trong kiếp người, nhưng cũng không thể từ đó mà loại bỏ tính vui chơi trong cuộc đời. Không thể chống lại cuộc chơi chỉ bằng lao nhọc mà cũng không thể chống lại lao nhọc bằng sự chơi đùa. Chỉ khi lao nhọc con người mới có thể tiến bộ; nhưng chỉ khi vui chơi thì đời sống con người mới thỏa lòng. Trách nhiệm thì vẫn phải đảm nhận, nhưng cuộc đời một con người đâu phải chỉ là trách nhiệm. Ngược lại, cuộc chơi thì vui, nhưng đâu có thể là thứ chơi vô tâm, hời hợt, "trẻ con", như một kẻ ham chơi vô trách nhiệm.
Điều không thể tránh được trong kiếp người, đó là nỗi nỗi xao xuyến sâu xa về vận mạng của đời mình : Đời tôi cuối cùng thì sẽ ra sao ? Người nào giả vờ quên nỗi xao xuyến ấy, kẻ ấy tự mãn cách lố bịch về những gì mình có được. Kẻ nào đối mặt tay-đôi với nỗi xao xuyến căn bản ấy, kẻ ấy không còn đủ an vui thanh thản để sống và phát triển bản thân mình. Quả thật thách đố của kiếp người, trước khi đi đến chỗ có thể vùi dập con người trong sự thất bại, thách đố nặng nề ấy đã "thành công" khi biến phẩm tính đời người thành một cuộc thi, hoặc một cuộc chiến. Không lạ gì khi mà không ít người đã nỗ lực sống... đến độ trở thành một vị "đạo đức đáng kính...sợ".
Đức tin Kitô giáo trước khi đi đến một ơn cứu độ chung cuộc, đã phải bộc lộ tính giải thoát trong chính phẩm tính của hành trình cuộc đời. Đức Tin Kitô giáo có khả năng biến cuộc đời thành một cuộc chơi tình nghĩa, và chính tình nghĩa lại có thể vận dụng mọi năng lực của con người một cách trọn vẹn và sung mãn nhất để đảm nhận trách nhiệm. Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước, Thiên Chúa chọn lựa mỗi người chúng ta ngay từ trong lòng mẹ; Thiên Chúa đón nhận chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân... : "Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đã được hoà giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy". (Rm 5,10).
Thang điểm thi cử được hạ xuống sát mặt đất và nấc thang tình nghĩa được nâng lên tới trời. Một khung trời bao la được mở ra cho cuộc chơi tình nghĩa. Từ nay, cuộc đời không còn phải là cuộc thi, mà chính là một thứ trả nợ nghĩa tình trong niềm vui, trong sự ngọt ngào của ân huệ. Làm gì để đáp lại tình nghĩa mà ta được tặng không, làm gì để vận hành yêu thương được đi vào quy luật đắp đổi mỗi ngày mỗi phong phú hơn... Từ "hòn đất ném đi, hòn chì ném lại"; đến chỗ "bánh ít cho đi, bánh quy cho lại",...và cứ thế mà vui, mà tăng thêm mãi niềm vui của tình nghĩa....
Đức tin thực sự là một cuộc chơi, nơi đó, người tín hữu càng xác tín vào lòng trung tín của Chúa, lại càng có khả năng buông bỏ để đi vào cuộc phiêu lưu tình nghĩa. Lòng xác tín ấy giúp người tín hữu thoát khỏi tình trạng so đo tính toán, cân nhắc được thua; nhưng như một người vừa nắm chắc một kết quả tốt đẹp nhờ tín thác vào lòng từ bi nhân hậu của Chúa, lại vừa huy động tất cả năng lực của mình để đáp đền tình yêu quá lớn lao của Chúa. Có một cuộc chơi trọn vẹn nhất, đức Tin chính là cuộc chơi ấy..
9.4 Thuận mệnh
Martino thường suy niệm về "Thánh Ý Chúa". Đâu là ý Chúa muốn cho chúng ta khi còn sống ở trần gian ? ... Cậu quyết định : hạnh phúc cho tôi cũng như cho những ai được sinh ra trên đời này để làm theo Thánh Ý Chúa, họ sẽ được sống đời đời với Người trên thiên đàng. Đáng thương biết bao cho những ai không nhận ra điều đó" (Bác Sĩ Tí Hon, trang 30)
Cầu nguyện thiết yếu không phải là để Thiên Chúa nghe lời của ta; nhưng điều chính yếu hơn lại là để ta có thể đi vào chương trình của Chúa. Thánh Ý Chúa luôn cao hơn suy tính của con người và chung cuộc mà Thiên Chúa muốn đưa con người đến tuyệt hảo và trọn vẹn hơn trí tưởng tượng của con người có thể nghĩ ra.
Nhưng một chương trình tổng thể hoàn hảo của Thiên Chúa không phải là một sự áp đặt trên con người vốn được sáng tạo như kẻ được tự do. Nếu con người được Thiên Chúa kêu gọi vâng nghe ý của Người; thì Thiên Chúa cũng không phải là một Đấng bịt tai, bịt mắt trước những khổ đau của kiếp người. Con người cũng khát mong được Thiên Chúa chiều ý của mình. Con người được quyền mong ước Thiên Chúa chiều theo chương trình của mình...
Trong tiệc cưới tại Cana, Đức Giêsu nói với Mẹ Maria rằng giờ của Ngài chưa đến. Nhưng đức Maria vẫn cứ nói với những người gia nhân : "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.". Ý muốn của Chúa và ý muốn của Mẹ có khác biệt nhau ? Đức Giêsu đã chiều ý Mẹ để rồi chính tiệc cưới Cana lại là nơi Ngài tỏ mình ra như Hôn Phu đích thực của nhân loại (Xc. Ga 2, 1-12)
Chính sự tương tác qua lại diệu kỳ giữa ý muốn của Chúa với ý muốn của con người mà ơn cứu độ tỏ lộ rõ nét như một cuộc chơi, một cuộc phiêu lưu. Đó là một cuộc chơi vừa thân mật vừa mới lạ; vừa tỏ bày quyền năng của Thiên Chúa, vừa thôi thúc con người vận dụng tất cả năng lực của mình; vừa trung tín vừa mạnh dạn; vừa hồi hộp vừa chắc tâm... Đây là cuộc chơi mà con người dám liều tất cả vì dám tin tất cả, giống như Abraham đã "chơi" với Chúa trong cuộc sát tế Isaac (St 22,1-18).
***
Hãy nhớ lại một lần nào đó trong đời,
lần nào đó ta được rong chơi giữa cuộc đời như đứa bé vui chơi bên vòng tay của mẹ.
Hãy nhớ lại một lần nào đó,
đời ta như được dìu dắt trong bàn tay vững chắc của cha.
Hãy nhớ lại để hiểu rằng điều quan trọng chẳng phải là đòi cho được "cái bánh" hay "món đồ chơi";
Nhưng điều quan trọng là ta chìm ngập trong vòng tay của Chúa, một vị Thiên Chúa đầy lòng thương xót.
10. Bài Hoan Ca Thiên Quốc
"...Sau hết được về nước Thiên Đàng
10.1 Chiến thắng của đức Kitô và Nước Trời
Đức Giêsu đã khai mạc Nước Trời với Bài Giảng Trên Núi. Nước Trời đã có mặt cùng với đức Giêsu. Tin Mừng Nhất Lãm và những thư đầu của thánh Phaolô cho thấy một niềm khao khát mãnh liệt về Nước Trời. Tin Mừng Thứ Tư và những thư sau của thánh Phaolô lại tập trung vào bản thân của đức Giêsu. Thực sự hai khía cạnh đó không ở bên cạnh nhau, không thể tách rời nhau, và chắc chắn không thể loại trừ nhau. Lịch sử Giáo hội đã nhiều lần chao đảo trong những lựa chọn, có khi người ta đấu tranh cho Giáo hội hoặc cho một thế giới công bằng mà hình như vắng bóng đức Giêsu, một đức Giêsu chiến thắng trước hết bằng chính cái chết tủi nhục trên thập giá; và cũng không hiếm khi người ta gắn bó với đức Giêsu, nhưng là một đức Giêsu không có bóng dáng Nước Trời, một thứ sinh hoạt đạo tách rời khỏi vận hành được cứu độ của thế giới và vũ trụ này.
Đức Giêsu là trung tâm của Nước Trời. Ở đâu có đức Giêsu thì cũng phải có Nước Trời xung quanh; và ở đâu là Nước Trời chân thật thì cũng có đức Giêsu ở trung tâm. Người Kitô hữu hướng đến Đức Giêsu Kitô với tất cả lòng tin-cậy-mến; và người Kitô hữu nhận ra Nước Trời của Đức Giêsu Kitô bao hàm tất cả giá trị chân-thiện-mỹ.
Người tín hữu thường đến với Chúa, đến với đức Giêsu với lòng Tin và Mến, nhưng bỏ quên đức Cậy. Niềm Tin-yêu ấy không có chân đứng trên "mặt đất", nên rất thường là những tình cảm bay bổng nhưng luôn có nguy cơ ngẫu hứng và có thể dễ dàng gẫy cánh. Thứ tin-yêu ấy giống như tình yêu trong chuyện cổ tích. Trong khi đó, đức Tin trong truyền thống Sách Thánh thiết yếu mang tính lịch sử.
Một hoàng tử kia, nhìn thấy bức hình một nàng công chúa tuyệt đẹp nên đem lòng yêu mến. Hoàng tử lên đường tìm kiếm. Hành trình ấy trải qua bao nhiêu khó khăn, gian khổ và cả hiểm nguy tới tính mạng. Cuối cùng hoàng tử tìm được cô công chúa trong mộng của mình... Đó là tình yêu cổ tích !
Chuyện đời chân thật hơn là thế này : chàng hoàng tử vào rừng săn bắn. Chàng bị ngã ngựa, gẫy chân bên bờ suối... Một cô thôn nữ đã đưa chàng về nhà, chăm sóc vết thương, tậm tụy lo cơm nước... Rồi hai người yêu thương nhau... Đây là tình yêu chân thật !
Trong nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa, con người chỉ là mình trong dòng lich sử; và Thiên Chúa cũng tỏ chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa cứu độ trong dòng lịch sử. Dân Israen luôn được các ngôn sứ kêu gọi : hãy nhớ lại những kỳ công dấu lạ Thiên Chúa đã làm đối vói cha ông họ (Xc : 1 Sb 16,12; Dnl 7,18; 8,2; 32,7; Gdt 8,26...; và Thiên Chúa cũng luôn nhớ đến những gì Ngài đã giao ước để tiếp tục phù trợ dân (Xc. St 9,15; Xh 2,24; 6,5; Lv 26,45;... ). Thiên Chúa trong Kinh Thánh không chỉ là một Thiên Chúa siêu việt. Ngài siêu việt nhưng lại dấn mình vào dòng lịch sử, Ngài siêu việt nhưng lại kiên nhẫn từng bước đồng hành với con người để con người được lớn lên, lớn lên một cách lịch sử, lớn lên như một sự trưởng thành đích thực, lớn lên từ chính đôi chân của mình. Ơn cứu độ của Thiên Chúa không từ trên trời rớt xuống, nhưng được gieo mầm, sinh sôi và lớn lên trong dòng lịch sử. Chính trong dòng lịch sử cụ thể ấy, ơn cứu độ của Thiên Chúa được tỏ hiện và dân cũng thể hiện lòng trung tín chân thật với Chúa. Đó cũng luôn là cách thức sống đức Tin của người Kitô hữu trong chế độ Tân Ước; với mỗi người cùng vậy và với toàn thể nhân loại cũng vậy.
Thiếu chất liệu cuộc đời, thiếu quá trình lịch sử, thiếu bề dầy nghĩa tình được đan bện bằng những sự kiện và biến cố thật, đức Tin và cả tình yêu của người tín hữu luôn có nguy cơ lãng mạn. Chiều kích đức Cậy chính là khám phá ra một Thiên Chúa đồng hành với mình, nâng đỡ, soi sáng, chữa trị vết thương cho mình trên hành trình gai góc của cuộc đời. Với đức Cậy, người Kitô hữu mới "đặt chân mình xuống đất", khám phá ra sự hiện diện của Chúa trong mảnh đất đời người; đồng thời có thể khám phá những hạt men Nước Trời trong địa tầng cuộc sống thật.
Nước Trời được đức Giêsu công bố như hạt cải nhỏ bé, như nắm men nhỏ bé... Điều đó có nghĩa là đường lối của Nước Trời, những giá trị của Nước Trời ra như yếu nhược và dễ thua cuộc trong thế giới của sức mạnh bạo tàn. Nhưng với đức Giêsu, với tình yêu liên lụy của đức Giêsu, chính những giá trị nhỏ bé ấy sẽ lớn lên, sẽ biến đổi bộ mặt thế giới. Hạt men hạt cải Nước Trời cần được được gieo vào trong lòng cuộc sống chứ không phải để cất dấu đi. Người Kitô hữu chính là người thương gia khám phá Nước Trời như viên ngọc đẹp, bán tất cả tài sản để mua lấy viên ngọc ấy. Nước Trời nhỏ bé ấy mời gọi người tín hữu nhận ra tất cả giá trị chân-thiện-mỹ đang ẩn tàng nhưng thật mạnh mẽ...
Thiếu khía cạnh đức cậy, người Kitô hữu cũng thiếu chất liệu cuộc sống, và điều đó lại đưa đến việc bỏ quên một thứ men của Nước Trời : giá trị đẹp (mỹ). Quả thật, một điều "thiện" mà thiếu giá trị đẹp sẽ là một cưỡng ép ý chí. Người thiết tha tìm và thực hành điều thiện với sự cưỡng ép ấy sẽ không thể an hòa, không thể vững bền và không thể vươn lên cao được. Cũng vậy, một điều "chân" mà thiếu giá trị đẹp sẽ là một sự cưỡng ép lý trí; giống như một người thua trong cuộc cãi lý. Người thua cuộc ấy đành lòng chấp nhận chân lý (verum) mà không tìm thấy được lòng xác tín (certum) mạnh mẽ từ bên trong.
Khi đó, đời sống đức Tin sẽ rơi vào tình trạng "đạo chịu vậy"; nghĩa là sống những đòi hỏi Nước Trời như một thứ đóng thuế bắt buộc và thi hành việc đạo đức như kiếm những đồng "tiền âm phủ" không có giá trị ở đời này. Đạo nghĩa chỉ để mua lấy "vé vào cửa" Thiên Đàng. Thật sự nắm men Nước Trời, hạt cải Nước Trời không phải là những đòi buộc vô duyên, vô giá trị. Những hạt Nước Trời bé nhỏ của đức Giêsu gồm tóm tất cả những giá trị chân thật và tốt đẹp nhất của cuộc sống. Men và Hạt Nước Trời thực sự là chân, là thiện, là mỹ, dưới cái nhìn đức Tin chân chính.
Não trạng tôn vinh những người ưu tuyển vốn đã là truyền thống ngàn đời mãn kiếp của xã hội loài người. Nước Trời được đức Giêsu khai mạc và gieo vào lòng cuộc sống trần gian như thể vẫn cứ là hạt cải nhỏ bé, vẫn cứ là nắm men nhỏ bị bỏ quên, vẫn cứ là viên ngọc quí chưa có mấy người khám phá ra...
Gần ngày sinh nhật thứ 60, anh em trong Dòng thấy có một điều khác thường trong thái độ của thầy Martino : Thầy mặc một bộ áo dòng mới. Khi anh em hỏi, thầy trả lời : mặc áo dòng mới để tẩm liệm cho tiện.
Ngày hôm sau, thầy ngã bệnh, bệnh trở nên nặng. Thầy nằm liệt giường và không ăn uống gì được. Đến giờ hấp hối, thầy Martino xin cộng đoàn cùng với mình đọc kinh Tin Kính. Khi đọc đến câu "Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế...", thầy Martino trút nhẹ nhàng hơi thở cuối cùng. Hôm đó là ngày 4-11-1639.
Những ngày cuối cùng của cuộc đời Martino, chúng ta thấy được rõ nét hơn sự chiến thắng của mầu nhiệm Nước Trời. Cả thành Lima xôn xao lo lắng vì sắp mất đi một thầy Martino bác ái. Hình như chính lúc này, người ta mới thấy rõ hơn bao giờ hết nét đẹp của Chúa; nét đẹp thật gần gũi và bình dị ngay trong đời sống thường ngày. Người ta nhận ra mình sắp mất đi một người bạn, một ân nhân, một người anh,...; và đúng là sắp mất đi chứng nhân Tin Mừng sống động.
Nhiều quan chức đạo đời và các nhà quí tộc đã đến tham dự lễ an táng Martino, biết bao nhiêu người dân Lima, những người da đen, những thổ dân, những người nghèo khổ, những bệnh nhân đã được Martino chữa trị... đổ về tu viện thánh Đa Minh nhỏ bé để thương tiếc, để cầu nguyện, để xin ơn... Đó là niềm vinh dự cho một tu sĩ da đen tầm thường ? Đúng thế ! Nhưng sự thật còn hơn thế nữa, đám tang long trọng ấy mang ý nghĩa một sự chân nhận những giá trị Nước Trời nơi một con người tầm thường, những giá trị tỏ lộ chân thiện mỹ nơi địa tầng thấp nhất của xã hội con người. Nơi con người mộc mạc, nhỏ bé Martino, mầu nhiệm Nước Trời lại tỏ lộ một cách rõ rệt và đầy thuyết phục hơn lúc nào hết.
10.2 Chân thiện mỹ tỏa rạng ở trời cao
“Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian".(Ga 16,33).
Chiến thắng của đức Kitô làm nên một "trời mới đất mới", kéo theo muôn vàn thực tại đời thường vào ánh sáng huy hoàng của ơn cứu độ. Ơn cứu độ của Thiên Chúa không đưa con người vào cửa "thoát hiểm" để đi ngõ tắt vào Thiên Đàng. Nước Trời đã được gieo vào trần thế, chính nơi trần thế, Nước Trời được lớn lên; đồng thời Nước Trời cũng biến đổi bản chất trần gian thành thực tại Nước Trời. Một đức Giêsu Kitô ở trung tâm Nước Trời, nghĩa là đức Kitô chính là "Hạt" là "Men" căn bản của Nước Trời. Chính là một đức Kitô đi vào "cuộc chiến" như vị Thủ Lãnh, đi vào cuộc chiến với tính thế gian do Satan cầm đầu.
Đức Giêsu Kitô chiến thắng tử thần, Ngài đã Phục Sinh từ trong cõi chết. Cuộc chiến ấy đã có lời đáp có hậu. Những thăng trầm của chiến cuộc vẫn còn đầy nét biến tấu ở trần gian này; những câu chuyện đời vẫn còn được viết ra, nhưng bàn tay của Đấng Đồng Tác Giả đã lộ ra rõ ràng hơn.
Chân thiện mỹ không từ trời chụp xuống, nhưng mọc lên từ những đáy sâu của cuộc đời. Chính sự sống từ nơi đáy sâu ấy thông qua "cái đẹp" đã triển nở một cách chân chính. Sự sống ấy thấm nhập, hóa giải, thâu hóa và trổ sinh hoa trái. Chính niềm Tin trong chiều kích Cậy trông, mọc lên từ nơi bầm dập của cuộc đời đã đan bện nên nền tảng vững chắc cho đức Mến được rạng ngời. Chân thiện mỹ giờ đây mới tỏa rạng từ trời cao.
Trong Nước Trời Thiên Quốc, sự đảo ngược của Tin Mừng với những não trạng thế gian không còn là chuyện lạ kỳ mà là chuyện đương nhiên. Vũ trụ và thế giới con người tìm lại được thế đứng đúng đắn của mình. Địa tầng chân thiện mỹ ở trần gian thường hay bị che khuất. Nơi thiên quốc, chân thiện mỹ trở thành ánh sáng rạng ngời phát xuất từ "mặt trời tình yêu" là chính Con Chiên Vẹn Toàn.
Năm 1837, đức Gregorio XVI suy tôn thầy Martino lên bậc chân phước.
Ngày 05-05-1962, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII ghi tên thầy Martino vào sổ các hiển thánh, với tước hiệu "Martino bác ái". Lễ kính thánh Martino được ấn định trong toàn thể Giáo hội là ngày 3-11 hằng năm.
Lễ "phong thánh" diễn ra trong những ngày cả Giáo hội chuẩn bị cho Công Đồng Vatican II. Trong bài giảng, đức Gioan XXIII nói : "... nghi lễ long trọng đang diễn ra tại đền thờ thánh Phêrô xem ra hướng đến mục tiêu ấy (Công Đồng Vatican II) một cách đặc biệt, bởi vì khi ghi danh một con người danh tiếng và nhân đức phi thường vào sổ các thánh trên trời, chúng tôi muốn chứng tỏ cho thấy rằng không có gì đáng trông mong nơi Công Đồng hơn là thúc đẩy các con cái Giáo hội sống một cuộc đời thánh thiện hơn..."
10.3 Mỗi người được là mình cách sung mãn
Thiên Đàng không phải là nơi an nghỉ theo cách hiểu của con người, nhưng là nơi sự sống của các thánh được triển nở viên mãn. Thiên Đàng không phải chỉ là nơi chấm dứt hành trình dương thế, nhưng chính yếu hơn là nơi sự sung mãn của sự sống đã được khởi đầu nơi trần thế, nay được nâng lên mức độ sung mãn hoàn hảo. Nói các đơn giản, không phải thánh Giuse sau khi vất vả coi sóc gia đình thánh, nay trên Thiên quốc được an nghỉ. Đúng hơn, nơi Thiên Quốc, vai trò làm chủ gia đình của thánh Giuse lại càng trở nên sung mãn khi tiếp tục phù trợ các gia đình và nâng đỡ những người gia trưởng... Cuộc "hành trình" của các thánh vẫn tiếp tục, không phải như một khát vọng còn chưa đạt được, nhưng như một sự ứa tràn của tình yêu, thứ tình yêu đã được ngập tràn trong nguồn mạch tình yêu ứa tràn của Thiên Chúa.
Cách thức đổi mới và hoàn thành chương trình cứu độ của Thiên Chúa có lẽ không giống như thợ quét sơn, thợ xây hay thợ may... Ngài không đổi mới bằng cách bỏ đi cái cũ. Quyền năng của Thiên Chúa có khả năng "tận dụng" cả những điều xấu để làm nên cái tốt trong sự mới mẻ đặc biệt. Thiên Chúa chẳng cần phải đục đẽo, cắt bỏ. Ngài đổ vào lòng con người tình yêu sung mãn và tình yêu ấy đến ở “nơi trũng” nhất trong con người, nơi còn giữ được “hình bóng Thiên Chúa” nhiều nhất trong nhân cách một con người. Khi đó, chính “nơi” ấy sẽ làm nên trọng tâm, tạo nên một “thế đứng” và làm nên “dáng vóc” mới của một con người. Một cách nào đó, chính những nghệ nhân phong thủy, có khả năng đặt thế đứng cho khối đá xù xì, biến khối đá ấy thành một tác phẩm nghệ thuật, những nghệ nhân ấy đã thực hiện phương cách đổi mới giống với cách hành động của Thiên Chúa nhiều nhất.
Nếu như có một bác sĩ thẩm mỹ nào đó được lên Thiên Đàng và vị bác sĩ ấy muốn "vá thẩm mỹ" năm vết thương của Chúa Giêsu... thì chắc chắn Chúa sẽ không đồng ý. Dấu tích năm vết thương ấy là một dấu tích lịch sử của tình yêu, nay trở nên vĩnh cửu như một phần không thể thiếu trong vẻ đẹp vĩnh cửu của Chúa. Cũng thế, mầu da đen của Martino không cần phải được làm cho trắng ra, những vết chai sần trên đôi tay Martino cũng không cần phải được bóc cắt gì cả...."Thật vậy, tất cả những gì Thiên Chúa tạo dựng đều tốt, và không có gì phải loại bỏ, nếu biết dùng trong tâm tình tri ân cảm tạ,..." (1Tm 4,4). Mầu da đen ấy nay là sắc mầu tuyệt đẹp; nhưng đôi tay ấy vẫn tiếp tục, và tiếp tục một cách sung mãn hơn nữa trong việc chia sớt những khổ đau của người khốn cực. Những vết tích của tình yêu chân chính ấy thực sự là vẻ đẹp chân chính nhất, thứ vẻ đẹp vừa cá biệt lại vừa phổ quát; vừa mang "tính Martino" lại vừa rõ ràng phản ánh vẻ đẹp từ Đức Giêsu Kitô, Đấng được đặt "là tất cả và ở trong mọi người" (Cl 3,11).
Nếu nhìn hành trình trần gian như một bài thi, với một đề thi chung cho mọi người, thì hành trình ấy quả là không công bằng và khá nghèo nàn. Các thánh không phải là những "bức tượng" được đúc nặn theo một khuôn mẫu, dù là được đúc nặn một cách thật tinh vi. Nếu nhìn hành trình trần gian như một sự vươn lên, thì đẳng cấp cao thấp vẫn là một "hạt sạn" trong nhiệm cục của Thiên Chúa.
Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng nói rằng trên Thiên Đàng, có ly to và ly bé, nhưng ly nào cũng được tràn trề. Đó là một cách diễn tả về tính sung mãn của Nước Trời. Tuy nhiên, ta vẫn có thể có một cách nhìn khác : trên thiên đàng, mỗi vị thánh là một ly kiểu khác nhau; mỗi kiểu ly đều đầy tràn tính nghệ thuật, đều độc đáo và tuyệt diệu.
Cậu nói với mẹ : mẹ ơi, con không quan tâm đến địa vị hay chỗ đứng trong xã hội. Con không nghĩ Chúa muốn chọn con để làm những việc lớn lao trên đời này. Chúa đã chọn các người khác để làm chuyện đó. Nhưng Ngài cũng cần có người để làm những việc nhỏ mọn. Và con, con đã dâng cuộc đời để làm người giúp việc trong tu viện rồi. Mẹ cầu nguyện cho con, để con trở thành kẻ phụng sự Chúa cách tốt nhất nhé !" (Bác Sĩ Tí Hon trang 42)
10.4 Trong thế giới đông vui
Thế giới yêu thương của Thiên Chúa là một sự sung mãn, "đông vui". Tình yêu của Thiên Chúa tỏ bầy quyền năng của Ngài trong một tình yêu sung mãn, tình yêu rộng mở và phong phú. Trong thế giới của Chúa có đủ mọi người, có đủ mọi sắc mầu phong phú vô tận của những thứ tình yêu muôn vẻ...
Thiên Chúa không phải "bị cạnh tranh" trong sự bầu chữa của Mẹ Maria và các thánh, nhưng ngược lại, chính những hoạt động của của Mẹ và các thánh nơi Thiên Quốc tiếp tục trở nên lời chứng cho quyền năng của tình yêu. Niềm vui thiên quốc không ngoảnh mặt trước những đau khổ của con người trần gian, niềm vui thiên quốc không có một chút gì là sự đắc thắng như một sự thỏa mãn của kẻ đã vượt qua một cuộc thì, nhưng là sự triển nở chân thật của những gì thuộc về thế giới tạo thành.
Việc xin khấn, việc kêu cầu với Đức Mẹ và các thánh không phải chỉ là một lòng đạo đức bình dân ẩn chứa một sự méo mó hoặc tính tầm thường của đức Tin. Nguy cơ ấy không phải là không có. Nhưng sự khấn xin, cách kêu cầu chân chính còn có thể bộc lộ một niềm xác tín vào quyền năng, vào tình yêu của Thiên Chúa qua những lời chứng muôn mặt trong cuộc đời các vị ấy. Những lời khấn xin, kêu cầu của những người thuộc "phòng khám" trong cuộc đời sẽ thật là tuyệt diệu khi nuôi dường niềm xác tín vào nét đẹp Nước Trời, nét đẹp quá đa dạng và phong phú của Nước Trời qua chứng tá của đức Maria và các thánh.
Thầy Martino nhẹ nhàng qùi xuống trước tượng Thánh Giá. Thày đã quỳ ở đó cầu nguyện cả giờ trước cơm tối....Thầy nhớ đến bao người thân quen với mình : cô bạn nhỏ La Rosita đã về trời, cha Dòng Phanxicô Francis de Solano, một thời lừng danh với những bài giảng, Đức Tổng Giám Mục nhân hậu Turribius, người đã ban bí tích Thêm Sức cho mình... Ôi tốt đẹp biết bao ! Tất cả các vị thánh ở Lima này một ngày nào đó sẽ gặp nhau trên quê hương Thiên Đàng..." (Bác Sĩ Tí Hon, trang 108)
Nếu tội lỗi là việc cắt đứt tình nghĩa với Thiên Chúa, đồng thời cũng gây nên sự đổ vỡ tương quan thân tình của con người với nhau; thì cứu độ là tái lập tương quan thân tình với Chúa đồng thời cũng nối kết lại tình thân con người với nhau. Hai khía cạnh của một tình yêu duy nhất ấy không tách rời nhau và cùng diễn tiến theo đường hướng thuận chiều với nhau. Nước Trời, nơi mà mỗi vị thánh được ngập tràn trong tình yêu của Chúa thì cũng là nơi có một cộng đoàn các thánh đông vui.
“Vương Quốc ấy đã hiện diện cách mầu nhiệm ở trần gian này và sẽ được kiện toàn khi Chúa đến” (MV 39)
Tình yêu Thiên Chúa là tình yêu ứa tràn trong sự sáng tạo muôn loài, ứa tràn trong ơn cứu độ toàn thể vũ trụ, và ứa tràn một cách sung mãn nhất trong ngày Quang Lâm...
***
Có một chợ vui, vui vì ai cũng có tiền để mua sắm;
Có một ngày họp mặt đầm ấm, đầm ấm vì mọi người đều là bạn thân, với bao nhiêu kỷ niệm vui buồn khó phai;
Có một buổi lễ hoành tráng, hoành tráng vì ai cũng được mặc lễ phục huy hoàng;.
Đồng tiền ấy, tình nghĩa ấy, và lễ phục ấy, và tất cả mọi sự đều được tặng không từ lòng thương xót của Chúa.
Triều thiên của các thánh chính là lòng thương xót Chúa !