DIANE MONTAGNA PHỎNG VẤN EDWARD FESER VỀ VĂN KIỆN ‘DIGNITAS INFINITA’
DIANE MONTAGNA (DM): Dignitas Infinita mở đầu bằng việc khẳng định rằng: “Mỗi con người sở hữu một phẩm giá vô hạn, được đặt nền tảng bất khả xâm phạm trong chính bản thể của họ, luôn tồn tại bên trong và vượt lên trên mọi hoàn cảnh, trạng thái hay tình huống mà con người có thể gặp phải.” Tuy nhiên, Thánh Tôma Aquinô viết: “Chỉ có Thiên Chúa mới có phẩm giá vô hạn, và do đó chỉ có Ngài, trong thể xác mà Ngài mặc lấy, mới có thể chuộc tội một cách trọn vẹn cho con người.” (Solus autem Deus est infinitae digni- tatis, qui carne assumpta pro homine sufficienter satis- facere poterat.)
Tại buổi họp báo của Vatican giới thiệu bản Tuyên ngôn mới, Đức Hồng Y Victor Manuel Fernández lưu ý rằng cách diễn đạt “phẩm giá vô hạn” được lấy từ một bài phát biểu năm 1980 của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tại Osnabrück, Đức. Gioan Phaolô II đã nói: “Thiên Chúa đã cho chúng ta thấy qua Đức Giêsu Kitô một cách không thể vượt qua về việc Ngài yêu thương mỗi con người như thế nào, và từ đó ban cho người ấy phẩm giá vô hạn.”
Bản Tuyên ngôn mới dường như đặt nền tảng cho phẩm giá một cách rõ ràng trong tự nhiên, chứ không chỉ trong ân sủng. Vậy Bản Tuyên Ngôn có làm sụp đổ sự phân biệt giữa tự nhiên và siêu nhiên không?
EDWARD FESER (EF): Một trong những vấn đề với Dignitas Infinita, cùng với một số tài liệu khác được ban hành trong triều đại Giáo hoàng Phanxicô, là các thuật ngữ thần học trọng yếu không được sử dụng một cách chính xác. Phần lớn sức ảnh hưởng của các tuyên bố bắt nguồn từ sức mạnh tu từ của chúng hơn là từ lập luận cẩn thận. Vì vậy, người ta phải thận trọng khi cố gắng xác định điều gì hoàn toàn theo sau các tuyên bố này. Tuy nhiên, điều có thể nói là chính vì sự thiếu chính xác này mà có nguy cơ dẫn đến dường như cho phép một số kết luận gây tranh cãi. Sự xóa mờ ranh giới giữa tự nhiên và siêu nhiên là một ví dụ. Chẳng hạn, việc thực hiện viễn cảnh hạnh phúc rõ ràng sẽ mang lại cho con người phẩm giá cao nhất mà họ có khả năng. Do đó, nếu chúng ta nói rằng con người vốn dĩ, chứ không chỉ bởi ân sủng, có một “phẩm giá vô hạn”, thì điều đó dường như ngụ ý rằng bản chất của họ hướng đến viễn cảnh hạnh phúc.
Những người bảo vệ Bản Tuyên bố chắc chắn sẽ nhấn mạnh rằng chính tài liệu này không đưa ra một kết luận cực đoan như vậy. Và điều đó đúng. Tuy nhiên, vấn đề là chính xác những gì được và không được loại trừ bằng cách gán cho bản chất con người “phẩm giá vô hạn” không được dự đoán hoặc giải quyết trong Tuyên bố. Đồng thời, Bản Tuyên bố đặc biệt nhấn mạnh đến khái niệm này và các hệ quả căn bản của nó. Đây là một công thức để tạo ra các vấn đề, và chính tài liệu này đã tạo ra những vấn đề như vậy trong việc áp dụng khái niệm “phẩm giá vô hạn” cho án tử hình, cùng với các chủ đề khác. Ngoài ra, ý nghĩa của nhận xét năm 1980 của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã bị phóng đại quá mức. Ngài đề cập đến “phẩm giá vô hạn” một cách thoáng qua trong một bài phát biểu nhỏ, có trọng lượng huấn quyền thấp, dành cho một chủ đề khác. Ngài cũng không đưa ra bất kỳ kết luận mới lạ hoặc quan trọng nào từ đó. Đó là một nhận xét ứng khẩu hơn là một công thức chính xác, và Ngài đã không đưa nó ra trong quá trình cân nhắc tỉ mỉ việc trình bày giáo lý chính thức về bản chất của phẩm giá con người. Nhưng trong mọi trường hợp, Ngài không đặt nền tảng cho khái niệm về phẩm giá vô hạn này trong chính bản chất con người.
DM: Trong lịch sử, làm thế nào chúng ta đi từ khẳng định của Thánh Tôma rằng “Chỉ có Thiên Chúa mới có phẩm giá vô hạn” đến Bản Tuyên bố mới của DDF? Đây có phải là một sự lạm dụng lời của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II không?
EF: Có hai yếu tố then chốt ở đây. Một là sự dựa dẫm ngày càng tăng vào các khái niệm như con người, phẩm giá con người, và những khái niệm tương tự trong những thập niên vừa qua kể từ Công đồng Vatican II như là phương tiện để truyền tải giáo huấn luân lý Công Giáo cho thế giới thế tục. Không có gì sai về bản chất của các khái niệm này, nhưng khi được cân nhắc một cách độc lập, chúng mở ra nhiều cách diễn giải khác nhau. Các nhà tư tưởng thế tục chắc chắn không nhất thiết phải hiểu chúng theo cách Giáo hội hiểu, do đó, sự xuất hiện của một nền tảng chung có thể chỉ là ảo tưởng.
Khi các khái niệm này được đặt nền tảng chặt chẽ và được giảng giải dưới ánh sáng của truyền thống triết học và thần học Công Giáo được thể hiện bởi thánh Augustine, Tôma Aquinô và các tư tưởng tương tự, thì không có vấn đề gì. Nhưng thông thường, lối diễn giải về tính cách con người và phẩm giá có một đời sống riêng, được đẩy mạnh như một cách để cố gắng thuyết phục những người có thể sẽ ngoảnh mặt làm ngơ với những lời kêu gọi tuân theo luật tự nhiên hay thánh kinh. Và nó thường kết thúc bằng việc phản ánh một quan niệm về con người và phẩm giá của họ vốn mang nhiều ảnh hưởng từ Kant, đến khuynh hướng của triết học tự do hiện đại là xem việc áp đặt con người là điều ác tột cùng và xem tự quyết của họ là đỉnh cao của sự hoàn thiện bản thân. Khi đó, người Công Giáo có thể quá dễ dàng đọc những quan niệm hiện đại về phẩm giá cá nhân này vào lại Kinh thánh và truyền thống.
Điều này đưa chúng ta đến yếu tố then chốt thứ hai, đó là điều đáng chú ý trong những thập kỷ gần đây, bên trong các giới Công Giáo, là việc tử hình trở thành một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng. Luôn có một truyền thống trong Giáo Hội có khuynh hướng tiêu cực hơn đối với hình phạt tử hình, tồn tại song song với khuynh hướng tích cực hơn hướng tới nó. Chúng cân bằng lẫn nhau trong suốt tiến trình lịch sử, với một khuynh hướng chiếm ưu thế vào một số thời điểm và khuynh hướng khác tại những thời điểm khác. Nhưng quyền của nhà nước về nguyên tắc để áp dụng hình phạt này chưa bao giờ bị phủ nhận, vì nó có một nền tảng rõ ràng trong Kinh thánh và luật tự nhiên. Điều độc đáo trong thời hiện đại là xu hướng nhìn vấn đề dưới góc độ công lý hơn là lòng thương xót, như thể việc dùng đến tử hình là điều bất công (chứ không chỉ đơn thuần là thiếu lòng thương xót). Và điều đó phản ánh hùng biện ngày càng gia tăng về phẩm giá con người.
Vì vậy, những vấn đề này liên kết chặt chẽ với nhau và tương tác. Việc ngày càng dựa vào hùng biện về phẩm giá đã dẫn đến sự thù địch gia tăng trong giới Công Giáo đối với chính ý tưởng về tử hình, kể cả về nguyên tắc. Một phần động lực cho điều đó là mong muốn tìm kiếm một tầm nhìn luân lý chung với quan điểm thế tục phương Tây hiện đại. Nhưng sau đó, hùng biện chống lại án tử hình—thường đi quá xa— lại thúc đẩy một quan niệm còn phóng đại hơn về phẩm giá con người như một điều gì đó không thể đo lường được đến mức thực thi ngay cả những kẻ giết người đồi bại và nguy hiểm nhất bằng cách nào đó cũng là vô cùng sai trái (chứ không chỉ là thiếu lòng nhân từ).
Việc những khuynh hướng hùng biện song song này hiện đã dẫn đến điều dường như mâu thuẫn với Kinh thánh và giáo huấn uy tín nhất quán của hai thiên niên kỷ về đề tài tử hình cần trở thành một dấu hiệu cảnh báo rõ ràng rằng mọi thứ đã đi quá xa.
DM: Theo Dignitas Infinita, “phẩm giá bản thể” của mỗi con người là “vô hạn”. Bản Tuyên bố phân biệt khái niệm phẩm giá thành bốn cấp bậc và xác quyết: “Quan trọng nhất trong số đó là phẩm giá bản thể thuộc về con người như vậy chỉ đơn giản bởi người đó tồn tại, được mong muốn, được tạo dựng và yêu thương bởi Thiên Chúa. Phẩm giá bản thể là không thể xóa nhòa và duy trì hiệu lực vượt ra ngoài bất kỳ hoàn cảnh nào mà người đó có thể rơi vào.” [7] Dường như Bản Tuyên bố đang nói về một phẩm giá bắt nguồn từ tự nhiên. Theo quan điểm của ông, “phẩm giá bản thể” có nghĩa là gì trong Bản Tuyên bố?
EF: Nói về “phẩm giá bản thể” là để nhấn mạnh rằng có một loại phẩm giá không thể tách rời khỏi chính bản thể của chúng ta, hơn là từ các hành vi cụ thể mà ta thực hiện, địa vị xã hội ta đang có, hay điều kiện ta đang trải qua. Những loại phẩm giá khác có thể có hoặc không, tuy nhiên phẩm giá bản thể là điều không thể thay đổi.
Tính đến đây thì mọi thứ đều có lý. Đó là một sự thật quan trọng. Vấn đề nằm ở việc khẳng định phẩm giá này “vô hạn” theo nghĩa chặt chẽ hoặc nghĩa đen. Cụ thể, có hai vấn đề ở đây. Thứ nhất, phẩm giá vô hạn này được cho là thứ chúng ta sở hữu bởi chính bản chất của mình. Như tôi đã nói, được định hướng đến và sau đó đạt được viễn cảnh hạnh phúc sẽ mang lại cho chúng ta phẩm giá cao nhất mà mình có khả năng đạt tới. Nhưng chúng ta không có định hướng tự nhiên này, mà chỉ bởi ân sủng. Bởi ân sủng ta có thể vượt qua phẩm giá mà mình có bởi tự nhiên. Vậy, làm thế nào chúng ta đã có sẵn, chỉ bởi tự nhiên, một phẩm giá vô hạn?
Thứ hai, mặc dù chúng ta chỉ đang nói về phẩm giá mà chúng ta có theo bản chất chứ không phải bởi ân sủng, thì việc mô tả nó là vô hạn cũng không thể hoàn toàn chính xác. Chỉ có Thiên Chúa mới có hoặc có thể có phẩm giá bản thể vô hạn, vì những lý do tôi đã trình bày chi tiết trong bài viết về những vấn đề với Dignitas Infinita. Dignitas, ví dụ, truyền tải ý nghĩa “xứng đáng”, “tuyệt hảo”, “công trạng” hoặc “vinh dự”. Hãy thay thế từ “phẩm giá” bằng bất kỳ từ nào trong số những từ đó trong cụm từ “phẩm giá vô hạn” và tự hỏi liệu kết quả có thể được áp dụng cho con người hay không. Con người có “sự xứng đáng vô hạn”, “sự xuất sắc vô hạn” hay “công trạng vô hạn” chăng? Họ có xứng đáng với “vinh dự vô hạn” không? Rõ ràng là không, và nói như vậy sẽ là phạm thượng. Những mô tả đó chỉ áp dụng cho Thiên Chúa.
Hoặc xem xét những thuộc tính mà chúng ta thường coi là mang lại phẩm giá đặc biệt cho con người, chẳng hạn như quyền lực, lòng tốt, hoặc sự khôn ngoan. Con người có thể được nói là sở hữu “quyền lực vô hạn”, “lòng tốt vô hạn” hoặc “sự khôn ngoan vô hạn”? Rõ ràng là không, và một lần nữa, những điều này thực tế chỉ có thể nói về Thiên Chúa.
Cách tốt nhất để hiểu Dignitas Infinita sao cho phù hợp với truyền thống và nền thần học vững chắc là xem việc nói về “phẩm giá vô hạn” của chúng ta là một cách nói mang tính tu từ để nhấn mạnh rằng phẩm giá của chúng ta là bao la hay rộng lớn. Nhưng giờ vấn đề là cách diễn đạt này, được hiểu như vậy, sẽ không có hiệu quả mà Bản Tuyên bố muốn đạt tới. Vì cho dù chúng ta có “phẩm giá bao la” hay “phẩm giá rộng lớn”, phẩm giá đó vẫn sẽ có những giới hạn. Và do đó, chúng ta sẽ không còn cơ sở cho kết luận của Bản Tuyên bố rằng có một số điều bị phẩm giá của con người không cho phép “vượt qua mọi hoàn cảnh”, “trong mọi hoàn cảnh”, “bất kể hoàn cảnh”, v.v.
Do đó, mặc dù tạo ra một sự phân biệt quan trọng khi phân biệt “phẩm giá bản thể” với các loại phẩm giá khác, thật không may, Bản Tuyên bố nói chung vẫn còn thiếu chính xác và thiếu sự lập luận chặt chẽ. Sự phân biệt này không cách nào cứu nó khỏi những vấn đề mà tôi đã mô tả. Thật vậy, việc đặc biệt tập trung vào phẩm giá bản thể của chúng ta và rồi nói rằng phẩm giá đó vô hạn lại chỉ càng làm nổi bật lên những vấn đề.
DM: Tại buổi họp báo của Vatican, tôi đã hỏi Đức Hồng Y Fernández: “Nếu con người có phẩm giá vô hạn, làm sao họ có thể bị kết án chịu đau khổ đời đời trong hỏa ngục?” Ngài trả lời rằng khả năng con người phải chịu đau khổ đời đời trong hỏa ngục được đặt nền tảng trên tự do của con người, và Thiên Chúa tôn trọng sự tự do của con người ngay cả trong trường hợp này. Nhưng nếu phẩm giá gần như vô hạn của con người được đặt nền tảng trên ân sủng, dường như phẩm giá đó chỉ tồn tại chừng nào chúng ta còn sống trong trạng thái dương thế hoặc đã qua đời và được cứu rỗi. Người chết trong tình trạng tội trọng thì có còn sở hữu phẩm giá đó (kể cả tiềm năng) hay không, vì họ không còn khả năng trở thành một phần trong Thân Mầu Nhiệm của Đức Kitô?
EF: Đây là một ví dụ điển hình cho trường hợp mà cách nói phóng đại về phẩm giá con người mang ý nghĩa tiềm ẩn có thể dẫn đến phá hoại đức tin. Phẩm giá mà chúng ta chỉ có bởi ân sủng chứ không bởi bản chất là phẩm giá mà chúng ta có thể mất, mở đường cho án phạt đời đời. Nhưng nếu chúng ta không chỉ có phẩm giá vô hạn, mà có nó bởi bản chất, làm sao chúng ta có thể bị kết án? Chẳng phải hệ quả tự nhiên của phẩm giá vô hạn này hẳn là ý chí không có khả năng dứt khoát chọn chống lại Thiên Chúa?
Tất nhiên, Đức Hồng Y Fernández không nói như vậy trong câu trả lời của ngài, và tôi cũng không khẳng định ngài thậm chí có ý nghĩ đó. Nhận xét của ngài về tự do dường như cho phép sự kết án là ít nhất có thể xảy ra. Nhưng vấn đề là cách nói khoa trương nhưng thiếu chính xác về “phẩm giá vô hạn” rất dễ bị hiểu theo hướng ngược lại. Nó mở cánh cửa cho đủ loại phá phách giáo lý.
Cách giải quyết ở đây, như mọi khi trong lịch sử Giáo Hội, là kiểm tra những công thức mới so với Kinh Thánh, các Giáo Phụ, các tiến sĩ Giáo Hội, giáo huấn của các Đấng Giáo Hoàng tiền nhiệm, và truyền thống nói chung. Đây là điều được các nhà lý luận lớn về sự phát triển giáo lý nhấn mạnh - đó là Thánh Vincent xứ Lérins và Thánh John Henry Newman, và nó cũng chính là ý nghĩa của thông diễn tính liên tục của Đức Giáo Hoàng Benedict XVI. Khi đối mặt với những công thức hoặc kết luận mới lạ, chúng ta cần tự hỏi: “Điều này phù hợp với truyền thống như thế nào?” Vấn đề là ngày nay có quá nhiều người Công Giáo lại làm ngược lại. Thực tế, họ hỏi: “Làm thế nào chúng ta có thể diễn giải Kinh thánh và truyền thống theo cách khiến chúng tuân theo công thức hoặc kết luận mới lạ nào đó?” Hệ quả điều khiển căn nguyên.
DM: Nhà triết học người Anh, Elizabeth Anscombe (1919-2001), từng viết: “Coi ai đó xứng đáng phải chết chắc chắn là coi người đó không chỉ là một người đơn thuần mà là người được phú cho phẩm giá thuộc về con người, như có ý chí tự do và chịu trách nhiệm về hành động của mình... Tử hình, cho dù bạn có lý do để phản đối nó, thì bản thân nó không phạm tội chống lại phẩm giá của người chịu án. Ít nhất người đó được cho là đang trả giá cho tội mà họ bị kết án bởi một quy trình đúng luật.” Lập luận của Đức Hồng Y Fernández về án phạt đời đời [trong hoả ngục] chẳng phải cũng là một sự biện hộ xuất sắc cho tử hình đặt nền tảng chính xác trên phẩm giá con người hay sao?
EF: Quan điểm mà bạn trích dẫn từ Anscombe là điều mà mọi người Công giáo từng biết về án tử hình cho đến rất gần đây. Điều đó bao gồm, nhân tiện, cả Jacques Maritain, người được trích dẫn trong Dignitas Infinita và có liên hệ với chủ nghĩa nhân vị. Ông cũng đóng góp vào Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc, mà Bản Tuyên Ngôn mới của DDF ca ngợi. Trong cuốn sách Three Reformers (Ba Nhà Cải Chế), Maritain nói rằng “việc trừng phạt bằng cái chết, bằng cách cho người đó cơ hội phục hồi trật tự của lý trí trong chính mình bằng một hành vi hoán cải hướng tới Mục Đích Sau Cùng, chính là cho phép người ấy phục hồi phẩm giá của mình trong tư cách một con người”.
Ý tưởng rằng án tử hình thực sự có thể là một sự khẳng định phẩm giá con người thật ra bắt nguồn từ sách Sáng Thế 9:6, vốn dạy rằng chính vì con người được tạo theo hình ảnh Thiên Chúa mà những ai tước đoạt mạng sống vô tội đáng phải chết. Giáo hội đã hiểu đoạn văn đó theo cách này trong hai thiên niên kỷ. Tuy nhiên một số người ngày nay, theo cách gợi nhớ đến Sự Thật của Orwell, thật sự đã gợi ý rằng đoạn văn không chỉ không khẳng định án tử hình mà còn lên án nó! Điều này thật điên rồ.
Có một mối liên hệ giữa vấn đề án tử hình và giáo lý về Hỏa Ngục. Nếu việc lạm dụng tự do của chúng ta có thể dẫn đến án phạt đời đời, thì chắc chắn nó cũng có thể dẫn đến tính hợp pháp của hình phạt nhẹ hơn nhiều là hành quyết. Nhưng lập luận này có thể dễ dàng bị đảo ngược. Nếu án tử hình chống lại phẩm giá của chúng ta, thì làm thế nào mà hình phạt tồi tệ hơn nhiều là Hỏa Ngục lại không chống lại phẩm giá của chúng ta? Hai giáo lý này chung cuộc được giữ vững hoặc sụp đổ cùng nhau.
Đây là lý do tại sao bản thân tôi đã cảnh báo trong nhiều năm về mối nguy hiểm của thái quá trong cách diễn đạt khi muốn xoá bỏ đề tài tử hình. Các nhà phê bình thường xuyên buộc tội tôi khát máu, như thể mối quan tâm của tôi là cố gắng tìm cách giết người. Đây là một lời vu khống lố bịch và hoàn toàn phớt lờ những gì tôi đã thực sự nói. Vấn đề là việc lên án án tử hình bằng những ngôn từ cực đoan nhất, như luôn luôn và vốn dĩ phi luân lý, có những ngụ ý giáo lý rất cực đoan - đối với tính vô ngộ của Kinh thánh, độ tin cậy của huấn quyền trong quá khứ, học thuyết về Hỏa Ngục v.v.
Những người theo chủ nghĩa hiện đại biết rõ điều này. Đối với họ, quan điểm cực đoan về việc xoá bỏ [án tử hình] luôn là một cái nêm nhỏ dẫn đầu, một sự chuẩn bị cho những sửa đổi giáo lý xa hơn. Và quá nhiều người Công giáo chính thống đồng thuận vì, ở phương Tây, án tử hình trên thực tế phần lớn là một vấn đề đã chết (xin thứ lỗi cho cách chơi chữ) bên ngoài Hoa Kỳ. Mọi người đi theo gợi ý khờ dại rằng đó chỉ là vấn đề chính trị của Mỹ hoặc đại loại thế, làm ngơ trước những ngụ ý giáo lý cực đoan. Và họ biết, trong mọi trường hợp, nói quá nhiều về việc này sẽ khiến người ta có cớ để buộc tội máu. Lời buộc tội này suy xét nghiêm túc về mặt trí thức thì không đúng, nhưng về mặt hùng biện thì rất mạnh trong việc bịt miệng tranh luận.
DM: Ông là một chuyên gia về giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo về án tử hình và là đồng tác giả của cuốn sách By Man Shall His Blood Be Shed: A Catholic Defense of Capital Punishment (Máu Người Nào Sẽ Phải Đổ Ra: Một Biện Hộ Công Giáo cho Án Tử Hình). Làm thế nào giáo huấn của tài liệu mới nhất, và thực sự cả phát biểu của Đức Giáo Hoàng Phanxicô được trích dẫn trong đoạn mới trong Sách Giáo Lý, lại không phải là dị giáo?
EF: Người ta phải rất cẩn thận với từ “dị giáo”, bởi vì nó đã được dùng theo những cách khác nhau trong truyền thống, và vì nó có những hàm ý nghiêm trọng trong giáo luật. Trong giáo luật hiện đại, “dị giáo” là một vấn đề liên quan đến việc ngoan cố phủ nhận hoặc nghi ngờ một số tín điều của đức tin. Nhưng cũng cần phân biệt giữa dị giáo bề ngoài và dị giáo thực sự. Một người có thể tin cái gì đó là dị giáo bề ngoài chừng nào nó xung đột với một số tín điều của đức tin, nhưng người đó không nhận ra điều ấy. Người đó sẽ là kẻ dị giáo thực sự nếu, ví dụ, họ bị các thẩm quyền của Giáo Hội cảnh báo rằng quan điểm của họ có nội dung dị giáo và người đó vẫn ngoan cố giữ vững nó. Chỉ khi ai là kẻ dị giáo thực sự thì mới bị áp dụng hình phạt tuyệt thông theo giáo luật. Nhưng cũng có sự phức tạp ở chỗ không phải mọi điều Giáo Hội dạy đều được tính là tín điều của đức tin. Thường thì chúng ta phải tán thành kể cả những giáo huấn không vô ngộ, nhưng chối bỏ sự tán thành với các giáo huấn đó không làm cho người ta thành kẻ dị giáo, chính xác là vì các giáo huấn không vô ngộ không phải là các tín điều.
Bây giờ, cho dù những giáo huấn vô ngộ có được quan tâm, câu hỏi liệu chúng ta có đang xử lý với một tín điều theo nghĩa thích đáng hay không có thể khá phức tạp. Các ví dụ tiêu chuẩn về tín điều là những giáo huấn đã được chính thức định nghĩa như vậy, ví dụ như bởi một Công Đồng Đại Kết của Giáo Hội. Nhưng có rất nhiều điều Giáo Hội dạy rõ ràng là được dạy cách vô ngộ nhưng chưa được định nghĩa theo cách chính thức đó. Án tử hình có thể hợp pháp ít nhất theo nguyên tắc là một ví dụ cho điều đó. Trong nhiều văn bản, gồm cả cuốn sách về chủ đề này mà tôi đồng tác giả với nhà khoa học chính trị Joseph Bessette, tôi đã trình bày bằng chứng cho thấy đây rõ ràng là một giáo huấn không thể thay đổi, căn cứ vào những gì Kinh Thánh, các Giáo Phụ, và các Giáo Hoàng trước đã nói về nó. Nhưng không có tuyên bố của một công đồng đại kết, hoặc là của một vị Giáo Hoàng theo hình thức ex cathedra, nào nói như vậy. Nó, giống như rất nhiều điều Giáo Hội dạy, đơn thuần là một hàm ý logic hiển nhiên của những gì được dạy bởi những nguồn giáo lý được cho là vô ngộ của Giáo Hội (như Kinh Thánh).
Ngày nay, có một ý nghĩa cũ hơn của từ “dị giáo” lỏng lẻo hơn và đề cập đến bất kỳ sai lầm nào xung đột với Kinh Thánh hay giáo huấn truyền thống nhất quán của Giáo Hội, cho dù nó chưa được định nghĩa chính thức. Nhưng tôi nghĩ rằng, vì những hiểu lầm tiềm ẩn và các suy luận sai lệch mà cách dùng cũ này có thể gợi lên, tốt hơn và ít gây hiểu lầm hơn nếu chỉ nói đến việc liệu một phát biểu giáo lý nào đó có phải là “sai lầm” hay không. Và các phát biểu giáo lý sai lầm, mặc dù cực kỳ hiếm hoi trong lịch sử, có thể xảy ra khi một Giáo Hoàng không định nghĩa điều gì cách ex cathedra.
Thế mà, Giáo Hội trong quá khứ, gồm cả các Giáo Hoàng trước từng đề cập đến vấn đề, đã nhất quán cho rằng lên án án tử hình như luôn luôn và vốn dĩ sai là một sai lầm. Ví dụ, Thánh Giáo Hoàng Innocent I dạy rằng lên án án tử hình một cách tuyệt đối sẽ mâu thuẫn với Kinh Thánh. Và Giáo Hoàng Innocent III yêu cầu những kẻ theo dị giáo Waldensian chối bỏ sự lên án của họ đối với án tử hình, như một điều kiện để họ được hoà giải với Giáo Hội. Bây giờ nói rằng án tử hình vốn dĩ sai là nói rằng rốt cuộc những kẻ dị giáo ấy đã đúng, còn Giáo Hội thì sai. Nếu chúng ta định nói như vậy, những dị giáo nào khác lại là điều chúng ta nên xem xét lại? Như anh có thể thấy, những hàm ý của việc lên án án tử hình như vốn dĩ sai là rất cực đoan.
DM: Cùng ngày Dignitas Infinita được phát hành, quốc hội Pháp đã bỏ phiếu để biến phá thai thành một quyền hiến định. Nhiều người ở Châu Âu và ở những nơi khác đã hoan nghênh bản tuyên bố lên án phá thai, lý thuyết giới, và mang thai hộ. Ông nói gì đặc biệt với những người Công Giáo cho rằng chúng ta nên đơn giản chào đón những gì tốt trong Bản Tuyên bố mới của Vatican.
EF: Giả sử ai đó bỏ công lớn để chuẩn bị cho bạn một bữa tối bít tết sang trọng, nhưng bạn phát hiện ra rằng thịt anh ta dùng đã bị nhiễm, mà anh ta không biết. Tất nhiên, bạn sẽ không muốn ăn nó, hoặc nhiều nhất có thể chỉ ăn một chút xíu, hoặc chỉ ăn các món ăn kèm với nó. Anh ta có thể giận và phàn nàn về sự vô ơn của bạn, than thở anh ta đã bỏ biết bao công sức vào bữa ăn và các thứ nguyên liệu nói chung tốt như thế nào. Nhưng tất nhiên, điều đó không khiến việc bạn từ chối ăn trở nên phi lý. Dù ý định của người nấu là gì đi nữa, và dù người này đã nấu bữa ăn khéo léo thế nào, món ăn vẫn sẽ làm bạn đau bệnh nếu bạn ăn nó.
Tương tự, có nhiều điều tốt đẹp trong Bản Tuyên Ngôn mới, và thậm chí một số điều can đảm và rất cần thiết, như giáo huấn của nó về mang thai hộ và lý thuyết giới. Nhưng điều đó không thay đổi sự thật là cách diễn đạt thiếu chính xác và cực đoan về phẩm giá con người cũng như kết luận mới cực đoan về án tử hình mà Bản Tuyên Ngôn rút ra từ cách diễn đạt này có vấn đề lớn. Về lâu dài chúng sẽ gây hại, cho dù trong ngắn hạn phần nói về lý thuyết giới và đại loại thế có thể là tốt.
Nguồn: https://www.thecatholicthing.org/2024/05/04/ diane-montagna-interviews-edward-feser-on-dignitas-infinita/