ĐỨC MẾN TRONG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN - Phần 1
Muốn củng cố sức mạnh của một con người, người ta có thể trao cho người ấy một thứ vũ khí mạnh để có thể trấn áp người khác; hoặc trao cho người khác đồng tiền để có thể mua chuộc mọi thứ; hoặc trao cho người khác những mối liên hệ thuận lợi theo kiểu “nhất thân nhì thế”… Nhưng có lẽ điều ta có thể làm cho một người nào đó có được sức mạnh vô địch, nói một cách triết lý, đó là trao cho con người một ý nghĩa. Hai người cùng thể trạng, cùng đạp xe đạp trên một quãng đường bằng nhau, nhưng một người đạp xe bất đắc dĩ, còn một người tha thiết muốn tập để trở thành một tay đua xe… thì chắc chắn người tìm thấy được ý nghĩa cho công việc làm của mình sẽ là người tiến bộ nhanh hơn, đạp mau hơn rất nhiều. Ngược lại, người không tìm được ý nghĩa cho việc làm của mình sẽ tự làm yếu nhược chính sức sống của mình bằng thái độ tiêu cực. Đó chính là bi kịch Sysiphe được diễn tả trong thần thoại Hy lạp. Hành trình của kẻ không ý nghĩa có thể bị sụp đổ có khi chỉ vì một trục trặc nhỏ trên đường đời. Ta có thể thấy cùng một nguyên tắc đó trên tất cả mọi lãnh vực của cuộc đời con người, đặc biệt trong những lãnh vực dài hơi.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
1. Đức Mến, nguyên lý của sự sống
1a. “Sự sống” chân thật
* Con người và hạt nhân ý nghĩa
Muốn củng cố sức mạnh của một con người, người ta có thể trao cho người ấy một thứ vũ khí mạnh để có thể trấn áp người khác; hoặc trao cho người khác đồng tiền để có thể mua chuộc mọi thứ; hoặc trao cho người khác những mối liên hệ thuận lợi theo kiểu “nhất thân nhì thế”… Nhưng có lẽ điều ta có thể làm cho một người nào đó có được sức mạnh vô địch, nói một cách triết lý, đó là trao cho con người một ý nghĩa. Hai người cùng thể trạng, cùng đạp xe đạp trên một quãng đường bằng nhau, nhưng một người đạp xe bất đắc dĩ, còn một người tha thiết muốn tập để trở thành một tay đua xe… thì chắc chắn người tìm thấy được ý nghĩa cho công việc làm của mình sẽ là người tiến bộ nhanh hơn, đạp mau hơn rất nhiều. Ngược lại, người không tìm được ý nghĩa cho việc làm của mình sẽ tự làm yếu nhược chính sức sống của mình bằng thái độ tiêu cực. Đó chính là bi kịch Sysiphe được diễn tả trong thần thoại Hy lạp. Hành trình của kẻ không ý nghĩa có thể bị sụp đổ có khi chỉ vì một trục trặc nhỏ trên đường đời. Ta có thể thấy cùng một nguyên tắc đó trên tất cả mọi lãnh vực của cuộc đời con người, đặc biệt trong những lãnh vực dài hơi.
Con người mạnh hơn con vật, dĩ nhiên không phải là bằng bắp thịt, mà có lẽ cũng không phải chỉ bằng trí khôn. Trong bản năng, sức lực của con vật có được một sự thống nhất vì một mục đích duy nhất, đó là bảo vệ sự sống của mình bằng bất cứ giá nào. Cũng gần giống như vậy, trí khôn con người và cả thể xác con người, chỉ có thể được thống nhất, được quy tụ lại trong một ý nghĩa của cuộc đời. Tìm thấy ý nghĩa duy nhất của cuộc đời, con người tìm thấy được sức mạnh của toàn thể, sức mạnh của những tiềm lực có thể bị dấu kín trong nhiều tầng sâu của bản thân. Ý nghĩa đời người, đó là một “hạt nhân” có khả năng tập trung, thống nhất con người, và cung cấp sức mạnh thật sự cho hành trình phức tạp của đời sống con người.
Nhưng chúng ta có thể đặt vấn đề kỹ lưỡng hơn một chút : con người cũng có thể có nhiều loại ý nghĩa trong cuộc đời : ý nghĩa một việc làm, ý nghĩa một ơn gọi, ý nghĩa một sáng tác nghệ thuật…; thế thì đâu là ý nghĩa thật sự mạnh hơn cả trong con người ? Chúng ta có thể trả lời rằng chính tình yêu là loại ý nghĩa sâu xa và mạnh mẽ hơn tất cả. Tình yêu là một nguồn mạch sức sống phong phú vô tận; tình yêu là nguồn mạch của nghệ thuật, của giá trị nhân văn, nguồn mạch của biết bao hoạt động kinh tế… trong cuộc sống. Thi sĩ Virgile, trong tập Bucolica nói rằng : “Omnia vincit amor” (tình yêu vượt thắng tất cả); và ông còn thêm : “Et nos cedamus amori” (và cả chúng ta hãy khuất phục trước tình yêu).
Trong sách Diễm Ca, chúng ta đọc được một lời ca tụng sức mạnh của tình yêu :
“Phải, tình yêu mãnh liệt như tử thần,
cơn đam mê dữ dội như âm phủ.
Lửa tình là ngọn lửa bừng cháy,
một ngọn lửa thần thiêng
Nước lũ không dập tắt nổi tình yêu,
sóng cồn chẳng tài nào vùi lấp.
Ai đem hết gia tài sự nghiệp mà đổi lấy tình yêu,
ắt sẽ bị người đời khinh dể.” (Dc 8,6-7)
* Sự sống toàn diện
- Khi ta ra đường, gặp những tình huống khó chịu ở nơi công cộng, đụng chạm và tranh cãi, … ta về nhà, buồn giận, càu nhàu, bực tức, và nhiều khi “giận cá chém thớt”… Đó cũng là sống, nhưng là một sự sống vụn vặt, rời rạc. Sự sống ấy không có một mạch sống liên tục, sự sống ấy không có đủ sức mạnh để vươn lên và tuôn trào, sự sống ấy quá mềm yếu mà một chút chuyện ngoài đường cũng có thể xâu xé được.
- Có khi ta xem phim, gặp thấy những con người “trợ lý giám đốc”, xum xoe trước mặt giám đốc, dạ dạ vâng vâng, xoa tay xoa chân,… mà không có một bản lãnh hay một lập trường độc lập nào. Người ta gọi đó là những kẻ “bợ đít”. Đó cũng là hình tượng của những quan thái giám ngày xưa trong cung đình. Sự sống ấy là sự sống không có “xương”, không có đủ “gân cốt” để đứng trên đôi chân của mình; đó là sự sống “bị thiến”, sự sống “công công”.
- Có khi ta thấy những bạn trẻ, hùa nhau để ăn chơi, hùa nhau để đua xe, hùa nhau để phá làng phá xóm… Nhưng thật ra, trong cả nhóm chỉ có một anh mạnh miệng, chỉ có một anh nắm đầu và lôi kéo tất cả… Ta thấy nơi đó cả một đám đông đoàn lũ, sống theo đuôi người khác. Đây lại là thứ sự sống dựa dẫm, không dám quyết định và bày tỏ chính cảm nhận, chính suy nghĩ của mình; những người ấy chỉ biết nói theo, làm theo, ăn theo, chơi theo những kẻ mạnh miệng.
- Có khi ta thấy những con người luôn sống trong nỗi sợ, những nỗi sợ vụn vặt, sợ đủ mọi thứ chuyện : sợ người này giận, sợ người kia la mắng, sợ buổi lễ không đúng ý người khác, sợ bị hiểu lầm… Đó cũng là sự sống, nhưng là sự sống yếu ớt, èo uột, biểu lộ một nhân cách dúm dó.
- Có khi ta thấy một người đàn ông thành công trong nhiều việc, có công danh, có sự nghiệp, có khi lại còn đầy uy tín ngời xã hội… nhưng lại có một sự tỷ mỷ đáng thương, khiến cho những người trong gia đình không thể chịu nổi; ông ta xăm soi từng việc tỷ mỷ, nhớ dai từng lỗi lầm, trì chiết từng khuyết điểm nhỏ… Đó cũng là sự sống, nhưng là một sự sống nghèo nàn, khô héo…
Tất cả mọi hình thức của sự sống ấy đều như hướng tới một cách giải quyết một vài vấn đề nào đó xẩy ra trong cuộc đời; và có vẻ những cách giải quyết ấy cũng có được một sự thành công nào đó : bảo vệ được “cái ghế” của mình, khỏi bị rắc rối trong mối tương quan với bạn bè, bảo vệ cho đời sống được ổn thoả trong từng chi tiết… Nhưng những hình thức sống ấy lại bộc lộ có một khiếm khuyết khác, mà chính yếu là bộc lộ ra một trọng tâm trống rỗng, hoặc một trọng tâm yếu nhược, không đủ sức tiếp thu, không đủ khả năng ôm trọn lấy hành trình cuộc đời. Điều đó hé lộ cho thấy bản chất một cuộc sống thiếu ý nghĩa chân chính đích thực.
Con người là một thực tại hết sức phức tạp, không chỉ phức tạp trong cơ thể, nhưng trên hết là một sự phức tạp do tinh thần; đến độ khi ta trao cho con người bất cứ điều gì, tốt hay xấu, thì đều có thể đưa đến những kết quả “bất ngờ”; nghĩa là có thể đưa đến những kết quả tốt mà cũng hoàn toàn có thể đưa đến kết quả xấu. Đồng tiền, ngôi nhà, tình bạn, tài năng… đều có thể hoặc tốt hoặc xấu; tốt cho người này mà lại xấu cho người khác, tốt trong hoàn cảnh nào, nhưng lại xấu trong hoàn cảnh khác… Do đó, ta có thể nói thách đố chính yếu của cuộc sống con người chính là thách đố của sự hàm hồ. Hoặc nói cách khác, trách nhiệm lớn nhất của con người là tìm được một ý nghĩa chân chính, ý nghĩa duy nhất cho trọn cuộc đời mình. Con người cần một sự sống toàn diện, nghĩa là cần một nguyên lý sống chân thật có khả năng thống nhất và làm phong phú trọn vẹn cuộc sống của mình.
* Yêu và sống
Như sức mạnh của con vật được thống nhất trong bản năng bảo vệ sự sống, thì chính tình yêu nơi con người mới có khả năng thống nhất tất cả cuộc sống của con người trong một sức mạnh căn bản. Tuy nhiên, bản năng sinh tồn của con vật là sự thống nhất để bảo vệ cho chính nó; trong khi đó, tình yêu nơi con người lại là một sự thống nhất hướng tới ai khác. Đó là khác biệt lớn giữa con người với con vật; hoặc ta cũng có thể nói đó là khác biệt căn bản giữa sự sống của con người với con vật, vì đó là sự khác biệt trên bình diện ý nghĩa, thứ ý nghĩa mà chỉ con người có tự do và tình yêu mới có thể sống được. Khi yêu và yêu chân chính, người ta được thôi thúc từ chính bản thân mình, để gom góp toàn vẹn bản thân mình mà trao ban trọn vẹn bản thân mình cho ai khác. Đó mới là tuyệt đỉnh của phẩm giá con người.
Yêu không phải là một chút trang trí hoa lá cành cho cuộc sống, yêu không phải là món đồ chơi xa xỉ của đời sống con người; nhưng yêu là khả năng nối kết mọi thành phần của con người phức tạp để làm nên một ý nghĩa thống nhất xứng tầm của con người. Yêu không phải là điều thêm vào cho cuộc sống, nhưng yêu là chính ý nghĩa của sống; sống trọn vẹn là sống bằng tình yêu. Yêu là sự sống đích thực, sung mãn nhất của mức độ con người. Như thế, tình yêu có một giá trị như cửa ngõ mở ra trước siêu việt, như biên giới của tuyệt đối. Chính tình yêu mới là sức sống siêu việt của con người; và nhờ tình yêu, con người có thể vươn mình hướng đến tuyệt đối.
Người ta có thể thấy được một số chuyện “động trời”, nghĩa là đụng chạm đến được biên giới của tuyệt đối trong đời sống con người do sức mạnh của tình yêu : chẳng hạn những chuyện cảm động trong các vụ tai hoạ; chẳng hạn tinh thần của những người mẹ cả đời hy sinh cho con…
Tình yêu chính là nguyên lý làm cho đời sống con người được thống nhất và phát triển, cũng như là khát vọng sâu xa nhất của con người. Bởi vì cái gì là cứu cánh thì cũng là nguyên lý; và cái gì là nguyên lý thì cũng là cứu cánh. Nếu con người khao khát tình yêu như cứu cánh của đời mình, thì nguyên lý giúp con người đi đến cứu cánh đó cũng phải là sức mạnh của tình yêu; và nếu ta xác tín tình yêu là sức mạnh chính yếu của con người thì điều đó cũng mở ra chân trời của cứu cánh đời người, tức là một thế giới yêu thương đang chờ đợi.
1b. Thiên Chúa Yêu Thương, nguồn sự sống
* Tình yêu Thiên Chúa là nguồn sự sống
Đức Benedicto XVI mở đầu thông điệp “Tình Yêu Thiên Chúa” bằng những lời trích trong thư Gioan I : “Thiên Chúa là tình yêu; ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4,16); rồi ngài giải thích rằng điều thánh Gioan diễn tả “làm nên trọng tâm đức tin Kitô giáo… (…). Thêm nữa, cũng ngay trong câu đó, thánh Gioan đưa ra cho chúng ta một công thức tóm tắt đời sống Kitô hữu : “Chúng ta đã nhận biết và tin vào tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta” (số 1).
Quả thật, bản chất của tất cả đời sống đức tin Kitô giáo không là gì khác hơn chính là “đạo yêu thương”, và chính là tình yêu của Thiên Chúa. Điều đó làm cho đời sống đức tin thật sự là một điều gì rất đơn giản và thống nhất, tất cả chỉ có giới răn yêu thương :
"Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?" Đức Giê-su đáp : "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : " Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy." (Mt 22,36-40)
“Còn điều thứ hai, cũng giống điều răn ấy…”, điều Chúa Giêsu giải thích như thế cho thấy thật ra hai điều răn cũng chỉ là một, là một trong nội dung của giới răn của tình yêu, và là một trong nguồn mạch, vì tất cả chỉ phát xuất từ chính tình yêu của Thiên Chúa mà thôi. Tính chất “là một” của Cựu Ước như thế được hoàn tất trong nét căn bản nhất của Kitô giáo :
“Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”.(Ga 15,12-13)
Tuy thế, mặc dù Kitô giáo hết sức đơn giản như thế, nhưng cả lịch sử Giáo Hội vẫn không ngừng tìm cách thông hiểu mỗi ngày mỗi trọn vẹn hơn mà chẳng bao giờ có thể thấu được trọn vẹn. Giới luật yêu thương đơn giản như thế, nhưng lại bao hàm tất cả cuộc sống con người; cũng bởi vì tình thương là nguồn cội của tất cả sự sống con người. Thánh Phaolô cho chúng ta một bài ca Đức Mến tuyệt diệu (X. 1 Cr 13,1-13); nơi đó ngài quả quyết “…cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr 13,13). Rồi thánh Phaolô lại cho chúng ta thấy đức Mến được diễn tả trong nhiều khía cạnh của cuộc sống :
“Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”. (1 Cr 13, 4-8).
Quả thật, đức Mến tuy dễ mà khó, và tuy khó mà dễ. “Dễ” vì tự đáy lòng con người, ai cũng khao khát yêu thương, nhưng “khó” vì con người chẳng đủ sức đi trọn hành trình yêu thương. Cái “khó” ấy thật ra, trong Kitô giáo, đã Thiên Chúa “giải quyết” khi Ngài ban cho chúng ta chính tình yêu của Ngài trong Đức Giêsu, tình yêu lớn hơn mọi tình yêu; và cái “khó” ấy đã trở nên cái “dễ”. Những cái “dễ” này cũng không phải là dễ, vì nó luôn thôi thúc con người hy sinh chính bản thân mình theo như tình yêu của Chúa… Giáo Hội vẫn hiểu trọng tâm của đời sống đức tin là đức Mến, nhưng trong lịch sử, đời sống của Giáo Hội vẫn không ngừng giao động giữa “trọng tâm” và “ngoại biên”, nghĩa là lúc thì giữ đức Mến, nhưng lại không diễn tả được trọn vẹn trong đời sống; và có lúc thì tìm ra nhiều cách diễn tả đức Mến nhưng lại không còn bóng dáng thực sự của đức Mến. Hành trình đức Mến lúc nào cũng ở trạng thái vừa “đang đi” vừa “đã đến”; đã “đến” rồi nhưng vẫn cứ phải tiếp tục “đi”. Tâm trạng của người sống Đức Mến lúc nào cũng vừa bình an, vừa khao khát; bởi vì hơn hết mọi lãnh vực khác, chính nơi đức Mến, con người thể hiện trọn vẹn nhất bản chất của đời người.
* Đức Mến đòi hỏi sám hối
Như thế, đức Mến cũng đòi hỏi một sự sám hối không ngừng, sám hối không ngừng vì tình yêu thì không có giới hạn, không giới hạn trong mức độ và không giới hạn trong những chiều kích liên hệ. Hơn nữa sám hối không ngừng vì sám hối Kitô giáo là một sự sống mới, liên hệ tới một thực tại mới của đời sống : Nước Thiên Chúa : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần." (Mt 3,2). Việc sám hối này không chỉ có nghĩa là sửa đổi bản thân khỏi mọi tật xấu, nhưng nhằm tới sống sự phong phú khôn lường của Nước Thiên Chúa; và điều đó có nghĩa là sám hối mãi mãi, sám hối luôn luôn.
Nhiều người Kitô hữu chỉ đi xưng tội như là một cuộc tẩy rửa định kỳ, giống như người ta tắm rửa mỗi ngày một lần, hớt tóc mỗi tháng một lần, hoặc rửa xe hai tháng một lần. Sám hối chỉ như một cuộc tẩy rửa định kỳ như thế có thể làm cho người ta được bớt “cáu ghét”, bớt được tình trạng bết bùn trong tâm hồn, nhưng chắc chắn chưa phải là sám hối đích thực theo tinh thần Kitô giáo. Sám hối như thế chỉ là một thứ tẩy rửa bên ngoài chứ chưa phải là thay đổi bên trong. Nói cách khác, việc sám hối như thế chỉ mới là “xé áo” chứ chưa phải là “xé lòng” theo lời kêu gọi của ngôn sứ (x. Ge 2,13).
Một cách trọn vẹn hơn, sám hối chân thật bao hàm một sự thay đổi lối sống, nghĩa là không chỉ dừng lại hành vi ”định kỳ”, không chỉ gói gọn ý nghĩa sám hối trong một thời khắc nào đó (lúc xưng tội), trong một hành vi thêm vào lối sống cũ (đi xưng tội)… nhưng thay đổi chính lối sống của thói quen cũ, là biến cải chính lối sống quen thuộc hằng ngày để bước vào một hành trình mới. Việc sám hối này làm cho cuộc sống thoát khỏi những “dịp tội” thường gặp trên đường đời; đồng thời cũng gia tăng sức sống của niềm tin nhờ năng tham dự những sinh hoạt đạo đức… Chính quyết tâm thay đổi lối sống cho thấy một mức độ sâu xa hơn của lòng sám hối, một cung cách triệt để hơn trong việc dấn thân vào một nẻo được mới. Hành vi sám hối như thế có phần thực sự dính dáng đến chính bản thân của người sám hối chứ không phải chỉ là một hành vi phụ thêm của cuộc sống.
Tuy vậy, việc sám hối như một sự thay đổi lối sống thường vẫn chưa phải là một sự sám hối hoàn toàn của tinh thần Kitô giáo. Hành vi thay đổi đời sống của người kitô hữu nhiều khi vẫn không phải là một nhân đức đúng nghĩa, hay nói cách khác, vẫn chỉ là sống “nhân đức chịu vậy”; nghĩa là chấp nhận thay đổi đời sống một cách bất đắc dĩ, chấp nhận vì một sự ép buộc bên ngoài mà chính mình không ưa thích. Khi người ta không cảm được cái hay cái đẹp của nếp sống mới mà vẫn phải chấp nhận vì sợ, vì một sự ép buộc bên ngoài nào đó; khi người ta không tìm được một lòng thuận thảo với Nước Trời như chính giá trị thân thương của tâm hồn, thì việc thay đổi nếp sống vẫn chỉ là một dị vật trong đời sống tâm linh và không trổ sinh hoa trái phong phú được.
Nói tóm lại, với việc tẩy rửa định kỳ, hoặc thay đổi lối sống, người Kitô hữu vẫn chưa có được một sự sám hối vì lòng mến, mà chỉ có sám hối vì sợ; và vì thế, vẫn chưa thể là “sám hối vì Nước Trời”. Điều kiện để bước vào Vương Quốc của Thiên Chúa là : "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần." (Mt 3,2). Sám hối ở đây là một cuộc đảo ngược tinh thần, là một sự thay đổi tinh thần mới, thay đổi não trạng. Đó là một đời sống mới từ trong “nguyên lý” chứ không phải chỉ ở mức độ sửa đổi thích nghi. Đó là một cuộc sám hối bằng sức mạnh của Thần Khí Chúa, để được biến đổi từ chính “tinh thần” hay thần trí của con người.
Sám hối vì Nước Trời đã gần đến, nghĩa là từ bỏ những gì không thích hợp với Nước Chúa để sống thực tại Nước Chúa mỗi ngày mỗi sâu xa và mới mẻ hơn. Thực sự, con người, hoặc chính Giáo Hội lữ hành, vẫn chẳng bao giờ có thể hiểu trọn và sống trọn được thực tại Nước Chúa; đó là một hành trình “hun hút”. Trên hành trình ấy, Giáo Hội lữ hành của Chúa vẫn chưa thể nào thấy và sống được hết được nét phong phú của Nước Chúa. Thực tại Nước Chúa là một sự đảo ngược, đảo ngược về mọi mặt so với quan niệm bình thường của cuộc sống con người. Ta có thể nói đó là một sự đảo ngược mà con người không thể lường trước được, nếu như không để cho Thần Khí Chúa hướng dẫn. Tính cách đảo ngược ấy, ta có thể thấy tràn ngập trong từng đoạn, từng câu của sứ điệp Tân Ước mà người ta không thể nào kể ra hết được. Ta thử kể ra một vài thí dụ :
- Con Thiên Chúa sinh ra trong hang bò lừa;
- Đường lối cứu độ của Chúa Cha khác với đường lối của Satan;
- Bài giảng trên núi : luật trọn hảo của Nước Trời khác hẳn với luật cũ;
- Chọn lựa các tông đồ từ những người bình dân;
- Chúa yêu thương những người bé mọn, người tội lỗi và người ngoại giáo;
- Người làm đầu phải là người phục vụ;
- Người cuối hết sẽ nên đầu hết, người đầu hết sẽ nên cuối hết;
- Khi thết tiệc thì đừng mời những người quyền quí, những hãy mời những người nghèo;
- Những người từ Đông Tây Nam Bắc sẽ vào dự tiệc cưới; con cái trong nhà bị loại ra;
- Chúa bị xử án như người thua cuộc nhưng lại trở thành như quan án;
- Chúa chết ô nhục giữa các tên gian phi nhưng để thể hiện tình yêu như là Con Thiên Chúa . . .
Sám hối vì Nước Trời nghĩa là để cho Thần Khí Chúa đảo ngược không ngừng những lối hiểu, những cách ứng xử của con người thế gian, để mỗi lúc lại hiểu “à ra thế”; và mỗi lúc lại nghiệm thấy sự kỳ diệu của tình thương Thiên Chúa, thể hiện trong mầu nhiệm Nước Thiên Chúa. Hành trình đó chẳng bao giờ con người, chẳng bao giờ Giáo Hội Lữ Hành có thể an nghỉ như đã đạt đến đích. Quả thật, nội dung của Nước Trời mà Chúa Giêsu thiết lập là điều thế giới này không thể dung chứa hết được : “Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ : cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.” (Ga 21,25)
Khi người ta nỗ lực sống luân lý trong nguyên lý cũ, người ta có thể vươn lên một chút trong nẻo đường hoàn thiện bản thân, người ta có thể mang dáng vẻ một con người đạo đức, như gương mẫu cho thiên hạ… Nhưng người ta cũng luôn có thể nhận ra những giới hạn, những lỗ hổng, những nhược điểm, những thiên lệch của một thứ đạo đức của nỗ lực con người. Người ta có được một chút đạo đức thì lại dễ dàng an thân hoặc dưng dưng tự đắc một cách lố bịch; người ta có được một chút đạo đức thì lại dễ dàng khinh dể người tội lỗi; người có được một chút đạo đức thì lại lo bảo vệ “bàn tay sạch” của mình một cách vô trách nhiệm, nghĩa là từ chối dấn thân và liên lụy với những người đau khổ chung quanh mình; người ta có được một chút đạo đức ở khía cạnh này nhưng lại tệ hại ở khía cạnh khác. Hoa trái của đời sống luân lý trong nguyên lý cũ là những thứ hoa trái còn nhiều “chất độc hóa học” do sự can thiệp “nhân tạo” của con người.
Sám hối chân chính là sám hối để đón nhận Nước Trời. Hoa trái của thực tại Nước Trời không phải là chuyện con người có thể làm ra được. Hoa trái của Nước Trời chỉ có thể trổ sinh trong nguyên lý mới của Thần Khí, trong chất dĩnh dưỡng mới của những giá trị Nước Trời và trong tình yêu trọn vẹn của Chúa Giêsu.
1c. Đức Mến trong đời sống thánh hiến
* Gợi ý suy niệm
1. Có phải đời sống thánh hiến quá để ý đến những chuẩn mực (hướng tới ngoại biên) nên dễ đánh mất ý nghĩa yêu thương ?
2. Người sống đời sống thánh hiến có làm chứng được chút nào về nguyên lý yêu thương xuất phát từ Thiên Chúa?
* Gợi ý thực hành
1. Tôi tìm được lời nguyện tắt nào cho chủ đề hôm nay ?
2. Người sống đời sống thánh hiến cần bận tâm yêu nhiều hơn.
Chú thích:
[1] Trích lại trong Thông Điệp Thiên Chúa là Tình Yêu của đức Benedicto XVI, số 4.