Câu Chuyện Mác-ti-nô - Phần 1

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Đức Bênêdictô XVI, trong tông huấn Verbum Domini, đã triển khai một chiều kích của Lời Chúa liên quan đến Lời chứng. Lời Chúa không phải chỉ là một thứ triết lý đẹp, hoặc như một lý thuyết không tưởng, nhưng Lời Chúa là một thực tại người ta có thể sống và là thực lại làm cho người ta sống. Lời Chúa gắn liền với cuộc sống, Lời Chúa khai mở cho cuộc sống và cuộc sống trở nên chứng tá cho Lời Chúa. Lời Chúa được “chú giải” một cách sinh động qua lời chứng của các Kitô hữu, đặc biệt qua lời chứng là cuộc đời các vị thánh.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

__________________

Lời ngỏ

Đức Bênêdictô XVI, trong tông huấn Verbum Domini, đã triển khai một chiều kích của Lời Chúa liên quan đến Lời chứng. Lời Chúa không phải chỉ là một thứ triết lý đẹp, hoặc như một lý thuyết không tưởng, nhưng Lời Chúa là một thực tại người ta có thể sống và là thực lại làm cho người ta sống. Lời Chúa gắn liền với cuộc sống, Lời Chúa khai mở cho cuộc sống và cuộc sống trở nên chứng tá cho Lời Chúa. Lời Chúa được “chú giải” một cách sinh động qua lời chứng của các Kitô hữu, đặc biệt qua lời chứng là cuộc đời các vị thánh.

“Tính hỗ tương này giữa Lời và chứng tá phản ảnh cách thế Thiên Chúa dùng để tự thông truyền chính mình trong công cuộc Nhập Thể của Ngôi Lời của Ngài. Lời Thiên Chúa đến với mọi người “qua cuộc gặp gỡ với các chứng nhân đang làm cho Lời nên hiện diện và sống động”.(s. 97)

Cách nhìn của đức Bênêdictô XVI có thể giúp Giáo hội thoát được lối suy tư về các vị thánh theo kiểu tô vẽ quá nhiều nét cao cả, anh hùng, và nhiều khi có cả những đường nét văn hóa không phải linh đạo của Tin Mừng. Các thánh trở nên những "mẫu gương" sáng lòa tính anh hùng mà không còn là lời chứng tỏ lộ quyền năng và tình thương cứu độ của Thiên Chúa.

Cuộc đời thánh Martino de Porres có lẽ chính là lời chú giải bài hoan ca của đức Giêsu :

"Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói : "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha". (Lc 10,21)

Cựu Ước đã nhiều lần cho thấy đường lối của Chúa cao hơn và khác với đường lối của con người; đường lối ấy tỏ lộ tình yêu của Chúa qua việc thanh lọc để làm nên "số còn sót lại" từ những con người yếu kém, bị coi thường trước con mắt thế gian :

"Ngày ấy - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA - chiên nào què, Ta sẽ quy tụ lại, chiên nào đi lạc xa hay bị Ta giáng hoạ, Ta sẽ tập hợp về. Ta sẽ dùng chiên què làm số sót, biến chiên đi lạc thành dân tộc hùng cường". (Mikha 4, 6-7)

Đức Giêsu tái khẳng định cách mạnh mẽ đường lối ấy của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã từng nói và nói nhiều lần về một trật tự Nước Trời khác với hoặc đảo ngược so với trật tự thế gian.

- "Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.(Mt 19,30)

- " Đức Giê-su nói với họ : "Tôi bảo thật các ông : những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. (Mt 21,31)

- "Anh em nghĩ sao ? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao ? (Mt 18,12)

-"Tôi nói cho các ông biết : người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi ; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."(Lc 18,14)

- "Tôi nói thật với anh em : trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông. (Mt 11,11)

................................................................................

Thế nhưng, hình như số các vị thánh xuất thân từ tầng lớp những người được Đức Giêsu tiên báo vẫn không nhiều...

Có phải chăng não trạng của người Kitô hữu vẫn chưa thích ứng được với tinh thần của Nước Trời ? Có phải chăng, hiện nay, khi nói về các thánh, người Kitô hữu vẫn không ngừng tìm kiếm những đức tính cao cả anh hùng, những đức tính mà tầng lớp ưu tuyển sẽ có nhiều "lợi thế" đạt được hơn tầng lớp những người nghèo khổ ? Có phải chăng, trong hiện tình của đời sống Giáo hội, người Kitô vẫn chưa thấy rõ những phẩm tính sự sống Nước Trời ? Có phải chăng cánh cửa Nước Trời, sự nghèo khó, vẫn chưa rộng mở để biết bao nhiêu con người được Chúa yêu thương đặc biệt có thể bước vào ?

Cuộc đời thánh Martino là lời "chú giải" lời hớn hở vui mừng của đức Giêsu : "... nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha". (Lc 10,21). Câu chuyện Martino là tiếng vang vọng lời hớn hở vui mừng của Mẹ Maria.... : "Bấy giờ bà Ma-ri-a nói : "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc". (Lc 1,46)

Hình ảnh Martino có vẻ như chỉ dính dáng đến những người đau khổ muốn xin khấn, xin ơn này ơn kia... chứ không soi sáng bao nhiêu cho hành trình tâm linh của người Kitô hữu... Thật ra, thánh Martino không phải chỉ là một vị thánh hay làm phép lạ, không chỉ "hấp dẫn" với những người đang gặp khó khăn. Sự hiện diện của Martino còn thật sự là một lời chất vấn đối với những não trạng luôn đề cao người ưu tuyển theo kiểu thế gian. Cách sống của Martino thực sự là một lời chứng về nẻo đường "người nghèo có phúc" mà Tin Mừng Nước Trời của đức Giêsu đã mở ra.

Những suy niệm về thánh Martino trong tập sách nhỏ, suy niệm về một vị thánh da đen, một vị thánh thuộc giai cấp bần cùng, một vị thánh khơi dậy niềm trông cậy cho biết bao con người khốn khổ ngày hôm nay,.. những suy niệm này là một cố gắng tìm lại, qua cuộc đời của thánh Martino, mạch nguồn sự sống tâm linh mà đức Giêsu đã khai mở cho con người, cho mọi người Kitô hữu, cho mọi vị thánh, đặc biệt là cho những "người nghèo" được Chúa yêu thương. Tập sách nhỏ này cố gắng không tô vẽ, không kéo các ngôi sao trên trời xuống để trang trí cho khuôn mặt mộc Martino, nhưng là cố gắng chiêm niệm, lắng nghe, ghi nhận những dấu chỉ của sự sống đang âm thầm trào dâng từ "ngôi mộ trống" của đức Giêsu, Đấng là Sự Sống và Đấng làm cho con người được sống.

Huyền nhiệm sự sống ở đáy cuộc đời

1. Một câu chuyện đời

2. Thế giới nhìn từ chân

3. Thiên Chúa đón nhận từ chân

4. Mạch nguồn sự sống nơi đáy cuộc đời

5. Chân tướng chiến cuộc thiện - ác

6. Tìm được đường về

7. Bài ca bác ái

8. Bài ca vũ trụ

9. Bài ca thuận mệnh

10. Bài Hoan ca Thiên Quốc

1. Một câu chuyện đời

Lạy Thánh Martino....

Trong Thánh Lễ ngày 24.4.2013, tại nhà nguyện Nhà Thánh Martha, Vatican, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói : Giáo hội không là một tổ chức phi chính phủ ... Giáo hội là một "câu chuyện tình yêu" sinh ra "trong trái tim của Chúa Cha," .

1.1 Câu chuyện và bài toán

Bình thường, một bài toán đúng chỉ có một kết quả. Trong bài toán, khi có những dữ kiện, thì kết quả gần như đã có rồi. Những cách giải toán dù có biến thiên hay khác biệt nhau thế nào, thì cũng vẫn chỉ là một lô-gíc cố định, đưa tới đáp số đã có và chỉ có thể đi đến đáp số ấy mà thôi.

Câu chuyện khác. Câu chuyện luôn bất ngờ. Người ta tò mò hoặc say sưa đọc truyện, nghe chuyện vì muốn biết được kết cục của câu chuyện, vì muốn nhìn thấy một kết cục theo ý mình.... Khi mà tác giả tìm thấy những tình tiết vừa chân thực, vừa "hợp lý" lại vừa tạo nên một sự chuyển hóa thật ly kỳ thì câu chuyện trở nên hấp dẫn và có giá trị...

Cuộc đời con người không phải là một bài toán đúng nghĩa, nhưng là một câu chuyện đúng nghĩa. Một con người là một huyền nhiệm và một cuộc đời luôn hàm chứa những bất ngờ, luôn ẩn chứa một hoặc nhiều khả năng "sáng tạo". Sự có mặt của một con người nào đó chính là dấu chỉ xuất hiện một cái mới, một bắt đầu mới và luôn có thể trở nên mới...

Hơn nữa, cách làm mới của Chúa thật là kỳ diệu, không phải là cắt bỏ cái cũ, không phải là cắt đục, đẽo gọt, hoặc uốn nặn ngẫu hứng. Thiên Chúa làm mới cuộc đời con người bằng cách đi vào lịch sử con người, đón nhận những dữ kiện đã hình thành trong cuộc đời mỗi con người. Thiên Chúa đi vào bài toán cuộc đời con người để biến bài toán ấy nên một câu chuyện mới, câu chuyện hấp dẫn với những chuyển biến vừa "hợp lý", vừa kỳ diệu, vừa tôn trọng tự do con người, vừa bộc lộ quyền năng của tình yêu, hàm chứa sự khôn ngoan vượt bậc trong quyền năng và thấm nhuần thứ tình yêu đày lòng thương xót trong quyền năng vô biên của Ngài...

Cái mới ấy không phải từ trên trời rơi xuống, nó nẩy sinh từ chính những dữ kiện cụ thể của lịch sử. Câu chuyện đời luôn đón nhận nguồn cội trong dòng lịch sử thật, nhưng lại luôn hàm chứa những yếu tố, những cách lý giải có thể khác, luôn có thể vượt qua thứ lô-gíc toán học để bay lượn trong bầu trời của tự do. Con người ta có tự do. Với tự do, phương thức giải toán trở nên thiếu sót; đáp án đời người trở thành một tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo với tất cả tài năng của người nghệ sĩ chứ không phải là một thành quả kỹ thuật được xếp hạng cao thấp...

Con người khoa học kỹ thuật thì luôn chắc tâm về đáp án của mình; nhưng bản chất con người có tự do lại luôn tò mò, bị lôi cuốn như một khao khát khám phá kết cuộc còn ẩn dấu của câu chuyện.

1.2 Câu chuyện và người kể chuyện

Mỗi con người chính là người kể chuyện đời mình. Mỗi người là một đạo diễn, là một tiểu thuyết gia, là người nghệ sĩ đích thực trên chất liệu cuộc đời mình. Thiên nhiên và xã hội cung cấp cho con người những dữ kiện, nhưng chính con người mới là kẻ cấu trúc nên câu chuyện đời mình. Người ta thường nói "xấu nhưng cấu trúc đẹp", đó cũng là cách nói thay cho kiểu nói "nhất dáng nhì da".... và cách nói chơi đùa ấy cũng có thể hàm một ý nghĩa "triết lý" sâu xa. Chất liệu làm nên bức tranh hoặc pho tượng nào đó có thể không tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là người ta không thể tạo nên được một tác phẩm nghệ thuật tuyệt hảo. Với con người, điều đó càng đúng hơn rất nhiều, nếu người ta bỏ đi được cách nhìn so sánh thô thiển, nếu người ta đừng đánh giá được thua theo tiêu chuẩn của một thứ thành đạt xã hội nào đó.

Cuộc đời con người là một câu chuyện, một câu chuyện có thể mở ra vô cùng kết quả khác biệt. Câu chuyện đời của mỗi con người quả là một huyền nhiệm, vì chính bản thân mỗi con người đã là một huyền nhiệm, và kế hoạch của Thiên Chúa trên cuộc đời con người lại là một huyền nhiệm gấp đôi. Câu chuyện đời người có thể "diễn ra" trong bối cảnh một làng quê hoặc bối cảnh những đại gia giầu có. Vai chính của câu chuyện có thể là một bác sĩ mà cũng có thể là một bệnh nhân, có thể là một vị tổng thống hoặc một người mẹ đau nặng... Điều quan trọng hơn là câu chuyện ấy lạt lẽo nhàm chám hoặc đầy kịch tính; đầy ý nghĩa nhân văn hoặc là những thứ câu khách rẻ tiền; hé mở được thực tại huyền nhiệm của đời người hoặc chỉ là sự nối kết những sự kiện lòe loẹt..; và điều quan trọng hơn hết là câu chuyện của một người lại có thể "gợi hứng" như một lời chứng chân thật cho những câu chuyện đời phong phú muôn mặt của mỗi người. Giá trị câu chuyện cuộc đời được "đo" bằng những khúc quanh bất ngờ đầy ý vị...

Hãy đọc một câu chuyện để đừng đóng khung đời mình theo một thang điểm nghèo nàn; hãy nghe một câu chuyện để tìm thấy những chân trời mới lạ nơi cuộc đời mình. Hãy chiêm ngắm câu chuyện một vị thánh để gia tăng lòng trông cậy vào Chúa... Đứng trước câu chuyện đời mình, mỗi người cần nghe được mời gọi sáng tạo, cần nhận ra một năng lực thôi thúc sáng tạo mãnh liệt nhất, để vượt thắng cái lô-gích máy móc của khoa học thực nghiệm.

1.3 Câu chuyện cậu bé da đen ở Pê-ru

Thế kỷ XVI, thời đại mà các nước Tây Phương đang thực hiện giấc mộng đế quốc bằng cách đi xâm chiếm các nước thuộc địa, và biến nhiều người da đen, dân bản xứ, thành những người nô lệ,...

Thành phố Lima, nước Peru, một thuộc địa của Tây Ban Nha, một thị trấn dân cư đông đúc, có nhiều thành phần xã hội phức tạp và là một thành phố có nhiều tệ nạn, đầy sự bất công và dĩ nhiên bị đè nặng trong não trạng kỳ thị chủng tộc, mầu da...

Trong thời đại ấy và tại nới ấy, một chàng hiệp sĩ quí tộc Tây Ban Nha, thuộc binh đoàn An-ca-ta-ra, chàng Don Juan Porres, trẻ tuổi, tài hoa, tương lai nhiều hứa hẹn, đem lòng yêu thương một cô gái da đen gốc Panama, thuộc tầng lớp những người nô lệ mới được giải phóng, cô Anna Velasquez.

Rồi hoa trái của mối tình thơ mộng ấy là cô bé Jane de Porres, và hai năm sau là cậu bé Martino de Porres.

Martino Porres Martino sinh ngày 09-12-1579 tại thành phố Lima, và được lãnh Bi tích Rửa tội tại nhà thành Sanbastian (thánh nữ Rosa de Lima, sống cùng thời với Martini cũng được lãnh nhận bí tích Rửa tội tại nhà thờ này...)

Và vết mực trên bức tranh thơ mộng ấy là : cả cô bé Jane và cậu bé Martino đều mang mầu da đen của bà mẹ Anna....

Câu chuyện tình "ngang trái" giữa Don Juan Porres và Anna Velasquez, hẳn phải hàm chứa một tình yêu nồng cháy, với biết bao quyết tâm để vượt qua hàng rào dư luận, thiết tha xây dựng một mái ấm gia đình hạnh phúc... Mối tình ngang trái ấy hàm chứa một sức sống vươn lên, muốn thoát khỏi sức nặng của quan điểm xã hội...

Thế nhưng câu chuyện đã rẽ sang một hướng khác. Tình yêu thơ mộng giữa hai bạn trẻ đã có thể bén duyên được, nhưng để mái ấm gia đình đứng vững trước sống gió cuộc đời thì khó hơn nhiều. Có nhiều bàn tay lông lá bôi bẩn vào bức tranh tình yêu ấy : những ánh mắt mỉa mai, những lời xầm xì vô tâm, thói vô trách nhiệm và cả những thứ đao đức đáng "kính sợ". Dư luận xã hội thường vẫn cứ muốn "làm toán" và tìm ngay đáp án cho bài toán tình yêu của người khác.

Hoàn cảnh ấy xô đẩy câu chuyện tình thơ mộng như thể muốn kéo mối tình bay bổng ấy rơi xuống mặt đất, bị vùi dập vào qui luật của bài toán : làm sao một người hiệp sĩ quý tộc da trắng lại có thể sống hạnh phúc với một cô gái da đen ? Không thể được ! Cuộc tình ấy chắc chắn sẽ đổ vỡ... Đó là những tiếng gào thét của bài toán.... Nẻo đường đi đến chân trời ước mơ đã bị gieo rắc quá nhiều vật cản.... . Dũng khí nào, tình yêu nào, lòng chân thật nào có thể khai thông nẻo đường ấy ?

Nhưng cuối cùng thì chỉ có sự yếu hèn, thái độ trốn tránh trách nhiệm, cùng với sự nhạt nhòa của tình yêu bồng bột... Tình yêu của Don Juan Porres đã không át nổi tiếng gào thét của dư luận. Ông để cho bài toán khắc nghiệt của cuộc đời đi đến đáp án bình thường của nó. Con đường mơ ước đã không được khai thông... Tình yêu bị đè bẹp, chỉ còn lại một sự loay hoay giải gỡ chắp vá, ....

1.4 Thiên Chúa như "đồng tác giả"

Khung trời mơ ước của con người vốn thường như vậy. Phải chăng mơ ước hạnh phúc là thứ thiên đàng mà con người không đủ khả năng xây dựng được ? Tầm nhìn kiến trúc của con người quá nhỏ hẹp; kết cấu câu chuyện con người viết ra quá lỏng lẻo... Chất liệu con người có thể có được không an toàn để xây khung trời mơ ước...

Nhưng Thiên Chúa đã dính dáng vào đời người như một Đồng Tác Giả. Thiên Chúa khai mở chân trời siêu việt, Thiên Chúa gợi ý cho những nẻo đường quanh co, Thiên Chúa trợ giúp tích cực cho những tình huống bế tắc... để có thể đi đến một kết luận "có hậu". Quả thật, Thiên Chúa vẫn có thể viết lên những câu chuyện đẹp từ những chất liệu xấu. Từ những bước rẽ lệch lạc do con người tạo nên, Thiên Chúa vẫn có thể "ráp nối" nên một câu chuyện đẹp, mặc dù câu chuyện ấy sẽ đau thương hơn, bi tráng hơn.

Cậu bé Mác-ti-nô chính là đoạn kết kỳ diệu mà Đấng "Đồng Tác Giả" đã viết lên cho câu chuyện tình không trọn vẹn của chàng Gio-an Po-rét và cô An-na Vê-lát-ca. Một cậu bé ở cùng đáy bậc thang xã hội tại trị trấn Lima, đất nước Peru, thời thực dân đế quốc ấy, trở thành chứng nhân cho sự sống kỳ diệu ở đáy cuộc đời.

1Cr 7,22 : Thật thế, người đang làm nô lệ mà được Chúa kêu gọi, thì là người được Chúa giải phóng. Cũng vậy, người đang tự do mà được kêu gọi, thì là nô lệ của Đức Ki-tô.

Thế là câu chuyện tình giữa Don Juan Porres và Anna Velasquez lại biến thành câu chuyện tình giữa Thiên Chúa và cậu bé Martino. Câu chuyện bi đát trở thành câu chuyện của sự lòng thương xót. Quả thật con người là một huyền nhiệm, lịch sử con người là một huyền nhiệm; nhưng vận mạng ấy lại trở nên huyền nhiệm biết bao khi có Thiên Chúa như Đấng Đồng Tác Giả để viết nên một lịch sử ơn cứu độ.

Huyền nhiệm cuộc sống chỉ có thể được khai mở trong dòng một câu chuyện. Chìa khóa toán học không mở được huyền nhiệm ấy, chỉ có sự trân trọng cuộc đời mỗi người như một câu chuyện mới có thể mở ra cánh cửa huyền nhiệm.

Cuộc đời thường bít lối vươn lên của người nghèo. Đấu tranh để vươn lên, đó là khát vọng tự nhiên của mọi người nghèo. Martino không phải là kẻ an phận, nhưng con đường của Martino không phải là đối phó, không phải bằng bạo lực chống lại bạo lực, mà là bằng một sự an hòa trong tình thương từ nơi chính chỗ đứng của mình, một sự an hòa tìm được tầm cao đích thực của mình trong tình thương xót của Chúa, và là một sự an hòa đầy sức mạnh để lay động con tim của con người.

Nhìn vào cuộc đời Martino, ai còn dám làm toán và khẳng định những đáp án khắc nghiệt của những mảnh đời ở đáy xã hội ? Nhìn vào cuộc đời Martino, người nghèo nào không cảm thấy trỗi dậy một chút tự hào ! một chút hy vọng ! một chút an ủi ! một chút xác tín vào lòng từ bi thương xót của Chúa.

Lòng thương xót Chúa thấm sâu tận đáy cuộc đời. Lòng thương xót của Chúa chẳng những trả lại giá trị căn bản của người nghèo, trả lại phẩm giá cao quí cho mọi người, nhưng còn làm cho con người hiểu rằng : không gì có thể vùi dập được con người, dù con người trần trụi mọi sự; bởi vì chính nơi đó có Chúa, có quyền năng của Chúa, có sự khôn ngoan của Chúa, có tình yêu chân thật nhất, lòng thương xót của Chúa.

***

Có biết bao nhiêu câu chuyện thương tâm trong cuộc đời,

Có biết bao nhiêu câu chuyện bi hài ở xung quanh ta,

Và chính câu chuyện đời ta : thành đạt ? dở dang ? nhàm chán ? đau thấu ruột gan ?...

Lòng thương xót Chúa vẫn chờ đợi để viết tiếp câu chuyện đời và làm cho câu chuyện ấy được khai mở đến chân trời cứu độ.

ÔI ! Lòng thương xót Chúa dõi bước chân con !

2. Thế giới nhìn từ chân

Mầu da đen Martino lãnh nhận từ bà mẹ thuộc tầng lớp nô lệ mới được giải phóng, mầu da ấy trở nên tấm "căn cước" cho cuộc đời. Martino thuộc tầng lớp những người nghèo hèn trong một xã hội phân cấp...

Cuộc đời Martino gắn liền với giai tầng xã hội ấy. Đã có lần Martino tìm thấy cánh cửa để vượt thoát lên một giai tầng cao hơn, nhưng cậu lại tự đóng nẻo đường ấy.

Martino thường xuyên gặp gỡ những con người đau khổ vì nghèo, đau đớn vì bệnh, đau lòng vì bị khinh khi.... Nỗi đau ấy lây lan ra tất cả cuộc đời : đau mắt vì không dám nhìn lên, đau miệng vì thấp cổ bé họng, đau tai vì phải nghe những lời khinh dể, đau bụng vì phải làm việc làm việc vất vả cho cái dạ dầy gào thét... "Thế giới nhìn từ chân" có đủ mọi nỗi đau !

Nhưng với Martino, thế giới ấy sao dễ thương lạ lùng...

2.1 Bức tranh thế giới

Thế giới của sinh vật là thế giới “cá lớn nuốt cá bé”. Không có nguyên tắc nào chi phối bản năng sinh tồn của sinh vật ngoài nguyên tắc của sức mạnh, sức mạnh của bắp thịt, sức mạnh của hàm răng, sức mạnh từ những “thủ thuật” đánh lừa của những con vật săn mồi.

Thế giới của sinh vật không phải là thế giới con người có thể sống được. Con người khao khát vuơn lên khỏi thế giới của sinh vật, nên ở đâu đâu, xã hội loài người cũng bắt đầu hình thành và phát triển dần dần những luật lệ và những chuẩn mực luân lý, nhằm ngăn chặn tình trạng cá lớn nuốt cá bé. Đó là nỗ lực xây dựng một xã hội công bằng hơn mà ta có thể gọi được là thế giới “thuận mua vừa bán”. Chính từ khả năng trao đổi ấy, xã hội con người đã vươn lên được một tầm cao mới. Biết bao nhiều công trình to lớn trong xã hội đã thành tựu được nhờ quy luật trao đổi ấy.

Tuy vậy, trong cuộc sống xã hội, người ta thấy vẫn còn đầy tính chất của qui luật sinh vật, qui luật mạnh được yếu thua. Không phải đó chỉ là chuyện ngày xưa, khi chưa có luật pháp hay khi chưa có những giá trị luân lý; nhưng ngay trong thế giới văn minh hiện đại, người ta vẫn thấy hàm chứa qui luật sức mạnh theo kiểu sinh vật ấy, qua nhiều hình thức khác nhau, từ thô bạo đến tinh vi. Qủa thật, qui luật “thuận mua vừa bán” cao hơn qui luật “cá lớn nuốt cá bé”; nhưng trớ trêu thay, trong thực tế, người ta vẫn thấy qui luật “cá lớn nuốt cá bé”như bóng ma luôn ẩn nấp đâu đó trong xã hội; bóng ma này, dù đã biết bao xoay sở, con người vẫn không thể nào thoát ra được. Trên bình diện thế giới, chẳng bao giờ nước nhỏ có thể tương giao về chính trị, kinh tế, văn hóa… một cách bình đẳng với nước lớn; trong từng xã hội, dù là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, dù là kinh tế thị trường hay kinh tế chỉ huy, ta vẫn thấy ẩn núp sâu xa bóng dáng qui luật “mạnh được yếu thua”. Dostoievsky đã từng nói rằng : chưa bao giờ con người đồng ý với nhau được về việc phân phối tài sản. Hình như con người không thể vượt được thế giới của sinh vật; và mặc dù có biết bao nỗ lực, các định chế xã hội vẫn để xổng ra con thú từ chính bản chất tội lỗi của con người.

Con người không ngừng đi tìm một thế giới công bằng hơn. Thế nhưng, nói cho cùng, xã hội con người không bao giờ có được một sự công bằng trọn vẹn. Tất cả những bộ luật của nhân loại, tất cả những cuộc đấu tranh cho công bằng vĩ đại nhất trong lịch sử, thật ra cũng chỉ là một “chút đường” bỏ vào “bể muối” mênh mông của bất công. Ngay khi được cưu mang và được sinh ra, em bé ấy đã, hoặc đương nhiên gánh chịu, hoặc vô tình hưởng thụ nơi bản thân nó biết bao bất công chồng chất của cuộc đời : bất công của lịch sử, bất công của chính trị giữa dân tộc này với dân tộc kia, bất công của hoàn cảnh gia đình, bất công của môi trường xã hội, bất công giữa anh chị em với nhau, ... Rồi trên hành trình cuộc đời, mỗi bước đi của đứa bé ấy cũng đều được đan dệt trên những thành quả của bất công, bối đắp thêm gánh nặng của bất công…

Trên hành trình đến Guayaquil, Jane và Martino đến hải cảng Allao. Nơi đây, hai đứa bé được thấy nhiều con tầu to lớn, thấy những sinh hoạt kinh tế sấm uất, và thấy bộ mặt thật của thế giới. Người ta đang tấp nập chuyển vàng bạc, của cải quí giá về Tây Ban Nha. Vàng thì được khai thác từ ngọn núi ngoài thành phố Lima, bằng sức lao động của thổ dân; của cải từ những đồn điền mà hàng ngàn người da đen nô lệ phải đổ mồ hôi và máu để canh tác. Người Tây Ban Nha đi xâm chiếm Peru khoảng 45 năm trước, họ đang tích cực làm giầu và làm giầu bằng cách gieo rắc cái nghèo cho hàng ngàn người thổ dân và người da đen...

Dĩ nhiên là chúng ta không bao giờ được coi thường những nỗ lực đấu tranh cho công bằng, hoặc làm giảm nhẹ tầm quan trọng của những cuộc đấu tranh ấy. Nhưng cũng cần nhận diện ra được đại dương của bất công, để không ai được quyền an thân trong hoàn cảnh may mắn nào đó của mình; không ai được quyền bào chữa cho mình khỏi chịu trách nhiệm trước những khổ đau của người khác; không ai được quyền sống theo kiểu “bàn tay sạch”, hoặc “đi cà khêu” giữa cuộc đời. Một ảo tưởng về sự công bằng cũng đã là một sự bất công; và cũng nguy hiểm chẳng kém gì chính sự bất công lu lù mà ai cũng thấy được.

Nguy hiểm hơn hết, có nhiều nỗ lực đấu tranh với bất công nhưng gồm chứa nhiều ảo tưởng nguy hiểm, bởi vì người ta luôn bị cám dỗ đấu tranh với cái ác bằng chính đường lối của sự ác, và cái ác mặc sức lây lan.

2.2 Ở cùng đáy thế giới con người

Điều éo le hơn hết của kiếp người là người ta luôn muốn đánh giá, xếp hạng con người dựa trên tiêu chuẩn phẩm cách. Một con người có phẩm cách, theo văn hóa Á Đông, là người có tài năng và đức độ. Thế nhưng ai cũng biết rằng mọi người không có điểm xuất phát bằng nhau, thế mà mỗi người lại cứ phải chạy đua trên cùng một đường đua, với những chuẩn mực của mức đến như nhau. Có người sinh ra đã nhận lãnh biết bao ưu thế, và có người, ngay khi sinh ra, đã chịu biết bao thiệt thòi..., mà thiệt thòi lớn nhất là chính ngã vị của họ không được tôn trọng xứng đáng.

Thế giới con người, ngay cả trong đời sống thực tế của Giáo hội, bao giờ cũng lấy thang điểm nhân cách để đánh giá nhau, để xếp hạng; và tiếp theo đó là để tôn vinh hay nhạo báng, để kính trọng hay khinh dể.

Thật ra, nền tảng bản chất người, và cũng là nền tảng của xã hội, không phải là phẩm cách mà là ngã vị, là chính phẩm giá làm người đã được Chúa trao tặng nhưng-không. Lòng tôn trọng con người ở nền tảng chính là lòng tôn trọng một "ngã vị trần trụi tôn nghiêm" nơi mọi con người. Tôn trọng là yếu tố căn bản để thiết lập tha nhân như là “đối tác bình đẳng", và đó là sự tôn trọng đối với chính phẩm giá con người.

Quả thật, cuộc sống con người nơi tầng đáy của xã hội lại chính là nơi hàm chứa rõ nét nhất những viên ngọc quí nhất của con người. Người ta chỉ khám phá ra ý niệm phẩm giá con người khi có những con người bị chà đạp. Chính sự hiện diện của người nghèo, hoặc nỗi đau thương của con người đã làm bật ra ý nghĩa cao quý, giá trị căn bản của một con người. Khi con người bị “lột trần”, khi bản thân một con người không còn được bảo vệ, trang trí, tô vẽ bằng tiền của hay địa vị, thì con người ấy lại có thể biểu lộ được rõ nét điều căn bản nhất, đòi hỏi người khác phải tôn trọng, đó là phẩm giá một con người.

Thật ra, trong nhân loại, vốn đã có tiềm tàng một thứ tình cảm tự nhiên về phẩm giá con người. Chẳng hạn, lòng tôn trọng con người biểu lộ trong nghi thức chôn táng. Từ khi có sự hiện diện của con người thì cũng có những nghi lễ chôn táng người chết. Đó chính là dấu vết tâm tình tôn trọng con người; bởi vì con người, dù là một xác chết, cũng cần được tôn trọng, khác với xác chết của con vật. Tuy vậy, trong dòng lịch sử, việc hình thành được những bản tuyên ngôn nhân quyền như Sắc dụ Sublimis Deus của đức Phaolo III ngày 2/6/1537, cho đến các bản văn Bill of Rights ở Anh Quốc (1689); bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ 1776, tuyên ngôn Cách Mạng Pháp (1789), cũng như bản tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc 10-12-1948..., tất cả những thành quả ấy đều sáng tỏ ra được trước lương tâm nhân loại "nhờ vào" chính những khổ đau tột cùng của những người nô lệ, "nhờ vào" những người bị bóc lột, những người bị đối xử bất công đến độ không có được một đời sống xứng đáng với phẩm giá làm người.

Sắc dụ Sublimis Deus của đức Phaolo III ngày 2/6/1537 : "Các thổ dân, tuy không phải là Kitô hữu, những không thể bị tước đoạt tự do và chủ quyền sở hữu. Họ có quyền được hưởng tự do, sở hữu và thủ đắc tài sản. Không ai được phép bắt họ làm nô lệ".

Bản tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc 10-12- 1948 : "Mọi người đều sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền lợi. Con người có lý trí và lương tâm, và phải đối xử với nhau trong tinh thần huynh đệ".

Trong đời sống thường ngày, con người luôn bị thúc đẩy do thái độ "ăn gian". Con người luôn sợ mình không được yêu chân thật, mình không được chấp nhận từ chân, và không được liên lụy trong cả cuộc đời. Nỗi sợ ấy khiến cho con người luôn phải "trang điểm" cho bản thân và cuộc đời mình bằng những thứ "sự vật". Con người muốn khẳng định mình bằng tài năng, bằng địa vị, bằng sắc đẹp, bằng tiền bạc và thậm chí bằng đức độ..., để có thể được người khác chấp nhận. Thái độ "ăn gian" là khi người ta lấy những "sự vật" để thay thế cho bản ngã đích thực; lấy những điều thuộc "chức năng" để làm cho "phẩm giá" của mình được ngon lành hơn... Thái độ ăn gian chính là cám dỗ có thể chinh phục được người khác bằng "sự vật", thậm chí nhằm trao đổi hoặc mua bán tình yêu bằng một thứ "sự vật" nào đó; theo kiểu "Tao đẹp trai, học giỏi, con nhà giầu... tao muốn đứa con gái nào chẳng được...". Gia-kêu đã quá tuyệt vời khi không sử dụng những ưu thế của mình, thế lực và tiền bạc, để giải quyết mong ước gặp đức Giêsu, nhưng ông đến với Chúa trong một ngã vị trần trụi, một con người lùn, leo lên cây như một đức trẻ (Xc. Lc 19,1-10).

Thái độ ăn gian đưa đến những thứ tương giao giả tạo, tương giao có tính xã giao, tương giao có tính thực dụng, tương giao có tính lợi dụng hoặc tương giao có tính gây hấn đe dọa... Khi người ta chi biết tôn trọng người giầu mà khinh chê kẻ nghèo, sợ người giỏi mà coi thường kẻ dốt, khúm núm trước người có địa vị mà lại lên mặt với dân đen; khi người ta tặng quà cáp để được lợi lộc, khi người ta dùng sức mạnh của đồng tiền hay vũ lực để bắt người khác làm theo ý mình... khi đó người ta vẫn chơi ăn gian trong cuộc đời.

Một điều vô cùng khó của con người, đó là khả năng chơi với nhau ở mức độ phẩm giá căn bản; mà điều này chỉ có thể có được khi người ta công nhận mọi sự đều là hồng ân. Con người đã được lãnh nhận nhưng-không chính bản thân và cuộc đời của mình. Phẩm giá của con người không do chính mình, không do xã hội cấp phát theo một số điều kiện nào đó... "Thật vậy, nào có ai coi bạn hơn kẻ khác đâu ? Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh ? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh ?"(1Cr 4,7).

2.3 Thiên Chúa ở đáy xã hội

Trong Sách Thánh, người ta khám phá ra một kho tàng phong phú để xác nhận phẩm giá người. Trước tiên, phải kể đến nền tảng quan trong nhất của khoa nhân học Kitô giáo, đó là : con người được sáng tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa :

“Thiên Chúa phán : "Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.". Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ”. (St 1,26-27)

Trong Tân Ước, chúng ta thấy Chúa Giêsu đặc biệt bênh vực những người bệnh tật, động lòng thương xót với những người đau khổ, cảm thông và tìm cách cứu vớt với những người tội lỗi… Chính Tin Mừng của Chúa Giêsu mới thật sự là nguồn mạch của phẩm giá con người, phẩm giá là-người cũng như phẩm giá làm-người. Chúa Giêsu cho thấy phẩm giá là-người của những kẻ bé mọn và khẳng định nền tảng của sự bình đẳng ấy được chuẩn nhận nơi chính Thiên Chúa. Sự quan tâm của Thiên Chúa đến cá nhân con người được khẳng định trong việc trao ban cho mỗi người có một thiên thần bản mệnh.

"Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này ; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”. (Mt 18, 10)

Thật ra tình yêu Kitô giáo không phải chỉ là một tình cảm, nhưng thiết yếu là một sự tôn trọng, một cam kết đón nhận chính cái tôi của ai khác, và làm nên một cộng đồng ngôi vị. Ta có thể hiểu một “cộng đồng ngôi vị” là nơi mỗi thành viên không chỉ đóng góp tài năng, tiền bạc, đức độ,…nhưng là đóng góp chính “cái tôi toàn vẹn của mình”, cũng như đón nhận toàn vẹn cái tôi của ai khác. Ý nghĩa này cho ta thấy một sự khác biệt sâu xa giữa gia đình với các thứ cộng đồng hay cộng đoàn khác. Nơi xí nghiệp chẳng hạn, ta không đóng góp cái tôi toàn vẹn và người khác cũng không đón nhận toàn vẹn cái tôi của ta. Nơi đó người ta chỉ đóng góp công sức, tài năng…để nhận lại những gì lợi ích cho cái tôi riêng của mình; đó chỉ là những "cộng đồng chức năng"…Trên trần gian này, ở bình diện tự nhiên, chỉ có duy nhất gia đình mới có được phẩm tính của một “cộng đồng ngôi vị”.

Kitô giáo công bố một bình diện khác, bình diện siêu nhiên, nơi đây, bí tích Rửa tội, là giao ước nền tảng của đời sống đức tin, chính là thực tại nền tảng, Chúa Cha đã ban Con Một của Ngài để Chết/Phục Sinh cho con người, và người tín hữu thì chết đi cho con người cũ để sống cuộc đời như một con người mới. Giao ước siêu nhiên ấy tạo nên một cộng đồng ngôi vị để "thuộc về nhau". Mọi người Kitô hữu đều thuộc về nhau trong Giáo hội, và Giáo hội thuộc về Chúa Giêsu Kitô. Đức Giêsu Kitô và Giáo hội thuộc về nhau như Tân Lang với Tân Nương.

Điều chính yếu trong tình yêu Kitô giáo là xây dựng nên một "cộng đồng ngôi vị", nơi đó mỗi cá nhân "đóng góp" vào cộng đồng chính bản thân mình và đón nhận bản thân của ai khác; nơi đó, mỗi người chấp nhận đi vào cuộc phiêu lưu sống-với ai khác trên một hành trình đầy biến động thăng trầm của lịch sử. Nói cách khác, tình yêu Kitô giáo đặt nền vững chắc trên sự thông hiệp "bản thân và cuộc đời", gần giống như một thứ “trao thân gửi phận” cho nhau (trao tặng bản thân và đồng hành trọn cả cuộc đời). Vì thế, ta có thể thấy "công thức yêu" Kitô giáo được diễn tả trong giao ước hôn nhân : tôi nhận anh/em làm chồng/vợ, và hứa giữ lòng chung thủy...".

Tình thương Kitô giáo xây dựng nên một sự hiệp thông "móng nền" chứ không phải chỉ là sự ăn khớp "kèo cột"; tương tự như anh em với nhau, dù có khác tính tính tình, cãi vã nhau thường xuyên, nhưng vẫn còn thông hiệp trong "móng nền", một giọt máu đào hơn ao nước lã". Trong khi tình nghĩa chúng ta với bạn bè, với "người ngoài" thì thiết yếu phải xây dựng trên sự ăn khớp của tính tình, của phương thức làm việc...mà thiếu nhưng yếu tố ấy thì "cộng đồng chức năng" sẽ sụp đổ.

Trong một "cộng đồng ngôi vị", người ta không được quyền đặt điều kiện tiên quyết về nhân cách, theo kiểu "con có ngoan thì mẹ mới nhận làm con"; nhưng chính người mẹ chân chính phải liên đới, liên lụy với đứa con để giúp nó thăng tiến nhân cách. Tương quan vợ chồng với nhau cũng vậy, anh chị em với nhau cũng vậy...,

Như thế, tình yêu của Thiên Chúa "đảm nhận" vấn đề nhân cách của người Kitô hữu chứ không phải đòi hỏi nhân cách tốt như điều kiện căn bản. Thiên Chúa chơi với con người không phải là một thứ chấm bài thi nhân cách, nhưng là thiết yêu là đảm nhận ngã vị, chữa trị nhân cách, và xét xử cũng chỉ là làm sáng tỏ thái độ của con người đối với hồng ân được đón nhận vào cộng đồng ngôi vị của Thiên Chúa.

2.4 Từ tôn trọng đến yêu thương

Với Kitô giáo, yêu thương là đón nhận ngã vị, nhưng không phải là "duy ngã độc tôn", mà luôn luôn là một ngã vị trong tương quan với một ngã vị khác, đó chính là cái nghèo-tôn-nghiêm căn bản và là tiếng kêu căn bản vươn tới lòng thương xót chân thực. Ngã vị bộc lộ khát vọng chân chính nhất, bằng một cách thức chân chính nhất, ngã vị khát khao lòng thương xót và chỉ có thể đáp ứng được khát vọng ấy bằng cách van xin lòng thương xót. Quả thật, những người mù, người què, người bị phong..., đến với đức Giêsu chỉ bằng lời cầu xin lòng thương xót (Xc. chẳng hạn Mt 15,22 : "Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi !"); và cung cách cầu nguyện để đụng đến lòng thương xót của Chúa chỉ có thể là dai dẳng và lì lợm (Xc. Lc 11; Lc 18).

Martino hỏi vặn cậu bé Pedro : Pedro ơi, cháu chỉ là một cậu bé da đen, làm sao Chúa có thể ở trong lòng cháu khi cháu đen đủi thế này ?

Pero trả lời : Bởi vì Người dựng nên chúng ta như vậy. Người muốn có người da trắng, có người da vàng, có ngừoi da đen và có người lai... Vì Chúa muốn dựng nên nhiều loại người khác nhau trên mặt đất, nên người cũng dựng nên nhiều nơi để họ ở. Người yêu quí hết mọi người, miễn là họ trở nên trong sạch và xứng đáng cho Người đến cư ngụ.

Martino mỉm cười thú vị xoa đầu đứa bé...

(Mary Fabyan Windeatt, Bác Sĩ Tí Hon, H/v Alberto 2011)

Khi chạm tới một ngã vị trần trụi, người ta có cơ may nghe được lời cầu khẩn thâm trầm nhất của một ngã vị, lời cầu khẩn "có ai chấp nhận bản thân và cuộc đời của tôi không ?" ...

Lòng thương xót, ở mức độ siêu hình căn bản của phận người, không phải chỉ là một tâm tình đối với "nỗi khổ (nhất thời) của ai đó" (lòng thương hại), nhưng là nhận ra "một ai đó chân thực qua nỗi khổ của người ấy". Lòng thương xót là khả năng đập phá tất cả những thứ "trang điểm", vượt qua lớp vỏ của cái thuộc chức năng để khám phá ra một ngã vị vốn tự bản chất là "nghèo-tôn nghiêm", để nhận ra "âm tính" của một ngã vị, vốn luôn cần được chấp nhận đơn thuần từ một ngã vị khác. Chính vì thế mà tình yêu không thể là sự trao đổi, nhưng thiết yếu phải là trao tặng. Cứu cánh của đời người là tìm về tình yêu, như một ân ban trong tự do của một ngã vị chứ không phải là một bài toán trao đổi công bằng; và điều gì là cứu cánh thì cũng là nguyên lý hướng dẫn hành động của con người. Trong ánh sáng mặc khải Kitô giáo, ta hiểu được cứu cánh Nước Tròi khởi đi từ một nguyên lý căn bản là lòng thương xót.

Nếu như lòng thương xót là phẩm tính cao quí nhất của Thiên Chúa, là sứ vụ chính yếu của Đức Giêsu (Lc 4, 4-22) thì mọi thứ tình yêu nơi con người đều phải được nối với nguồn mạch ấy và đều mang tính chất tương tự như thế :

“Vì lòng nhân từ là chiều kích không thể thiếu của tình yêu; nó như là danh hiệu thứ hai của tình yêu”.

Có phải không lòng thương xót Kitô giáo chính là nét duyên chân thật, lóng lánh, lung linh ẩn sau mọi cá tính, mọi tài năng, mọi thái độ luân lý của mỗi người ?

***

Có phải ta đang đi qua cuộc đời như một khách bàn quang ? chẳng thấy được những vết thương của cuộc đời đang rỉ máu ?

Có phải ta vẫn chễm trệ, an vị trong thế giới của riêng ta ?

Ta không hiểu cho nỗi đau bất công đang dằn vặt bao nhiêu người.

Biết đâu đó, ngay trong chính gia đình, trong chính cộng đoàn của ta vẫn có những vết thương bất công đang rỉ máu mà ta không nhìn thấy ?

Xin lòng thương xót Chúa mở mắt cho con nhìn thấy, nhìn thấy Chúa đang bị đóng đinh nơi anh chị em của con.

xem tiếp Phần 2